Xu Hướng 2/2024 # Thuyết Minh Về Cây Lúa – Loại Cây Lương Thực Chủ Yếu Ở Nước Ta # Top 7 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Thuyết Minh Về Cây Lúa – Loại Cây Lương Thực Chủ Yếu Ở Nước Ta được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Tdhj.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Cây lúa là một trong năm loại cây lương thực chủ yếu của thế giới. Bên cạnh đó cây lúa cũng rất thân thuộc với bao thế hệ người Việt Nam, khi mà từ bắc chí nam nơi đâu cũng có những cánh đồng lúa xanh bát ngát, đúng như câu ca dao:

Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn

Cây lúa đã đi vào lòng người Việt Nam bằng chính những câu ca dao như thế đó, giản dị và gần gũi nhưng lại không kém phần tự hào khi mà Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu lúa gạo lớn nhất thế giới.

1/ Đặc điểm của cây lúa:

Cây lúa có chiều cao từ 1m-1,8m, với các phiến lá mỏng, hẹp khoảng 2-2,5cm và dài 50-100cm. Màu sắc của cây lúa tùy thuộc vào thời kì tăng trưởng và phát triển, khi mới gieo trồng thì có màu xanh, đến khi chin và thu hoạch thì lúa ngả sang màu vàng, tính thời điểm gieo hạt đến lúc thu hoạch thì mất khoảng 90-180 ngày tùy theo các giống lúa.

2/ Gieo trồng cây lúa như thế nào là đúng?

Với kinh nghiệm hàng ngàn năm trồng lúa thì ông cha ta đã đúc kết được những kinh nghiệm quý báu, mà muốn được một vụ mùa bội thu chúng ta không thể bỏ qua đó là “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”.

Nhất nước: đó là điều hiển nhiên bởi vì không có một loại cây trồng nào sống mà không cần đến nước cả, đặc biệt là cây lúa, bởi vì cây lúa sống trong những đồng ruộng ngập nước cho nên để cây lúa phát triển tốt nhất thì khi gieo trồng cần phải chú ý đến mực nước trong ruộng.

Nhì phân: phân bón cũng là một trong những yếu tố quan trọng giúp cho cây lúa phát triển tốt hơn, tuy nhiên cũng phải bón đúng giai đoạn và đúng loại phân thì cây lúa mới hấp thu tốt được.

Tam cần: cần cù là một trong những đức tính làm nên một vụ mùa bội thu, người nông dân phải dậy từ rất sớm trải qua “một nắng, hai sương” suốt 3-6 tháng thì mới có thể thu hoạch được những hạt lúa tròn đều và chắc mẫm, tạo ra những hạt gạo đầy dinh dưỡng và thơm ngon.

Tứ giống: và điều quan trọng cuối cùng đó là giống, phải chọn được giống lúa tốt thì mới có thể cho được năng suất tốt.

Gieo trồng cây lúa không lúa không phải là chuyện dễ dàng, một năm nước ta trồng từ 2-3 vụ lúa tùy theo khu vực, việc gieo trồng lúa trải qua 3 giai đoạn chính:

Giai đoạn ươm hạt và cấy mạ: trước khi được gieo xuống đất hạt lúa phải được ngâm trong nước khoảng 72h và cứ mỗi 24h là thay nước một lần, sau đó được đãi sạch vỏ và được ủ thêm 20-30h nữa trước khi được gieo xuống đất. Giai đoạn mạ sẽ kéo dài trong 40-60 ngày tùy theo vụ mùa, khi đó người nông dân phải ra đồng cấy lại mạ cho thẳng và đều hàng để cây lúa có không gian phát triển tốt hơn.

Giai đoạn tăng trưởng và phát triển: đây cũng là giai đoạn vất vả nhất trong việc trồng lúa, lúc này người nông dân phải ra đồng làm lúa, chăm lo lượng nước trong ruộng, đồng thời phải bón phân, làm sạch cỏ dại và dọn những ổ sâu, chuột hại lúa nhằm tạo điều kiện cho cây lúa phát triển tốt hơn.

Giai đoạn gặt: đây là giai đoạn được mong chờ nhất trong suốt vụ mùa nhưng cũng không kém phần vất vả, khi những cánh đồng lúa lúa đã ngả sang màu vàng và các bông lúa đã trĩu nặng hạt, thì từng tốp người nông dân lại hăng hái ra đồng gặt lúa, và cũng phải gặt nhanh vì nếu lúa chín quá thì hạt lúa sẽ rụng xuống đất đấy.

Lúa sau khi gặt xong sẽ được bó lại từng bó và cho vào máy tuốt lúa và xay ra những hạt gạo trắng ngần. Đồng thời các bác nông dân cũng phải ra đồng cày bừa cho đất bằng phẳng để chuẩn bị cho vụ tiếp theo.

3/ Vai trò của cây lúa:

Tuy chăm sóc cây lúa vất vả như vậy nhưng cây lúa lại mang đến cho chúng ta rất nhiều công dụng.

Lúa nước thì được sử dụng vào những bữa cơm hằng ngày, hoặc được xay ra thành bột để làm các loại bánh như bánh xèo, bánh bèo, bánh chuối. Lúa nếp thì được sử dụng cho các loại bánh truyền thống như bánh chưng, bánh tét, bánh ú, và được xay ra để là các loại bánh khác như bánh dày, bánh ít.

Lúa non thì được sử dụng để làm cốm.

Ngay cả thân cây lúa sau khi được lấy hạt thì cũng có công dụng rất hiệu quả, rơm thường được phơi khô để dự trữ hoặc là nhóm lửa, làm thức ăn cho gia súc, và có thể được dùng làm ổ cho gia súc gia cầm.Ngày nay, chúng ta lại còn phải triển thêm những sản phẩm thủ công mỹ nghệ có giá trị kinh tế.

Cây lúa đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống của mỗi dân Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung, vừa là nguồn lương thực chủ yếu hàng ngày vừa góp mặt ở những món bánh truyền thống. Nhiều công dụng là thế tuy nhiên chăm sóc cây lúa là một chuyện không hề dễ dàng vì thế chúng ta nên trân trọng từng hạt lúa hạt gạo vì đó là biết bao mồ hôi và công sức của người nông dân.

Bài Liên Quan:

Điều hướng bài viết

Thuyết Minh Về Cây Bút Bi Lớp 9

Những bài văn mẫu lớp 9: Thuyết minh về cây bút bi Thuyết minh về cây bút bi bài số 1

Đối với thế hệ học sinh những cây bút bi trở nên quen thuộc và không thể thiếu. Chiếc bút bi vai trò quan trọng giúp cho các bạn viết lên những nét chữ, viết nên tương lai tươi sáng.

Đối với học sinh ngồi trên ghế nhà trường thì sở hữu bút bi quen thuộc. Nếu không có bút bi thì học sinh sẽ không học được, không viết ra những bài văn, giải được những bài toán…. Ngoài ra rất nhiều người sử dụng bút bi, sở hữu và sử dụng cây bút bi là việc không thể thiếu.

Bút bi phát minh bởi nhà báo Hungari Lazo Biro vào 1930. Sau khi nghiên cứu, ông phát hiện ra được một loại mực in giấy nhanh khô, sau đó ông nghiên cứu và chế tạo ra một loại bút sử dụng loại mực riêng. Hiện nay Bút bi có nhiều loại như bút bi Thiên Long, bút bi Bến Nghé,… các loại đều có chung công dụng như nhau.

Bút bi được cấu tạo từ hai bộ phận vỏ bút và ruột bút.  Vỏ bút được làm bằng chất liệu nhựa, vỏ bút được thiết kế chắc chắn, đẹp, giúp cho bảo vệ được ruột bút ở bên trong. Vỏ bút có hình trụ, dài và tròn, độ dài từ 10-15 cm. Ở trên vỏ bút có dán tên nhà sản xuất, số lô sản xuất và màu sắc. Có một số loại bút bi dành cho trẻ em, để thu hút được sức dùng thì nhà sản xuất đã tạo những họa tiết thú vị như các con vật, hình siêu nhân…tạo cho các em thích thú khi sử dụng. Màu sắc vỏ bút đa dạng như xanh, đỏ, tím, vàng… phù hợp với nhu cầu màu sắc của các bạn trẻ.

Bộ phận ruột bút sẽ giúp chứa mực, giúp mực ra đều khi viết trên mặt giấy. Ruột bút thường được làm bằng nhựa, bên trong rỗng chứa mực. Ở một đầu có ngòi bút có viên bi nhỏ để tạo nên sự thông thoáng giúp mực ra đều hơn. Ở ruột bút gắn lò xo nhỏ đàn hồi để người viết điều chỉnh được bút trong quá trình đóng bút và mở bút. Ngoài ra thì bút bi còn có nắp bút, nấp bấm, nắp đậy.

Sử dụng bút bi rất dễ bạn chỉ cầm bấm nhẹ ở đầu bút là có thể viết được. Còn đối với dạng bút bi có nắp thì chỉ cần mở nắp ra là viết được.

Chiếc bút bi rất hữu ích và quan trọng đối với học sinh, người lao động trí óc. Bút bi viết lên những ước mơ của các cô cậu học trò. Bút bi kí nên những bản hợp đồng quan trọng, xây dựng mối quan hệ với nhau. Để sử dụng bút bi bền lâu dài, khi viết xong nên tắt bút, không ném linh tinh sẽ bị hỏng.

Chiếc bút bi đóng vai trò quan trọng với học sinh sinh viên, nó là người bạn đồng hành không thể thiếu giúp các em học tập tốt.

Thuyết minh về cây bút bi bài số 2

Con người xưa đã biết cách sử dụng tre, đá và lông chim, lông ngỗng để viết ra chữ. Cuộc sống hiện đại và để thuận tiện hơn khi viết lách, người ta phát minh ra bút bi. Cây bút bi tuy nhỏ bé nhưng rất quan trọng và giúp cách mạng hóa chữ viết.

Cây bút bi có nguồn gốc từ phương Tây, đến những năm cuối thế kỉ XIX, nhà báo người Hungary tên là Lazso Biro đã cải tiến cây bút này thành một loại bút có một ống mực và đầu viết có một viên bi lăn. Nhờ sự ma sát giữa viên bi và giấy mà mực được viết ra.  Năm 1887, ông nhận bằng sáng chế Anh quốc, cây bút bi được sử dụng rộng rãi, phổ biến cho đến cuộc sống ngày nay.

Bút bi đang có 2 loại: bút dùng một lần và bút dùng để bơm mực nhiều lần. Nhưng phần lớn chúng ta hay dùng loại bút dùng một lần. Loại bút này có hai phần: ruột bút và vỏ bút. Phần ruột bút ống nhựa mềm hoặc cứng chứa mực đặc. Một đầu của ống mực gắn ngòi bút. Ngòi bút bi thường làm bằng kim loại có đầu nhọn hở một lỗ nhỏ có gắn viên bi đường kính từ 0,7 – 1mm. Nhờ sự ma sát của viên bi mực bám trên viên bi mà chúng ta có thể viết được.

Phần vỏ bút thường làm bằng nhựa cứng hay kim loại quý, vỏ được thiết kế với phần đầu có cái núm bấm lên xuống. Khi cần dùng, ta chỉ cần bấm ở đầu ngòi bút, ngòi bút sẽ lộ ra để viết, khi không viết nữa, ta chỉ cần bấm thêm 1 lần nữa. Ruột của loại bút này làm bằng nhựa hay kim loại, cấu tạo vỏ thì không khác loại bút dùng một lần.

Bút bi có nhiều loại, mẫu mã, màu sắc khá đa dạng. Một số bút của các hãng Thiên Long, Bến Nghé khá uy tín. Giá một cây bút bi trung bình đạt từ 1500 – 4000 đồng một cây. Một số loại bút trang trí hoặc để làm quà tặng thì có giá cao hơn.

Để bảo quản dùng lâu dài mỗi lần viết xong ta phải đậy nắp lại. Nếu bút bị tắc mực, ta có thể dốc ngược bút xuống để mực chảy phía đầu. Nếu như lâu ngày bạn không sử dụng thì bút dễ bị khô mực, ta có thể ngâm ruột bút trong nước ấm độ 15 phút bút sẽ hết khô mực và viết được. Bút bi có sử dụng lâu dài được hay không là do người sử dụng.

Cây bút bi thật sự là phát minh to lớn của nhân loại. Bút bi bạn đồng hành với học sinh. Bút bi ngày nay dù có nhiều cải tiến, thêm nhiều chức năng khác nhau nhưng nhìn chung công dụng chính vẫn không thay đổi.

Bài Liên Quan:

Điều hướng bài viết

Top 14 Bài Thuyết Minh Về Cây Tre Việt Nam Mới Nhất

1. Mở bài:

Giới thiệu khái quát về mối quan hệ và công dụng thiết thực của cây tre với người dân Việt Nam.

2. Thân bài

a. Nguồn gốc

Cây tre đã có từ lâu đời, gắn bó với người dân Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử.

Tre xuất hiện cùng bản làng trên khắp đất Việt, đồng bằng hay miền núi…

b. Các loại tre

Tre có nhiều loại: tre Đồng Nai, nứa, mai, vầu Việt Bắc, trúc Lam Sơn, tre ngút ngàn rừng cả Điện Biên, và cả lũy tre thân thuộc đầu làng…

c. Đặc điểm

Tre không kén chọn đất đai, thời tiết, mọc thành từng lũy, khóm bụi.

Ban đầu, tre là một mầm măng nhỏ, yếu ớt; rồi trưởng thành theo thời gian và trở thành cây tre đích thực, cứng cáp, dẻo dai.

Thân tre gầy guộc, hình ống rỗng bên trong, màu xanh lục, đậm dần xuống gốc. Trên thân tre còn có nhiều gai nhọn.

Lá tre mỏng manh một màu xanh non mơn mởn với những gân lá song song hình lưỡi mác.

Rễ tre thuộc loại rễ chùm, cằn cỗi nhưng bám rất chắc vào đất → giúp tre không bị đổ trước những cơn gió dữ.

Cả đời cây tre chỉ ra hoa một lần và vòng đời của nó sẽ khép lại khi tre “bật ra hoa”…

d. Vai trò và ý nghĩa của cây tre đối với con người Việt Nam

∗ Trong lao động

Tre giúp người trăm công nghìn việc, là cánh tay của người nông dân.

Làm công cụ sản xuất: cối xay tre nặng nề quay.

∗ Trong sinh hoạt

Bóng tre dang rộng, ôm trọn và tỏa bóng mát cho bản làng, xóm thôn. Trong vòng tay tre, những ngôi nhà trở nên mát mẻ, những chú trâu mới có bóng râm để nhởn nhơ gặm cỏ, người nông dân say nồng giấc ngủ trưa dưới khóm tre xanh…

Dưới bóng tre, con người giữ gìn nền văn hóa lâu đời, làm ăn, sinh cơ lập nghiệp.

Tre ăn ở với người đời đời kiếp kiếp:

Khi chưa có gạch ngói, bê tông, tre được dùng để làm những ngôi nhà tre vững chãi che nắng che mưa, nuôi sống con người.

Tre làm ra những đồ dùng thân thuộc: từ đôi đũa, rổ rá, nong nia cho đến giường, chõng, tủ…

Tre gắn với tuổi già: điếu cày tre.

Đối với trẻ con ở miền thôn quê thì tre còn có thể làm nên những trò chơi thú vị, bổ ích: đánh chuyền với những que chắt bằng tre, chạy nhảy reo hò theo tiếng sao vi vút trên chiếc diều cũng được làm bằng tre…

∗ Trong chiến đấu

Tre là đồng chí…

Gậy tre, chông tre chống lại sắt thép quân thù.

Tre xung phong… giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh…

Tre hi sinh để bảo vệ con người

3. Kết bài

Cây tre trở thành biểu tượng của dân tộc Việt Nam. Trong đời sống hiện đại ngày nay, chúng ta vẫn không thể rời xa tre.

Việt Nam là một quốc gia xinh đẹp với cảnh quan xanh. Có rất nhiều loại cây đã gắn bó lâu đời với người dân Việt Nam ta, đi vào tiềm thức của ta và trở thành biểu tượng cho phẩm chất, đức hạnh của con người. Một trong số đó ta không thể không nhắc đến hình ảnh cây tre.

Tre là loại cây mọc tự nhiên, người ta chưa xác định được thời gian ra đời. Chỉ biết rằng tre đã có từ lâu lắm rồi, và gắn bó với người Việt hàng ngàn đời nay. Ta bắt gặp hình ảnh của tre trong các truyện cổ tích như: Thánh Gióng, Cây tre trăm đốt, ta nhìn thấy tre trong mỗi làng mỗi xóm. Tre có nhiều loại: tre, nứa, mai, vầu,… cả chục loại khác nhau, nhưng đều từ mầm tre mọc thẳng. Phổ biến nhất là hai loại là tre xanh và tre đằng ngà. Tre xanh thì thân tre và cành lá tre đều một màu xanh nõn nà. Còn tre đằng ngà thì toàn bộ cây là một màu vàng xuộm.

Thân cây thường khoảng bốn mươi, năm mươi đốt, trong ruột rỗng, vỏ ngoài mịn và vươn thẳng tắp lên cao vút tới năm, bảy mét. Thân tre có màu xanh mượt, nhưng ở tre già có màu bạc phếch. Tre có hai loại là tre đực và tre cái: Tre đực thân nhỏ, có đốt mau hơn tre cái, đặc biệt là có ruột đặc. Với loại tre này nếu ngâm nước một thời gian rồi phơi khô thì độ cứng chắc cũng không thua gì gỗ lim. Vì vậy mà tre đực thường được dùng dựng nhà dựng cửa. Còn tre cái có ruột rỗng hơn, đốt thưa hơn tre đực, thường được dùng làm lạt, đan rổ. Lá tre màu xanh, hình thuôn dài, sờ vào thấy ráp do có lớp lông bao phủ, hoàn toàn không thấy gân lá. Lên cao tre bắt đầu phân cành, phân nhánh. Cây măng non thường có lớp bẹ lá màu sẫm, khi cây cao được trên một mét thì bẹ lá mới bắt đầu rụng. Hoa tre màu trắng ngần, nhỏ li ti, rụng vào mùa đông, và mọc ở cao tít trên các cành cây gần ngọn.

Xưa kia khi chưa có gạch ngói, xi măng cốt thép, tre là vật liệu để xây dựng nhà cửa. Tre còn được dùng làm nơm tre, rổ tre, gầu tre, đũa tre,… phục vụ chính đời sống của người dân. Cây tre đã trở thành người bạn thân thiết của người nông dân Việt Nam. Sẽ thật thiếu vắng nếu ngày Tết không có bát canh măng. Tre đã đi vào đời sống tuổi thơ ngay từ buổi lọt lòng, đứa trẻ đã được nằm trong chiếc nôi tre, chiếu tre, rồi lớn lên cầm cây đũa tre ăn cơm, lấy tre làm diều thả chơi mỗi buổi chiều hè. Tre đi vào tâm thức người Việt, là biểu tượng cho tình đoàn kết, cho sự kiên cường bất khuất, phẩm chất ngay thẳng, thuỷ chung của con người. Tre còn mãi trong chiếc huy hiệu Đội với hình ảnh búp măng non, biểu tượng cho thiếu niên Việt Nam.

Tre thân thuộc là thế, hữu ích là thế, gắn bó với con người là thế, mỗi chúng ta hãy biết trân trọng hình ảnh này và nỗ lực gây dựng một xã hội, một đất nước giàu đẹp, văn minh hơn để kịp sánh vai với các cường quốc năm châu và quảng bá hình ảnh cây tre đến rộng hơn mọi người.

Từ lâu, cây tre đã xuất hiện trong cuộc sống của con người Việt Nam. Cây tre đã sống gắn bó và đem lại nhiều lợi ích mà ít có loài cây nào sánh kịp. Đối với con người Việt Nam, cây tre là biểu tượng cho sự cần mẫn, đức hi sinh, tinh thần đoàn kết bất diệt. Tre sống và chiến đấu cùng con người, tre ăn đời ở kiếp với con người, tre đi vào đời sống tinh thần, làm nên nét văn hóa làng quê đậm đà bản sắc dân tộc trong mấy nghìn năm qua. (Thuyết minh cây tre Việt Nam)

Cây tre thuộc bộ hòa thảo, lớp thực vật hai lá mầm, tông tre. Cây tre vừa mang đặc tính của loài cây thân cỏ (thân rỗng), vừa mang đặc tính của các loài cây thân gỗ (thân cao).

Cây tre được tìm thấy ở khắp nơi trên thế giới. Phổ biến nhất là các nước nhiệt đới, vùng xích đạo và các khu vực cận xích đạo. Trung Quốc, Nhật Bản, Indonesia, Malaysia, Lào, Thái Lan,… là những nước trồng nhiều tre.

Việc phân loại các loài tre khá phức tạp bởi số lượng loài được phát hiện là rất lớn. Đến nay, trên thế giới người ta đã phát hiện khoảng 1300 loài thuộc 70 chi. vẫn còn rất nhiều loại được cho là có quan hệ họ hàng với tre chưa được đặt tên và nhiều loài khác chưa được phát hiện. Nước trồng nhiều tre nhất thế giới là Trung Quốc.

Khác với các loài cây thân cỏ, cây tre tỏ ra vượt trội về chiều cao và tuổi thọ. Một cây tre trưởng thành có thể cao từ 10 đến 20 mét. Về cơ bản, cây tre cũng có cấu tạo hình dáng bên ngoài và đặc điểm sinh trương, phát triển giống như các loài thân cỏ khác.

Quan sát một cây tre ta thấy gồm: Gốc rễ, thân ngầm, thân chính, cành, lá, hoa, quả.

Dưới gốc cây là thân ngầm. Thân ngầm đặc, thường nằm trong đất, là cơ quan phát rễ, có chức năng giữ cho cây đứng vững và cũng là cơ quan sinh sản của cây. Trên thân ngầm thường mọc lên các chồi măng. Măng tre là cây con phát triển, bên trong mềm, bên ngoài được bọc một lớp áo vỏ cứng. Lá cẩm lớp vỏ ấy khi bóc ra được gọi là mo. Măng tre có hình nhọn, thường phát triển rất nhanh.

Thân ngầm của cây tre thường nằm trong đất, đôi khi cũng trồi lên. Thân ngầm là nơi phát triển của bộ rễ và những mầm măng. Thân ngầm đặc, rất cứng, giúp cây đứng vững. Trên thân ngầm là thân chính. Thân chính của cây tre có nhiều lóng rỗng và đốt đặc. Thân tre to ở gốc và nhỏ dần ở ngọn. Mỗi lóng tre dài khoảng 40 đến 60cm. Một số loài có đốt ngắn hơn như le, tre gai,… Tuy nhiên có loài có lóng dài đến 120cm như trúc xanh, giang, nứa, lồ ô,… Tại các lóng tre có rễ giả. Bộ rễ giả này nếu gặp điều kiện ẩm ướt sẽ phát triển thành rễ tre. Thế nên, người ta thường hay giâm cành để tạo vườn ươm mới.

Đốt tre đặc mang chồi, có vòng mo và vòng đốt. Lóng và đốt khi non được mo thân che phủ. Khi già mo rụng đi, để lại dấu vết của mo thân, đó chính là vòng mo. Tại các mấu mắt phát triển cành tre. Cành nhánh hướng về phía trên, đều mang lá.

Lá và bẹ lá là cơ quan quan trọng của quá trình quang hợp. Lá tre thon nhỏ, thô cứng thường rụng sau một thời gian phát triển. Mo tre là cơ quan bẹ lá, sau rụng đi hoặc bám chặt vào thân tre. Mỗi năm, tre thay lá rất nhiều lần, đặc biệt vào mùa khô tre có thể rụng hết lá để tránh bị thoát nước.

Tre cũng là một loại thực vật có hoa, nhưng chỉ nở hoa một lần duy nhất vào lúc cuối đời. Thường thì tre có chu kỳ ra hoa khoảng 30-50 năm hay dài hơn nữa. Hoa tre dạng bông, màu vàng nhạt, nhị hoa mang bao phấn màu vàng tươi. Quả dạng quả dĩnh, nhỏ. Khi quả rụng xuống phát triển thành cây con. tuy nhiên. Tuy nhiên, khi trồng tre, người ta thường trồng bằng cành nhánh để cây tre mau phát triển hơn.

Thật không thể kể hết được vai trò của cây tre trong đời sống con người. Bằng trí thông minh và sự sáng tạo của người nông dân, trải qua hàng nghìn năm sử dụng, cây tre đã trở thành một cây trồng không thể thiếu trong đời sống con người. Có thể nói trên khắp lãnh thổ Việt Nam, ở đâu có sự sống, ở đó có mặt của cây tre.

Cây tre là một vật dụng xây dựng rất hữu ích và tiết kiệm. Tre dựng nhà, xây cửa, làm cầu, chắn sóng,… Lạt tre buộc chặt kết nối các vật với nhau không gì sánh bằng. Trên đan liếp, nông bồ, phên giậu che chắn cho không gian sống của con người. Tre làm hàng rào bảo vệ vườn cây, ao cá, ruộng đồng. Cây tre làm sào phơi đồ, mái chèo tre lướt sóng, thuyền tre bồng bềnh trên sông phản ánh sâu sắc sức mạnh khai thác tự nhiên của con người trong công cuộc chinh phục vĩ đại.

Măng tre vốn là một loại thực phẩm ưa thích của nhiều người Việt Nam. Món ăn từ măng tre đơn giản, dễ chế biến. Tuy không mang lại nhiều dinh dưỡng cho người dùng như nó làm cho bữa ăn thêm đậm đà, ý vị.

Cây tre cũng là nguyên liệu của ngành thủ công mỹ nghệ và các nông cụ sản xuất. Những phẩm vật được làm từ nan tre, cây tre nhiều không sao kể xiết. Từ cái cày, cái thúng, cái ghế, cái giường,… cho đến những đồ vật làm đẹp không gian như gáo tre, nón tre, đèn lồng tre, kệ tre,… Chiếc đũa tre bao đời đã gắn bó với người nông dân trong những bữa cơm gia đình đầm ấm tạo nên nét đẹp văn hóa thuần Việt hết sức độc đáo.

Hình ảnh cây tre còn gắn với lịch sử vĩ đại của dân tộc. Từ truyền thuyết Thánh Gióng nhổ cụm tre đánh giặc đến sự kiện Ngô Quyền đóng cọc tre phá tan thủy quân Nam Hán đã làm nên những trang sử hào hùng. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, cây tre cũng góp một phần lớn làm nên chiến thắng hào hùng. Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín. Tre xung phong vào trận mạc, anh dũng chiến đấu chống giặc. Ụ tre lật đổ xe tăng. Lũy tre chống đạn, che chắn nhân dân, gậy tre giúp chiến sĩ vượt đường xa,… Có thể nói, chưa bao giờ tre thôi gắn bó với con người trên từng bước đường gian khổ.

Cũng giống như hình ảnh cây đa, bến nước, cây tre cũng đi vào đời sống con người như một người bạn chân tình, hồn hậu. Tre đi vào thi ca, nhạc, họa với tư thế vừa mềm mại, vừa kiêu hãnh, biểu trưng cho phẩm chất anh hùng và ý chí bất khuất của dân tộc.

Cuộc sống hiện đại, nhiều vật liệu mới ra đời tưởng chừng như cây tre sẽ lùi vào quá vãng. Nhưng gần đây, bởi nhận ra vai trò tuyệt vời của nó, cây tre đã được quan tâm trở lại. Còn việc nghiên cứu cải tạo giống tre trúc không biết bao giờ mới được tiến hành. Phong trào trồng cây luồng ở một số địa phương gần đây là một tín hiệu đáng mừng.

Muốn trồng tre trước hết phải chọn giống tre phù hợp với nhu cầu sử dụng. Cây con để trồng là cành chiết hoặc giâm hom. Có thể trồng cây tre quanh năm, tốt nhất là vào đầu mùa mưa để cây mới trồng sinh trưởng thuận lợi.

Trồng cây tre gần như không cần đầu tư nhiều. Cây tre thích hợp với nhiều điều kiện khí hậu, bộ rễ phát triển và ăn sâu, thích hợp với các loại đất, có khả năng chịu hạn và úng, trồng được ở nhiều nơi từ miền núi cao đến vùng đồng bằng.

Khi cây tre đã bén rễ ta cần tưới nước vào mùa khô để cây phát triển tốt. Khi cây lớn phải thường xuyên dọn cành để bụi tre thông thoáng, tránh sâu bọ giúp cây phát triển tốt.

Trồng tre trước hết là thu hoạch măng tre và cây tre. Một búi tre trồng sau khoảng ba năm là cho thu hoạch măng. Một năm tre ra măng hai đợt. Một đợt một vào đầu tháng ba, đợt hai vào cuối tháng tám. Có một vài loài tre ra măng quanh năm. Khi cắt măng cần che vết cắt lại để tránh gốc tre bị úng thối hoặc các loài gặm nhấm phá hoại. Cây tre từ khi lên măng đến khi sử dụng được mất khoảng hơn một năm. Không nên đốn cây khi tre còn non hoặc khai thác măng tre quá mức duy trì sức sinh sản và tiếp tục phát triển.

Ở các nước Đông Á, nơi được coi là quê hương của cây tre, đang có xu hướng quay trở lại sử dụng loại vật liệu có nhiều đặc tính quý báu này trong mọi mặt của đời sống. Dù ngày nay, nền công nghiệp phát triển cao nhưng mãi mãi, cây tre vẫn giữ vững vai trò của mình trong đời sống con người. Càng phát triển con người có xu hướng tìm về với các giá trị tự nhiên nguyên thể, có ý nghĩa bảo vệ và phát triển môi trường sống ngày càng thân thiện, bền vững như đất mẹ đã ban tặng.

Truyện ngày xưa đã có bờ tre xanh”

Cây tre với làng quê Việt Nam từ lâu đã gắn bó sâu đậm. Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín. Khi yên bình, tre dịu dàng tỏa bóng mát, khi có chiến tranh, tre vùng lên chống lại. Người đi xa quê, nhớ về làng xóm cũ, hình ảnh đầu tiên hiện lên ắt hẳn là lũy tre xanh cong cong dưới ánh trăng làng

Bà tôi là thầy thuốc Đông y, bà bảo Tre thuộc Bộ Hòa thảo, Phân họ Tre, Tông Tre (Bambuseae), một số loài của nhóm này rất lớn, và được coi là lớn nhất trong Bộ Hòa thảo. Cũng như bao loài cây, tre cũng có hoa, nhưng hoa tre hiếm hoi chỉ nở vào những năm cuối đời tre, chỉ đến lúc tre sắp từ giã cõi đời mới để lại những kết tinh đẹp nhất. Tôi rất thích những mùa tre nở hoa khoảng 5 – 60 năm một lần, bởi cái mùi hương rất lạ của nó, nồng nồng và cái màu vàng đất làm tôi không ngừng liên tưởng tới mảnh đất quê hương. Cây tre rất cao, lớn dần theo thời gian, khi nhỏ cao tầm 3, 4 m, càng lớn càng cao, có thể cao tới 5,6m. Tre cũng có rất nhiều loại, tre Đồng Nai, tre Điện Biên, vầu Việt Bắc, trúc Lam Sơn,… đều là họ hàng nhà tre

Ban đầu, tre chỉ là những măng non nhỏ, hình nón trụ nhọn dần về phía ngọn. Bao quanh thân hình nõn nà mới lớn của măng là những lớp áo cộc mà mẹ tre đã dành cho nó. Kế thừa đức tính mẹ cha, măng non khi mới mọc đã thẳng đứng, không nghiêng ngả, không xiêu vẹo, hiên ngang như dáng đứng Việt Nam. Ngày qua ngày, măng hấp thụ chất dinh dưỡng từ đất đai và sương nắng quê hương mà lớn dần thành những cây tre xanh. Tre sinh sôi nảy nở rất tốt, đất đai sỏi đá mấy tre cũng lớn. Khi đủ lớn và trưởng thành, thân tre gầy guộc hình ống, nhưng không đặc mà rỗng bên trong, màu xanh lục, đậm dần xuống gốc. Tre rất dẻo dai, bền bỉ và hiên ngang, trải bao mùa mưa nắng vẫn kiên cường mà đứng lên. Trên khắp thân cây, tre trang bị cho mình tấm áo giáp đầy gai nhọn để chống chọi lại với muôn vàn chất xúc tác đáng sợ của cuộc đời. Lá của tre rất mỏng manh thôi, nhuộm một màu xanh non mơn mởn in rõ những họa tiết là những hình gân song song trên lá như những chiếc thuyền nan xuôi ngược trên dòng sông quê êm đềm. Rễ tre thuộc loại rễ chùm, gầy guộc và cằn cỗi nhưng bám rất chắc chắn vào đất giúp giữ mình không bị đổ trước những cơn gió dữ. Chính bộ rễ mộc mạc này đã để lại cho tre một sức sống mãnh liệt không hề dễ bị quật ngã. Tôi vẫn nhớ những câu thơ của Nguyễn Duy:

Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành”

Dưới bóng tre, một nền văn hóa lâu đời đã sinh ra và lớn lên. Ngày xưa, đầu mỗi làng nếu không là cây đa thì là những khóm tre. Tre dựng thành bức tường thành bảo vệ, che chắn cho cuộc sống con người. Mỗi ngày đi làm đồng về, dưới cái nắng thiêu đốt của mùa hè rũ rượi, những người nông dân đều cùng nhau ngồi nghỉ dưới gốc tre, uống nước và trò chuyện về chuyện đời, chuyện mùa. Dưới bóng tre, bao nhiêu câu ca đã sinh ra và còn lưu truyền mãi mãi đến đời sau. Đối với những đứa trẻ, chẳng có gì thú vị hơn mỗi chiều chăn trâu nghỉ ngơi dưới gốc tre chơi bắn bi, đánh chuyền, ô ăn quan,… Những đứa trẻ ấy lớn lên bằng dòng sữa mẹ, nhưng đều trưởng thành dưới bóng tre.

Tre gắn với con người không chỉ vì vẻ bề ngoài của nó mà còn rất nhiều công dụng khác nữa. thân tre dẻo dai để làm đồ gia dụng, làm cột nhà, làm đũa, làm máng nước, làm rổ rá. Măng non hái về thái ra nấu ăn cũng rất thơm và ngọt, đặc biệt là món canh măng đã gây thương nhớ rất nhiều cho tuổi thơ tôi.

Ngày nay loài tre đã vươn mình ra thế giới. Người Việt kiều yêu nước nọ mang tre theo sang đất Pháp nuôi trồng.. Thế mà ở xứ lạ, tre vẫn sống vững vàng, vẫn không hổ mang cốt cách kiên cường người Việt nam. Ngày sau, dẫu nước mình có hiện đại hơn, loài tre cũng vẫn sẽ ngay thẳng, thuỷ chung và can đảm để tôn lên những đức tính của người hiền – đức tính Việt Nam.

Việt Nam vốn là một quốc gia nông nghiệp với sự cần củ, chăm chỉ của người nông dân. Từ xưa, hình ảnh cây tre đã gắn liền với đời sống của người dân nước ta, cùng ta trải qua nhiều giai đoạn khác nhau và cùng ghi tên vào lịch sử vẻ vang của dân tộc.

Cây tre từ một mầm măng yếu ớt với cái thân hình bé nhỏ hình nón, trên đầu nhọn hoắt và khoác ngoài nhiều lớp áo xếp chồng lên nhau bao lấy tấm thân nhỏ bé. Rồi rồi lớn dần, trưởng thành theo thời gian. Thân tre gầy guộc hình ống rỗng bên trong, màu xanh lục, đậm dần xuống gốc. tre bền bỉ hiên ngang chẳng dễ gì bị ngã dưới mưa gió. Trên thân tre có rất nhiều rất nhiều gai nhọn như những chiếc kim giúp tre tự vệ. Lá của tre mỏng manh một màu xanh non mơn mởn với những hình gân song song trên lá như những chiếc thuyền nan rung rinh theo những cơn gió thoảng. Rễ tre thuộc loại rễ chùm, gầy guộc và cằn cỗi nhưng bám rất chắc chắn vào đất giúp giữ mình không bị đổ trước những cơn gió dữ.

Có thể nói cây tre rất có giá trị trong mọi mặt. Với cây tre nó gắn liền với những nền văn hóa cổ xưa, từ rất lâu nó đã trở thành một người bạn thân thuộc, gắn bó sâu sắc với người dân. Trong nền kinh tế, cây tre được con người chế tạo thành những thành phẩm vô cũng đáng yêu và có giá trị xuất khẩu. Con người dùng nó để đan các loại rổ, rá, cốt, ví, làm tăm… và nhiều đồ dùng có giá trị cao khác. Khi cây tre còn nhỏ còn gọi là măng; đây là một loại thức ăn rất có giá trị và được nhiều người ưa chuộng. Lá tre nhỏ với một màu xanh sáng sủa, con người dùng nó để làm thức ăn cho trâu bò. Ngoài ra, cây tre còn được dùng để làm ra những vật dụng trong gia đình như giường tre, chõng tre, rổ, cũi,… Không chỉ có thế, tre được mọc thành bụi, chùm. Những rặng tre rợp bóng ở đường làng, nghiêng xuống nơi bờ ao không còn mấy nữa. Nhiều người quên mất rằng bao đời tổ tiên người Việt khai phá đồng bằng Bắc Bộ được như ngày hôm nay là do đắp đê chống lụt, trị thuỷ. Những triền đê được giữ vững trước nước lụt, bão tố, ngoài phần công sức của người Việt xưa bao đời bồi đắp, thì còn có phần công sức của những bụi tre có tác dụng giữ đất, chống xói lở.

Vốn gần gũi và thân thiết với dân tộc, cây tre đã từng là nguồn cảm hứng vô tận trong văn học, nghệ thuật. Từ những câu chuyện cổ tích (Nàng Út ống tre, cây tre trăm đốt,…) đến các ca dao, tục ngữ đều có mặt của tre. Đã có không ít tác phẩm nổi tiếng viết về tre: “Cây tre Việt Nam” của Thép Mới và bài thơ cùng tên của thi sĩ Nguyễn Duy,… Tre còn góp mặt trong những làn điệu dân ca, điệu múa sạp phổ biến hầu khắp cả nước. Và nó là một trong những chất liệu khá quan trọng trong việc tạo ra các nhạc khí dân tộc như: đàn tơ rưng, sáo, kèn,… Tre đi vào cuộc sống của mỗi người, đi sâu thẳm vào tâm hồn người Việt. Mỗi khi xa quê hương, lữ khách khó lòng quên được hình ảnh lũy tre làng thân thương, những nhịp cầu tre êm đềm… Hình ảnh của tre luôn gợi nhớ về một làng quê Việt Nam mộc mạc, con người Việt Nam thanh cao, giản dị mà khí chất.

Nhiều năm tháng qua đi nhưng cây tre vẫn gắn bó sâu sắc với người dân và phủ khắp đất nước Việt Nam này. Dù cho xã hội có phát triển, con người có hội nhập thì cây tre mãi là người bạn trung thành của con người hôm nay và mai sau.

Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh”

Cây tre không ai biết nó có từ bao giờ, chỉ biết nó đã gắn bó và trở nên thân thuộc với người dân Việt Nam từ hàng nghìn đời nay. Tre không chỉ là biểu tượng của Việt Nam mà còn là một người bạn tri kỉ, gần gũi và đáng yêu, giúp đỡ con người rất nhiều.

Cây tre có từ bao giờ thì không ai biết. Tre xuất hiện trên khắp đất nước này và thân thuộc với tất cả con người Việt Nam. Không ai là không biết đến cây tre. Từ Nam ra Bắc đâu đâu tre cũng hiện hữu. Tre chứng kiến bề dày lịch sử và những trận chiến thắng lợi đầy hào hùng của nhân dân ta. Tre có nhiều loại: tre Đồng Nai, nứa, mai, vầu Việt Bắc, trúc Lam Sơn, tre ngút ngàn rừng cả Điện Biên, và cả lũy tre thân thuộc đầu làng… Tre không kén chọn đất đai, thời tiết, mọc thành từng lũy, khóm bụi cùng nhau chống trọi với thời tiết khắc nghiệt và san sẻ, cùng nhau cố gắng cắm sâu bộ rễ xuống lòng đất để tìm kiếm nguồn dinh dưỡng.

Ban đầu, tre là một mầm măng nhỏ, yếu ớt được bao bọc trong những lớp áo giáp có những chiếc gai nhỏ; rồi măng lớn dần theo thời gian, cởi bỏ lớp áo nâu để trở thành một cây tre xanh tốt, cứng cáp, dẻo dai. Tre vươn thẳng, hiên ngang giữa trời đất. Trung bình một cây tre trưởng thành cao cao trên 10m, thân tre thuôn dài, hình ống rỗng bên trong, màu xanh lục, đậm dần xuống gốc được chia thành nhiều khúc nhỏ, mỗi khúc được ngăn cách bởi một mắt tre màu nâu nhạt. Trên thân tre còn có nhiều gai nhọn. Lá tre mỏng manh một màu xanh non mơn mởn với những gân lá song song hình lưỡi mác mọc thành chùm. Rễ tre thuộc loại rễ chùm, cằn cỗi nhưng bám rất chắc vào đất giúp tre không bị đổ trước những cơn gió dữ. Một vòng đời của tre có thể lên đến gần trăm năm và khi tre nở hoa cũng là lúc vòng đời của nó khép lại. Hoa tre có màu vàng, nhỏ li ti, mọc thành chùm.

Với những đặc điểm trên, tre giúp ích cho con người rất nhiều trong cuộc sống. Khi nước nhà còn nghèo, người nông dân làm công cụ lao động (cán cuốc, cối xay tre,…) và vũ khí chiến đấu (gậy, chông, giáo mác) từ tre. Tre tỏa bóng mát cho bản làng xóm thôn, la nơi người dân nghỉ ngơi, trò chuyện những trưa hè nóng bức để gắn kết tinh cảm; những chú trâu lười biếng nằm dưới bóng râm để nhởn nhơ gặm cỏ, trong khi người nông dân say nồng. Không những thế, từ tre, con người còn làm ra những đồ dùng thân thuộc: đôi đũa, rổ rá, nong nia cho đến giường, chõng, tủ… Đối với lũ trẻ con ở miền thôn quê, tre làm nên những trò chơi thú vị, bổ ích: đánh chuyền với những que chắt bằng tre, chạy nhảy reo hò theo tiếng sao vi vút trên chiếc diều cũng được làm bằng tre…

Từ tất cả các yếu tố trên, tre xứng đáng là người bạn thân thuộc và là biểu tượng cho đất nước Việt Nam. Trước đây, bây giờ và mai sau, tre mãi mãi giữ một vị trí quan trọng trong lòng người dân của đất nước này không gì có thể thay thế được.

Có lẽ đối với mỗi người Việt Nam, cây tre đã trở thành một phần của cuộc sống. Đặc biệt với mỗi con người ra đi từ làng quê thì hình ảnh những luỹ tre xanh đã ăn sâu vào tiềm thức, do vậy dù có đi đâu đến nơi đâu họ cũng đều nhớ về luỹ tre xanh như nhớ về kỉ niệm gắn bó, thân thương nhất. Và đó chính là niềm tự hào của họ hàng nhà tre chúng tôi.

Sự gắn bó, gần gũi của họ hàng nhà tre chúng tôi được thể hiện ở chỗ đi bất cứ nơi đâu, đồng bằng hay miền núi thì bạn cũng đều thấy chúng tôi nghiêng mình trên những con đường hay trong những cánh rừng bát ngát. Họ nhà tre chúng tôi rất đông đúc, nào là: Tre Đồng Nai, nứa, mai, vầu Việt Bắc, trúc Lam Sơn, tre ngút ngàn rừng cả Điện Biên, rồi dang, rồi hóp và cả luỹ tre thân thuộc đầu làng…

Khác với các loài cây khác, từ khi mới bắt đầu sinh ra, chúng tôi đã thể hiện sự ngay thẳng, điều đó các bạn có thể thấy ngay khi nhìn những mầm tre mọc thẳng tắp và dù trong bất cứ môi trường nào chúng tôi cũng vẫn vươn lên để sống mạnh mẽ và xanh tốt. Thân tôi gầy guộc hình ống rỗng bên trong, màu xanh lục, đậm dần xuống gốc. Tôi bền bỉ hiên ngang chẳng dễ gì bị ngã dưới các anh mưa chị gió. Vả lại trên thân tôi có rất nhiều rất nhiều gai nhọn như những chiếc kim giúp tôi tự vệ, bảo vệ cuộc sống của mình trước những bàn tay ác quỷ dám chặt phá tôi một cách vô lí. Lá của tôi mỏng manh một màu xanh non mơn mởn với những hình gân song song trên lá như những chiếc thuyền nan rung rinh theo những cơn gió thoảng. Rễ tôi thuộc loại rễ chùm, gầy guộc và cằn cỗi nhưng bám rất chắc chắn vào đất giúp giữ mình không bị đổ trước những cơn gió dữ .

Vào những ngày khô hạn nóng nực vô cùng. Cả nhà chúng tôi đong đưa theo gió, dang những cành tre che mát cho đàn con – những đàn con thân yêu. Đến thời kì mưa gió bão bùng, chúng tôi kết thành lũy dày kiên cố ra sức chống gió cản mưa. Chính nhờ đặc điểm này mà chúng tôi sông được ở nhiều vùng khí hậu khác nhau, ở những nơi gần nước hay những nơi xa nước. Vì thế mà câu thơ này ra đời:

Cho dù đất sỏi đá vôi bạc màu”…

Trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc, chúng tôi luôn cùng con người đấu tranh cho độc lập, tự do. Chẳng thế mà từ lâu, người Việt đã ví chúng tôi với phẩm chất quật khởi của dân tộc ngàn đời. Những ngày đất nước Việt Nam còn sơ khai, chúng tôi đã giúp ông Gióng diệt lũ giặc Ân bạo tàn, đem lại hạnh phúc cho muôn dân. Rồi trong cuộc chiến chống quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, chính chúng tôi đã dìm chết bao tàu chiến của địch khiến cho chúng khiếp sợ phải thua cuộc. Thuở đất nước còn chưa có vũ khí hiện đại như bây giờ, chúng tôi là vũ khí mạnh nhất được dùng để tiêu diệt quân thù. Và trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mĩ, chúng tôi cũng tích cực tham gia kháng chiến bằng cách góp một phần bé nhỏ cơ thể mình để làm ra những cây chông nhọn hoắt sẵn sàng tiêu diệt kẻ thù. Bởi vững vàng trong chiến đấu mà họ mà tre tôi đã được phong danh hiệu anh hùng bất khuất.

Không chỉ trong đánh giặc giữ nước, loài tre nhà chúng tôi còn rất có ích trong cuộc sống hàng ngày. Mỗi khi về thăm một thôn xóm, một bản làng nào bạn cũng sẽ thấy vòng tay của chúng tôi dang rộng, ôm trọn và toả bóng mát cho cho cả dân làng. Trong vòng tay của chúng tôi, những ngôi nhà trở nên mát mẻ, những chú trâu mới có bóng râm để nhởn nhơ gặp cỏ. Những trưa hè, chúng tôi thật hạnh phúc khi được ngắm những khuôn mặt trẻ thơ say nồng giấc ngủ trong tiếng võng kẽo kẹt dưới khóm tre. Hơn thế chúng tôi còn là những vật liệu để bà con dựng nhà, những ngôi nhà được làm từ tre rất mát mẻ và sạch sẽ.

Dưới bóng chúng tôi là cả một nền văn hoá lâu đời đang từng ngày được nâng niu và gìn giữ. Trong đời sống sinh hoạt, chúng tôi còn làm ra những đồ dùng thân thuộc với mỗi người: đó là đôi đũa, là chiếc chõng tre, chiếc giường tre. Đối với mỗi gia đình nông dân, tre tôi là người bạn vô cùng thân thiết. Ngoài ra cây danh, nứa, một trong những họ nhà trẻ còn giúp con người chẻ lạt buộc nhà, nứa giúp cắm sào làm giàn cho bầu bí leo quấn quýt vào nhau. Tre còn gắn với tuổi già, cho họ chiếc ống điếu hút thuốc làm vui.

Đối với trẻ con ở miền thôn quê thì tre còn có thể làm nên những trò chơi thú vị, bổ ích. Dưới những bãi đất rộng, được chúng tôi che hết ánh nắng oi ả của mùa hè, các bạn tha hồ chơi đùa thoả thích. Các bạn nữ còn trò gì thú vị hơn ngồi đánh chuyền với những que chắt bằng tre. Còn các bạn nam lại chạy nhảy reo hò theo tiếng sáo vi vút trên chiếc diều cũng được làm ra từ tre. Những cánh diều đó sẽ đem ước mơ của các bạn về nơi xa.

Tre chúng tôi còn làm nên những tiếng nhạc réo rắt từ những cây sáo tre, sáo trúc, làm vơi đi bao nỗi vất vả nhọc nhằn của người nông dân chân lấm tay bùn.

Ngày nay loài tre của chúng tôi còn vươn xa hơn nữa. Có một giáo sư là Việt Kiều sống ở Pháp đã đưa anh em chúng tôi sang trồng thử trên đất Pháp. Thế mà ở xứ lạ, chúng tôi vẫn sống vững vàng. Ngày sau, dẫu nước mình có hiện đại hơn, loài tre chúng tôi cũng vẫn sẽ ngay thẳng, thuỷ chung và can đảm để tôn lên những đức tính của người hiền – đức tính Việt Nam.

Từ bao đời nay, cây tre là người bạn gắn bó và gần gũi với người dân Việt Nam. Tre đã cống hiến tất cả sự sống cho con người nên ta phải yêu quý và bảo vệ cây tre Việt Nam.

Tre là một loại cây khẳng khiu, có nhiều công dụng. Lá tre thường được người miền Nam lấy để gói bánh tro vào dịp lễ giết sâu bọ. Lạt tre dùng để cột bánh. Thân tre được dùng để làm đũa. Các thợ thủ công cũng đã tận dụng thân tre để đan thành giỏ tre, rổ tre. Nhân dân ta thường đong dầu, đong nước mắm khi mua bán bằng ống tre. Thời cách mạng, bộ đội Việt Nam dùng ông tre để đựng nước, nấu cơm. Trong quán ăn ở vùng nông thôn, người ta cũng chẻ thân tre để làm ống tăm cho khách sử dụng sau bữa ăn. Thân tre chẻ nhỏ để nhóm bếp rất đượm lửa.

Tre có một số loại thông dụng như: tre gai, tre xanh, tre ngà, tre rừng… Bên cạnh đó, nó còn có anh em bà con như: lồ ô, trúc, tầm vông… Tre xanh lúc còn sống có màu xanh mượt, đốt dài và bóng nhẵn, đường kính của thân tre trưởng thành khoảng từ 6 – 8cm. Cao không đến 10m. Tre gai kích thước ốm và thấp hơn, lá cũng mỏng manh hơn nhưng ở mỗi đốt tre mọc ra rất nhiều nhánh gai, sắc, nông dân thường trồng thành hàng rào chống trộm. Tre ngà là loại tre có thân sọc vàng xen lẫn với sọc xanh rất đẹp. Người ta thường trồng làm cảnh. Tre rừng, mọc hoang trong rừng nên thường không tươi tốt lắm.

Ngược lại, lồ ô là loại tre rừng khổng lồ, bề ngang và bề cao của nó gấp hai, ba lần tre xanh. Nó mọc thành từng bụi, từng hàng như rừng trong vùng đất hoang. Người ta đốn lấy gỗ làm nhà tranh, nhà sàn rất chắc chắn. Lồ ô to lớn bao nhiêu thì trúc lại mảnh mai, yếu ớt bấy nhiêu vì thân rỗng và kích thước nhỏ bé. Có hai loại trúc là trúc xanh và trúc vàng. Gần đây nước ta có nhập thêm một ít trúc kiểng gọi là trúc Nhật. Những cây kiểng này có hình dáng đặc biệt, thân màu vàng óng, lá xanh mượt mà rất được mọi người ưa chuộng, trồng làm cảnh và thường bày ở mái hiên, phòng khách.

Hình ảnh cây tre dã đi vào ca dao, thơ văn và ca từ. Chẳng hạn như:

Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành…”

(Nguyễn Duy)

Ông bà ta có nhiều kinh nghiệm trong việc lựa chọn tre tốt:

Muốn nên cơ nghiệp thì chừa lang vân”

Người ta còn sử dụng tre già hay tre non vào những việc khác nhau:

Tháng năm tre già làm lạt”

Người thợ mộc còn so sánh độ bền của tre như sau:

“Tre già là bà gỗ lim”

Ngoài ra, ông bà ta còn nhìn cây tre để nghe ngóng về thời tiết: “Lá tre trôi lộc, mùa rét xộc đến”. Và từ đó người xưa còn rút ra một quy luật sống của thiên nhiên và con người: “Tre già, măng mọc” tre chẻ ra làm nuộc lạt, trở thành, một thứ không thể thiếu ở nhiều chỗ: khi gói bánh, bó rau hoặc lợp nhà. Ca dao cũng nhắc đến nuộc lạt: “Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu”.

Ai từng đọc truyện Thánh Gióng hẳn không quên bụi tre Đằng Ngà khi Thánh Gióng nhổ tre đánh tan giặc ngoại xâm: “Chẻ tre nghe Gióng”.

Tre không những đi vào thơ văn mà măng tre còn là một thực phẩm chế biến đa dạng. Các món ăn từ măng tre: măng tươi, măng khô, bún măng vịt, măng xào thịt ba rọi, thịt kho măng, măng luộc chấm mắm tôm, măng chua… Bún măng vịt là món ăn được nấu với vịt non, béo, măng tươi hoặc khô đã được luộc và thay nước nhiều lần, khi ăn người ta cho bún, một ít hành răm và rau sống vào nữa, trở thành một món ăn vừa thơm vừa béo với nước dùng ngọt dịu. Măng tươi đã luộc kĩ, có màu vàng chanh, được xắt miếng xào chung với thịt ba rọi trở thành một món ăn dân dã và rất ngon nếu có thêm một vài lát ớt đỏ thì lại càng hấp dẫn. Thịt heo kho măng cũng là một món ăn “bắt mắt”, nấu nhanh và để được vài ngày, tiết kiệm được thời gian nấu nướng mà khi chan vào chén cơm nóng thì cũng rất ngon miệng. Măng luộc phải chọn măng trúc non, vào mùa mưa. Sau khi luộc nhiều lần, ta xắt mỏng rồi chấm với mắm tôm hoặc nước mắm ngon ăn kèm với cơm như một món rau. Nó sẽ có một vị vừa ròn vừa mát, kèm theo một vị ngọt dịu của măng tươi. Nói tóm lại thì cây tre luôn là người bạn đồng hành và nó đóng góp tất cả lợi ích của bản thân mình cho con người Việt Nam.

Hiện nay cuộc sống ngày càng hiện đại và có nhiều đồ dùng là bằng nhựa, inox xuất hiện. Nhưng người ta vẫn có khuynh hướng quay về với thiên nhiên. Bằng chứng là những bộ salon làm bằng mây và tre rất được ưa chuộng và trở thành một món hàng xuất khẩu đắt giá. Ngày nay, nhiều người đã bỏ trồng lúa hoặc cây khoai, đốn cây tre để có chỗ xây nhà lầu, nhưng nếu một lúc nào đó, nước ta không còn một bóng tre thì đời sống sẽ khó khán và buồn tẻ biết mấy!

Từ bao đời nay, cây tre đã có mặt hầu khắp các nẻo đường đất nước và gắn bó thủy chung với cộng đồng dân tộc Việt Nam. Đặc biệt trong tâm thức người Việt, cây tre chiếm vị trí sâu sắc và lâu bền hơn cả, được xem như là biểu tượng của người Việt đất Việt,…Từ hồi bé tẹo tôi vẫn nhớ bài “Cây tre Việt Nam: Nước Việt nam xanh muôn vàn cây lá khác nhau, cây nào cũng đẹp, cây nào cũng quý, nhưng thân thuộc nhất vẫn là tre nứa trúc mai vầu mấy chục loại khác nhau, nhưng cùng một mần xanh mọc thẳng…”

Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh…”

Cây tre, cây nứa, cây vầu, trúc,… và nhiều loại tre bương khác là loại cây thuộc họ Lúa. Tre có thân rể ngâm, sống lâu mọc ra những chồi gọi là măng. Thân rạ hóa mộc có thể cao đến 10 – 18m, ít phân nhánh. Mỗi cây có khoảng 30 đốt,… Cả đời cây tre chỉ ra hoa một lần và vòng đời của nó sẽ khép lại khi tre “bật ra hoa”.

Cùng với cây đa, bến nước, sân đình_một hình ảnh quen thuộc, thân thương của làng Việt cổ truyền, thì những bụi tre làng từ hàng ngàn năm đã có sự cộng sinh, cộng cảm đối với người Việt. Tre hiến dâng bóng mát cho đời và sẵn sàng hy sinh tất cả. Từ măng tre ngọt bùi đến bẹ tre làm nón, từ thân tre cành lá đến gốc tre đều góp phần xây dựng cuộc sống.

Vốn gần gũi và thân thiết với dân tộc, cây tre đã từng là nguồn cảm hứng vô tận trong văn học, nghệ thuật. Từ những câu chuyện cổ tích (Nàng Út ống tre, cây tre trăm đốt,…) đến các ca dao, tục ngữ đều có mặt của tre. Đã có không ít tác phẩm nổi tiếng viết về tre: “Cây tre Việt Nam” của Thép Mới và bài thơ cùng tên của thi sĩ Nguyễn Duy,… Tre còn góp mặt trong những làn điệu dân ca, điệu múa sạp phổ biến hầu khắp cả nước. Và nó là một trong những chất liệu khá quan trọng trong việc tạo ra các nhạc khí dân tộc như: đàn tơ rưng, sáo, kèn,… Tre đi vào cuộc sống của mỗi người, đi sâu thẳm vào tâm hồn người Việt. Mỗi khi xa quê hương, lữ khách khó lòng quên được hình ảnh lũy tre làng thân thương, những nhịp cầu tre êm đềm… Hình ảnh của tre luôn gợi nhớ về một làng quê Việt Nam mộc mạc, con người Việt Nam thanh cao, giản dị mà chí khí.

Trong quá trình hội nhập quốc tế và hiện đại hóa thì tre ngày nay lại trở thành những sản phẩm văn hóa có giá trị thẩm mĩ cao được nhiều khách nước ngoài ưa thích, như những mặt hàng dùng để trang trí ở những nơi sang trọng: đèn chụp bằng tre, đĩa đan bằng tre.

Có thể thấy rằng bản lĩnh bản sắc của người Việt và văn hóa Việt có những nét tương đồng với sức sống và vẻ đẹp của cây tre đất Việt. Tre không mọc riêng lẽ mà sống thành từng lũy tre, rặng tre. Đặc điểm cố kết này tượng trưng cho tính cộng đồng của người Việt. Tre có rễ ngấm sâu xuống lòng đất, sống lâu và sống ở mọi vùng đất. Chính vì thế tre được ví như là con người Việt Nam cần cù, siêng năng, bám đất bám làng: “Rễ sinh không ngại đất nghèo, Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù”. Tre cùng người Việt Nam trải qua bao thăng trầm của lịch sử, qua bao cuộc chiến tranh giữ nước. Tre xứng đáng là hình ảnh biểu tượng cho tính kiên cường, bất khuất của người Việt Nam, là cái đẹp Việt Nam.

Hà Nội tre không còn nhiều (Lăng Bác thì có tre ngà). Giờ mở rộng Hà Nội tre lại bát ngát các vùng quê ôm làng ôm xóm. Chiều về khói rơm không còn quấn quýt bên tre, (vì đun than, đun ga), nhưng tôi vẫn thấy cây tre vươn thẳng gắn bó với thôn quê dẫu bao năm đổi thay từng ngày lên phố.

Cây tre gắn bó với người nông dân Việt Nam từ hàng nghìn năm rồi. Hình ảnh làng quê Việt Nam từ xưa gắn liền với luỹ tre làng – những bụi tre gai ken dày chắn gió bão thiên tai và che chắn cho mỗi làng Việt trước trộm đạo, giặc cướp và kẻ xâm lược – nhân tai.

Cây tre đã đi vào văn hoá Việt Nam như một hình ảnh bình dị mà đầy sức sống, dẻo dai chống chịu thiên tai, gió bão và giặc ngoại xâm. Thế nhưng những năm gần đây, có một thực tế đáng buồn là loại cây đa dạng, thiết thực trong mọi mặt đời sống này đã bị coi nhẹ, bị chặt phá, bị thoái hoá… bởi nhiều nguyên nhân khác nhau.

Về tính năng, không thể kể hết tính đắc dụng của tre đối với người dân Việt Nam: làm nhà cửa (vì kèo, lanh tô, phên liếp, vách tường…), làm vô số vật dụng: cái cần câu, cái vó cất tôm cất tép, cái đó, bè mảng, cái cầu ao và cả những cái cầu bắc qua những con mương, con kênh nhỏ; làm chông, làm tên bắn chống giặt ngoại xâm…

Tre từng được sử dụng phổ biến để làm đồ gia dụng: bàn ghế, giường chõng, các loại vật dụng sinh hoạt từ cái đòn gánh và đôi quang (thứ vật liệu đa dụng để gánh mọi thứ ra đồng và gánh lúa từ đồng về nhà, chưa kể còn được dùng như một thứ “tủ lạnh” thông thoáng để bảo quản thức ăn và chống chó, mèo, chuột hữu hiệu) đến cái khung cửi, cái xa quay sợi, cái rổ, cái rá, cái dần, cái sàng gạo, cái rế đựng nồi, cái gáo múc nước, cái bừa, cái cào, cái ách khoác lên cổ con trâu cày đến con dao cật nứa cắt rốn lúc chào đời, cái quạt nan, đôi đũa, cái tăm… nhiều thứ vật dụng làm bằng tre còn được dùng đến ngày nay.

Đấy là còn chưa nói tới các loại vật dụng của nhà nông, cũng như nhiều loại vũ khí thời xưa của cha ông ta đều có phần cán, phần tay cầm làm bằng một loại cây nào đó thuộc họ tre. Cây gậy tầm vông thời đánh Pháp xâm lược là một chứng tích đã đi vào lịch sử. Cây nêu dựng lên trước cửa nhà vào dịp năm mới thời xưa để trừ ma quỷ, cái ống đựng bút và quản bút lông của các nhà nho mà những năm gần đây về nơi thôn dã ta còn thấy, đến những cánh diều mà hôm nay con trẻ còn chơi… tất cả đều làm từ tre. Vật dụng ngày càng có vẻ thuận tiện hơn, có vẻ đẹp đẽ hơn đã đẩy chúng ta xa rời thứ cây nhiều lợi ích như thế. Thậm chí có một thời ấu trĩ, người ta đã chặt đi những bụi tre gai quanh làng với lý do là chúng làm đất bạc màu. Những rặng tre rợp bóng ở đường làng, nghiêng xuống nơi bờ ao không còn mấy nữa. Nhiều người quên mất rằng bao đời tổ tiên người Việt khai phá đồng bằng Bắc Bộ được như ngày hôm nay là do đắp đê chống lụt, trị thuỷ. Những triền đê được giữ vững trước nước lụt, bão tố, ngoài phần công sức của người Việt xưa bao đời bồi đắp, thì còn có phần công sức của những bụi tre có tác dụng giữ đất, chống xói lở.

Ngày xửa ngày xưa, tôi chỉ là một mầm măng nhỏ được sinh ra tại một làng quê nghèo chất phác và mộc mạc. Từ lâu tôi đã thắc mắc không biết tổ tiên mình là ai và có từ khi nào. Chỉ biết rằng:

Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh”.

Thật đúng như vậy, họ hàng nhà tre chúng tôi đã có từ lâu đời, gắn bó với người dân Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử.

Thuở ấu thơ, tôi chỉ là một mầm măng yếu ớt với cái thân hình bé nhỏ hình nón, trên đầu nhọn hoắt và khoác ngoài nhiều lớp áo xếp chồng lên nhau bao lấy tấm thân nhỏ bé. Rồi tôi trưởng thành theo thời gian và trở thành một chàng tre đích thực. Thân tôi gầy guộc hình ống rỗng bên trong, màu xanh lục, đậm dần xuống gốc. Tôi bền bỉ hiên ngang chẳng dễ gì bị ngã dưới các anh mưa chị gió. Vả lại trên thân tôi có rất nhiều rất nhiều gai nhọn như những chiếc kim giúp tôi tự vệ, bảo vệ cuộc sống của mình trước những bàn tay ác qủy dám chặt phá tôi một cách vô lí. Lá của tôi mỏng manh một màu xanh non mơn mởn với những hình gân song song trên lá như những chiếc thuyền nan rung rinh theo những cơn gió thoảng. Rễ tôi thuộc loại rễ chùm, gầy guộc và cằn cỗi nhưng bám rất chắc chắn vào đất giúp giữ mình không bị đổ trước những cơn gió dữ .

Vào những ngày khô hạn nóng nực vô cùng. Cả nhà chúng tôi đong đưa tạo gió, dang những cành tre che mát cho đàn con – những đàn con thân yêu. Đến thời kì mưa gió bão bùng, chúng tôi kết thành lũy dày kiên cố ra sức chống gió cản mưa. Chính nhờ đặc điểm này mà chúng tôi sông được ở nhiều vùng khí hậu khác nhau, ở những nơi gần nước hay những nơi xa nước. Vì thế mà câu thơ này ra đời:

Cho dù đất sỏi đá vôi bạc màu”…

Trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta, vai trò của tôi được nêu cao trong việc làm vũ khí đánh giặc như gậy, chông, mũi tên, cung tên,… góp phần mang lại hòa bình cho dân tộc Việt Nam hôm nay. Trong cuộc sống của con người ngày hôm nay, tôi được xây dựng thành những ngôi nhà tre vững chãi che nắng che mưa, nuôi sống con người và đàn con thơ của họ. Trong bữa cơm hằng ngày của con người, tôi dược dùng để gắp thức ăn và con người gọi tên tôi là đũa, dùng tôi để gắp thức ăn không trơn trượt như đũa nhựa mà rất nhẹ và dùng gắp thức ăn rất dễ, lại rẻ tiền nữa! Sau mỗi bữa ăn, những người lớn dùng tăm để xỉa răng được làm từ tôi. Mỗi sáng các chị em phụ nữ trên tay xách chiếc giỏ mây đi chợ, hay các ông các bà nhâm nhi tách trà nóng trên bộ bàn ghế được đan bằng mây. Vì vậy, ở quê hương tôi có nhiều người làm tăm tre, đũa tre, đan giường hay đan giỏ mây, bàn ghế mây. Các chị tre ngà có ngoại hình khá đẹp và ấn tượng thì được trồng làm cảnh. Ngoài ra, khi cuộc đời tôi đã chấm hết, thân hình chỉ còn là một cây tre gầy còm, xơ xác và khô héo lụi tàn, tôi vẫn được mọi người sử dụng để làm chất đốt vì dễ cháy và ngọn lửa mạnh.

Các bạn đã nghe câu: “Tre già măng mọc” chưa? Đó là chu kì sống của họ nhà tôi đấy! Dòng họ nhà tre chúng tôi sẽ duy trì nòi giống cho đến tận mai sau để gắn bó với con người nhiều hơn, để dần đi vào tiềm thức của loài người, để được người đời nhớ mãi. Nhớ rằng tre như 1 người nông dân chất phác và mộc mạc, chịu thương chịu khó. Tre còn như một biểu tượng thiêng liêng cho một sức mạnh hung hồn, sự bền bỉ và chịu đựng ngoan cường, tinh thần bất khuất trước kẻ thù của đất nước ta, dân tộc ta trong lịch sử chống giặc ngoại xâm. Thân hình yếu ốm của loài tre chúng tôi như nước Nam ta thời xưa chưa hùng mạnh nhưng lại tiềm ẩn một sức mạnh phi thường, đánh đổ được tất cả những bão tố, khó khăn để đi đến một thắng lợi vẻ vang và chính nghĩa.

Đất xanh xanh mãi xanh màu tre xanh”…

Hình ảnh cây tre xuất hiện từ rất lâu, từ khi Thánh Gióng dùng tre để đánh giặc giữ nước tre đã đi vào lịch sự của dân tộc ta, đã gắn bó son sắt với con người chúng ta.

Từ rất lâu đã có câu: Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín. Với câu này cây tre được ví như một anh hùng oai hùng bất khuất làm sao? Hi sinh mình để bảo vệ cho đất nước về mọi thứ gắn liền với những công việc, những hình ảnh mà người nông dân phải ngày đêm canh tác làm ra. Với câu nói ấy, dừng như tre đã đi vào tiềm thức của mỗi con người, đi vào lịch sử của dân tộc.

Có thể nói cây tre rất có giá trị trong mọi mặc, đầu tiên phải nói trong nền văn hóa. Với cây tre nó gắn liền với những nền văn hóa cổ xưa, từ rất lâu nó đã trở thành một vật gì đó vô cũng hiện hữu trong dân tộc. Ngày nay cây tre đã trở thành những món đặc sản đặc sắc trong nên văn hóa nhờ bàn tay khéo léo của những con người nông dân.

Trong nền kinh tế, cây tre vẫn đóng một vai trò quan trọng. Cây tre đã được con người chế tạo thành những thành phẩm vô cũng đáng yêu và có giá trị xuất khẩu. Với vóc dáng nhỏ nhắn mà xinh xắn làm sao, thân cây nhỏ dài được nhiều đốt, mọc thẳng. Với vóc dáng của thân cây, con người dùng nó để đan các loại rổ, rá, cốt, ví, làm tăm… và nhiều đồ dùng có giá trị cao khác. Khi cây tre còn nhỏ còn gọi là măng; đây là một loại thức ăn rất có giá trị và được nhiều người ưa chuộng. Lá tre nhỏ với một màu xanh sáng sủa, con người dùng nó để làm thức ăn cho trâu bò. Tre có gai nếu không chú ý thì dể bị gai đâm đó với chi tiết này cho thấy tre rất sắc bén và thể hiện sự son sắt ở đây.

Không chỉ có thế, tre được mọc thành bụi, chùm. Những rặng tre rợp bóng ở đường làng, nghiêng xuống nơi bờ ao không còn mấy nữa. Nhiều người quên mất rằng bao đời tổ tiên người Việt khai phá đồng bằng Bắc Bộ được như ngày hôm nay là do đắp đê chống lụt, trị thuỷ. Những triền đê được giữ vững trước nước lụt, bão tố, ngoài phần công sức của người Việt xưa bao đời bồi đắp, thì còn có phần công sức của những bụi tre có tác dụng giữ đất, chống xói lở.

Có thể nói, tre có giá trị rất lớn đối với con người Việt Nam. Vì vậy hãy biết nâng niu gìn giữ những gì mà đất nước ta đã, có đừng lãng phí nó một cách vô ích. Nó là một người bạn rất thân thiết của con người.

Cây tre đã đi vào văn hoá Việt Nam như một hình ảnh bình dị mà đầy sức sống, dẻo dai chống chịu thiên tai, gió bão và giặc ngoại xâm. Thế nhưng những năm gần đây, có một thực tế đáng buồn là loại cây đa dạng, thiết thực trong mọi mặt đời sống này đã bị coi nhẹ, bị chặt phá, bị thoái hoá… bởi nhiều nguyên nhân khác nhau.

Về tính năng, không thể kể hết tính đắc dụng của tre đối với người dân Việt Nam: làm nhà cửa (vì kèo, lanh tô, phên liếp, vách tường…), làm vô số vật dụng: cái cần câu, cái vó cất tôm cất tép, cái đó, bè mảng, cái cầu ao và cả những cái cầu bắc qua những con mương, con kênh nhỏ; làm chông, làm tên bắn chống giặt ngoại xâm…

Tre từng được sử dụng phổ biến để làm đồ gia dụng: bàn ghế, giường chõng, các loại vật dụng sinh hoạt từ cái đòn gánh và đôi quang (thứ vật liệu đa dụng để gánh mọi thứ ra đồng và gánh lúa từ đồng về nhà, chưa kể còn được dùng như một thứ “tủ lạnh” thông thoáng để bảo quản thức ăn và chống chó, mèo, chuột hữu hiệu) đến cái khung cửi, cái xa quay sợi, cái rổ, cái rá, cái dần, cái sàng gạo, cái rế đựng nồi, cái gáo múc nước, cái bừa, cái cào, cái ách khoác lên cổ con trâu cày đến con dao cật nứa cắt rốn lúc chào đời, cái quạt nan, đôi đũa, cái tăm… nhiều thứ vật dụng làm bằng tre còn được dùng đến ngày nay.

Đấy là còn chưa nói tới các loại vật dụng của nhà nông, cũng như nhiều loại vũ khí thời xưa của cha ông ta đều có phần cán, phần tay cầm làm bằng một loại cây nào đó thuộc họ tre. Cây gậy tầm vông thời đánh Pháp xâm lược là một chứng tích đã đi vào lịch sử. Cây nêu dựng lên trước cửa nhà vào dịp năm mới thời xưa để trừ ma quỷ, cái ống đựng bút và quản bút lông của các nhà nho mà những năm gần đây về nơi thôn dã ta còn thấy, đến những cánh diều mà hôm nay con trẻ còn chơi… tất cả đều làm từ tre. Vật dụng ngày càng có vẻ thuận tiện hơn, có vẻ đẹp đẽ hơn đã đẩy chúng ta xa rời thứ cây nhiều lợi ích như thế. Thậm chí có một thời ấu trĩ, người ta đã chặt đi những bụi tre gai quanh làng với lý do là chúng làm đất bạc màu. Những rặng tre rợp bóng ở đường làng, nghiêng xuống nơi bờ ao không còn mấy nữa. Nhiều người quên mất rằng bao đời tổ tiên người Việt khai phá đồng bằng Bắc Bộ được như ngày hôm nay là do đắp đê chống lụt, trị thuỷ. Những triền đê được giữ vững trước nước lụt, bão tố, ngoài phần công sức của người Việt xưa bao đời bồi đắp, thì còn có phần công sức của những bụi tre có tác dụng giữ đất, chống xói lở.

Từ bao đời nay, cây tre đã có mặt hầu khắp các nẻo đường đất nước và gắn bó thủy chung với cộng đồng dân tộc Việt Nam. Đặc biệt trong tâm thức người Việt, cây tre chiếm vị trí sâu sắc và lâu bền hơn cả – được xem như là biểu tượng của người Việt đất Việt,… Từ hồi bé tẹo tôi vẫn nhớ bài “Cây tre VN: Nước việt nam xanh muôn vàn cây lá khác nhau, cây nào cũng đẹp, cây nào cũng quý, nhưng thân thuộc nhất vẫn là tre nứa trúc mai vầu mấy chục loại khác nhau, nhưng cùng một mần xanh mọc thẳng…”

Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh…”

Cây tre, cây nứa, cây vầu, trúc,… và nhiều loại tre bương khác là loại cây thuộc họ Lúa. Tre có thân rễ ngâm, sống lâu mọc ra những chồi gọi là măng. Thân rạ hóa mộc có thể cao đến 10 – 18m, ít phân nhánh. Mỗi cây có khoảng 30 đốt,… Cả đời cây tre chỉ ra hoa một lần và vòng đời của nó sẽ khép lại khi tre “bật ra hoa”.

Cùng với cây đa, bến nước, sân đình – một hình ảnh quen thuộc, thân thương của làng Việt cổ truyền, thì những bụi tre làng từ hàng ngàn năm đã có sự cộng sinh, cộng cảm đối với người Việt. Tre hiến dâng bóng mát cho đời và sẵn sàng hy sinh tất cả. Từ măng tre ngọt bùi đến bẹ tre làm nón, từ thân tre cành lá đến gốc tre đều góp phần xây dựng cuộc sống.

Cây tre đã gắn bó với bao thăng trầm của lịch sử nước nhà. “…Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre và đánh giặc…”. Không phải ngẫu nhiên sự tích loại tre thân vàng được người Việt gắn với truyền thuyết về Thánh Gióng – hình ảnh Thánh Gióng nhổ bụi tre đằng ngà đánh đuổi giặc Ân xâm lược đã trở thành biểu tượng cho sức mạnh chiến thắng thần kỳ, đột biến của dân tộc ta đối với những kẻ thù xâm lược lớn mạnh.

Vốn gần gũi và thân thiết với dân tộc, cây tre đã từng là nguồn cảm hứng vô tận trong văn học, nghệ thuật. Từ những câu chuyện cổ tích (Nàng Út ống tre, cây tre trăm đốt,…) đến các ca dao, tục ngữ đều có mặt của tre. Đã có không ít tác phẩm nổi tiếng viết về tre: “Cây tre Việt Nam” của Thép Mới và bài thơ cùng tên của thi sĩ Nguyễn Duy,… Tre còn góp mặt trong những làn điệu dân ca, điệu múa sạp phổ biến hầu khắp cả nước. Và nó là một trong những chất liệu khá quan trọng trong việc tạo ra các nhạc khí dân tộc như: đàn tơ rưng, sáo, kèn,… Tre đi vào cuộc sống của mỗi người, đi sâu thẳm vào tâm hồn người Việt. Mỗi khi xa quê hương, lữ khách khó lòng quên được hình ảnh lũy tre làng thân thương, những nhịp cầu tre êm đềm… Hình ảnh của tre luôn gợi nhớ về một làng quê Việt Nam mộc mạc, con người Việt Nam thanh cao, giản dị mà chí khí.

Trong quá trình hội nhập quốc tế và hiện đại hóa thì tre ngày nay lại trở thành những sản phẩm văn hóa có giá trị thẩm mỹ cao được nhiều khách nước ngoài ưa thích, như những mặt hàng dùng để trang trí ở những nơi sang trọng: đèn chụp bằng tre, đĩa đan bằng tre.

Có thể thấy rằng bản lĩnh bản sắc của người Việt và văn hóa Việt có những nét tương đồng với sức sống và vẻ đẹp của cây tre đất Việt. Tre không mọc riêng lẽ mà sống thành từng lũy tre, rặng tre. Đặc điểm cố kết này tượng trưng cho tính cộng đồng của người Việt. Tre có rễ ngấm sâu xuống lòng đất, sống lâu và sống ở mọi vùng đất. Chính vì thế tre được ví như là con người Việt Nam cần cù, siêng năng, bám đất bám làng: “Rễ sinh không ngại đất nghèo, Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù”. Tre cùng người Việt Nam trải qua bao thăng trầm của lịch sử, qua bao cuộc chiến tranh giữ nước – tre xứng đáng là hình ảnh biểu tượng cho tính kiên cường, bất khuất của người Việt Nam, là cái đẹp Việt Nam.

Cây tre là người bạn thân của nông dân Việt Nam, bạn thân của nhân dân Việt Nam.

Nước Việt Nam xanh tươi với muôn ngàn cây lá khác nhau. Cây nào cũng đẹp, cây nào cũng quý, nhưng thân thuộc nhất là tre nứa. Tre Đồng Nai, nứa Việt Bắc, tre ngút ngàn Điện Biên Phủ, lũy tre thân mật làng tôi… đâu đâu ta cũng có tre nứa làm bạn.

Tre, nứa, trúc, mai, vầu mấy chục loại khác nhau, nhưng cùng một mầm măng mọc thẳng. Vào đầu tre cũng sống, ở đâu tre cũng xanh tốt. Dáng tre vươn mộc mạc, màu tre tươi nhũn nhặn. Rồi tre lớn lên, cứng cáp, dẻo dai, vững chắc. Tre trông thanh cao, giản dị chí khi như người.

Nhà thơ đã có lần ca ngợi:

Bóng tre trùm mát rượi

Bóng tre trùm lên âu yếm làng, bản, xóm thôn. Dưới bóng tre của ngàn xưa, đã từ lâu đời, người dân cày Việt Nam dựng nhà, dựng cửa, vỡ ruộng, khai hoang. Tre ăn ở với người, đời đời, kiếp kiếp. Tre, nứa, mai, vầu giúp nghìn công việc khác nhau. Tre là cánh tay của người nông dân.

Tre với người vất vả quanh năm.

Tre với người như thế đã mấy nghìn năm. Một thế kỉ “văn minh”, “khai hóa” của thực dân cũng không làm ra được một tấc sắt. Tre vẫn phải còn vất vả mãi với người. Cối tre nặng nề quay, từ nghìn đời nay, xay nắm thóc.

Trong mỗi gia đình nông dân Việt Nam, tre là người nhà, tre khăng khít với đời sống hàng ngày.

Giang chẻ lạt, buộc mềm, khít chặt như những mối tình quê cái thuở ban đầu thường nỉ non dưới bóng tre, bóng nứa:

Cho mai lấy trúc, cho anh lấy nàng.

Tre còn là nguồn vui duy nhất của tuổi thơ. Các em bé còn có đồ chơi gì nữa ngoài mấy que chuyền chắt bằng tre.

Tuổi già hút thuốc làm vui. Vớ chiếc điếu cày tre là khoan khoái. Nhớ lại vụ mùa trước, nghĩ đến những mùa sau, hay nghĩ đến một ngày mai sẽ khác…

Suốt một đời người, từ thuở lọt lòng trong chiếc nôi tre, đến khi nhắm mắt xuôi tay, nằm tre giường tre, tre với mình, sống có nhau, chết có nhau, chung thủy.

Như tre mọc thẳng, con người không chịu khuất.

Người xưa có câu: “Trúc dẫu cháy, đốt ngang vẫn thẳng”. Tre là thẳng thắn, bất khuất! Ta kháng chiến, tre lại là đồng chí chiến của ta. Tre vốn cùng ta làm ăn, lại vì ta mà cùng ta đánh giặc.

Buổi đầu, không có một tất sắc trong tay, tre là là vũ khí. Muôn đời biết ơn chiếc gậy tầm vông đã dựng nên thành đồng Tổ quốc! Và sông Hồng bất khuất có cái chông tre.

Gây tre, chông tre chống lại sắt thép của quân thù. Tre xung phong vào xe tăng, đại bác. Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín. Tre hi sinh để bảo vệ con người. Tre, anh hùng lao động! Tre, anh hùng chiến đấu!

(…) Nhạc của trúc, nhạc của tre là khúc nhạc của đồng quê. Nhớ một buổi trưa nào, nồm nam cơn gió thổi, khóm tre làng rung lên man mác khúc nhạc đồng quê.

Diều bay, diều lá tre bay lưng trời…

Sáo tre, sáo trúc vang lưng trời…

Gió đưa tiếng sáo, gió nâng cánh diều.

Trời cao lồng lộng, đồng ruộng mênh mông hãy lắng nghe tiếng hát giữa trời cao của trúc, của tre…

“Tre già măng mọc”. Măng mọc trên phù hiệu ở ngực thiếu nhi Việt Nam, lứa măng non của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Các em, các em rồi đây lớn lên, sẽ quen dần với sắt, thép và xi măng cốt sắt. Nhưng nứa, tre sẽ còn mãi với các em, còn mãi với dân tộc Việt Nam, chia bùi sẻ ngọt của những ngày mai tươi mát, còn mãi với chúng ta, vui hạnh phúc, hòa bình. Ngày mai, trên đất nước này, sắt thép có thể nhiều hơn tre, nứa. Nhưng trên đường ta dấn bước, tre xanh vẫn là bóng mát. Tre vẫn mang khúc nhạc tâm tình. Tre sẽ càng tươi những cổng chào thắng lợi. Những chiếc đu tre vẫn dướn lên bay bổng. Tiếng sáo diều tre cao vút mãi.

Cây Tre Việt Nam! Cây Tre xanh, nhũn nhặn, ngay thẳng, thủy chung, can đảm. Cây tre mang những đức tính của người hiền là tượng trưng cao quý của dân tộc Việt Nam.

Những người đi xa quê hương thường nhớ về hình ảnh cây đa, bến nước, sân đình,.. những hình ảnh quen thuộc của quê hương. Trong số ấy không thể thiếu lũy tre đầu làng. Đúng vậy, cây tre đã từ lâu trở thành một loài cây thân thuộc với người dân Việt Nam.

Không ai biết cây tre có từ bao giờ, chỉ biết rằng lũy tre đã đứng vững chãi như vậy từ hàng ngàn năm trước từ thuở vua Hùng dựng nước đến các cuộc kháng chiến chống xâm lăng. Tre đã cùng con người bảo vệ từng tấc đất của dân tộc. Tre vốn là loài cây thuộc họ thảo mộc, có rễ chùm, thân thẳng vững trãi. Những cây tre nhỏ thì cao khoảng từ hai đến ba mét còn những cây tre trưởng thành có thể cao hơn năm mét.

Thân tre hình ống trụ dài, bên trong rỗng. Trên thân tre thường được chia thành các đốt dài bằng gang tay người trưởng thành. Ở mỗi đốt ấy đều có một mấu nối gọi là mắt tre, nơi mà các cành tre mọc ra. Cành tre nhỏ mảnh khảnh không to như càng cây bàng hay bằng lăng nhưng dại dẻo dai. Những cành cây mọc ra theo nhiều hướng khác nhau, cành này đan vào cành kia tạo thành một tấm áo giáp bảo vệ cho những búp măng nhỏ bé đang ẩn náu sâu trong lũy tre.

Măng tre hình búp, khoác lên mình một màu xanh pha nâu của đất. Những lớp áo của măng tre là từng bẹ lá úp vào nhau, đợi đến khi trưởng thành thì những bẹ lá ấy cứ tách dần ra cho măng tre mạnh mẽ vươn lên như một cây giáo đâm thẳng lên bầu trời. Lá tre nhỏ, thon và dẹp thuôn nhọn về phía đầu và sắc. Những chiếc lá mới đầu có màu xanh nhưng khi già thì nó chuyển sang màu vàng.

Tre cũng là loài thực vật có hoa nhưng chỉ nở một lần vào cuối đời vào thời gian nở là từ năm mươi đến sáu mươi năm. Hoa tre có mùi hương hơi nồng và có màu vàng nhạt như màu đất. Có thể thấy, tre là loài cây dễ sống, chúng thích nghi với mọi hoàn cảnh mọi loại đất dù là đất bạc màu hay đất chua, vì vậy mà đi đến bất cứ nơi nào trên đất nước Việt Nam ta cũng thấy cái dáng cao cao nghiêng nghiêng của lũy tre.

Nói đến tre Việt Nam thì làm sao kể cho xiết, từ Bắc vào Nam không biết có bao nhiêu là loài tre: tre Việt bắc, trúc Lam sơn, … Từ lâu tre đã trở thành người bạn của người nông dân đặc biệt là măng tre được coi như một món ăn đặc sản của người nông dân. Dưới bàn tay khéo léo của người phụ nữ, măng tre được chế biến thành nhiều món ăn như tre luộc, măng khô nấu canh, măng tươi…

Lá tre khô còn là một vật liệu đốt dễ kiếm cho các bà các mẹ. Cành tre có gai nhọn thường được người nông dân xưa làm hàng rào quanh nhà. Đặc biệt nhất là thân tre, chúng trở thành những đòn gánh theo bước chân người nông dân ra đồng, thành cối xay giúp người nông dân xay lúa. Thân tre còn được vót mỏng thành những lạt mỏng dùng để gói bánh hay buộc mái nhà của người dân xưa hay được đôi bàn tay tài hoa của người nghệ nhân biến hóa thành những chiếc rổ giá hay hình thì cho cò, con vạc,… những món đồ lưu niệm cho khách du lịch.

Trong những ngày lễ Cổ truyền, thân tre còn được dùng làm cây nêu cầu may trong nhà. Những lũy tre còn đi sâu vào tâm trí của những đứa trẻ em vùng quê khi vào những buổi trưa hè nóng bức mà được ngồi dưới gốc tre mà hát những bài ca đồng quê, thả những con thuyền tre. Chính những kí ước đó là hành trang cho bất cứ người con xa quên sau này đều nhớ về quê hương.

Không những vậy, hình ảnh dáng tre vững chãi đã đi vào những cuộc kháng chiến từ thời vua Hùng, Thánh Gióng lấy lũy tre làm vũ khí đánh tan quân thù, đến hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ những dụng cụ làm từ tre: cày, cuốc… cũng được Bác nhắc đến trong bài kêu gọi toàn dân kháng chiến… Chính vì những điều đó mà cây tre từ lúc nào đã trở thành biểu tượng cho làng quê Việt Nam.

Văn Mẫu Lớp 8: Thuyết Minh Về Cây Đào Ngày Tết Dàn Ý & 14 Bài Văn Thuyết Minh Hay Nhất

Dàn ý thuyết minh cây hoa đào (2 mẫu)

Thuyết minh về cây hoa đào ngắn gọn (4 mẫu)

Thuyết minh về cây hoa đào đầy đủ (10 mẫu)

I. Mở bài:

– Dẫn dắt giới thiệu đến vấn đề mà đề bài yêu cầu: Thuyết minh về hoa đào.

Ví dụ:

II. Thân bài:

1. Nguồn gốc và xuất xứ của hoa đào

– Nhiều người cho rằng cây hoa đào có nguồn gốc xuất phát từ Ba Tư (Persia) bởi tên khoa học của cây hoa này là “Persica”. Tuy nhiên, ý kiến này lại chưa có bằng chứng xác thực để chứng minh.

– Nhiều người thống nhất một điều rằng cây hoa đào lại có nguồn gốc từ Trung Hoa xưa (Trung Quốc ngày nay). Có lẽ việc giả thuyết cây hoa đào có nguồn gốc từ Ba Tư là do hoa đào được đưa vào đất nước này qua “con đường tơ lụa” vào khoảng thiên niên kỷ 2 TCN. Người ta cho rằng người Trung Hoa đã biết trồng đào từ rất nhiều năm về trước.

2. Hình dáng và các bộ phận của hoa đào

– Rễ đào: Là dạng rễ cọc, có khả năng cắm sâu vào lòng đất giúp cây chịu hạn tốt. Bởi vậy, những cây đào chơi Tết ta thường hay thấy không cần tưới nước thường xuyên mà vẫn tươi.

– Thân đào, cành đào: Thân, cành thường có màu xanh, màu nâu sáng hoặc màu đỏ tía. Ngoài ra còn có một số loại hoa đào có thân màu trắng mốc như đào phai, đào mốc chẳng hạn. Thân cây thường to cỡ khoảng cán chổi hoặc to hơn một chút tùy theo loại.

– Lá đào: Lá nhỏ, màu xanh non mơn mởn. Đầu lá hơi nhọn, hình mũi mác.

– Nụ hoa: Nụ hoa nho nhỏ như hạt sen, màu hồng xinh đẹp. Đế màu xanh nhạt ôm lấy nụ hoa. Sắc hồng tùy theo từng loại hoa mà đậm nhạt khác nhau.

– Hoa đào: Đây là bộ phận đẹp nhất của cây. Hoa đào có trung bình khoảng từ 5 cánh đến hơn 20 cánh tùy theo từng giống hoa. Màu sắc cũng đa dạng khác nhau. Cánh hoa có nhiều hình dạng: hoa cánh đơn, cánh mai, cánh cúc… Những cánh hoa ôm ôm lấy nhau, che chở nhụy hoa bên trong. Mỗi bông hoa đào giống như một đốm lửa nhỏ ngày xuân, giữa cơn mưa phùn sáng lên một sắc rực rỡ.

– Quả đào: Thuộc loại quả hạch, phần thịt mềm có hai màu là màu trắng và màu vàng. Vị quả đào có thể chua, có thể ngọt tùy vào từng loại. Lớp vỏ ngoài có sắc xanh hoặc sắc hồng đỏ, có một lớp lông mỏng.

3. Phân loại hoa đào

– Đào bích: Loại đào phổ biến nhất hiện nay. Cánh hoa màu đỏ, cánh to và có nhiều.

– Đào thất thốn: Dáng cây rất bé, thân cây xù xì, mốc meo. Loài hoa này rất đẹp, có hai màu là màu nhung đỏ và màu hồng phai. Hoa có hương thoang thoảng. Khi rụng xuống cũng không rụng cánh mà ở nguyên trên đài. Hoa mọc thành từng chùm rất đặc biệt.

– Đào phai: Cánh hoa màu hồng, phần rìa cánh hơi nhạt dần. Một bông cũng có khá nhiều cánh.

– Đào bạch: Giống như tên gọi của nó, cánh hoa có màu trắng, nhụy hoa màu vàng sáng. Số cánh hoa trong một bông không nhiều.

– Đào mốc, đào đá: Thân cây xù xì. Đây là loại đào phai mọc trong rừng sâu, núi cao…

4. Ý nghĩa của hoa đào

– Trong văn hóa, cây hoa đào và cây đào đã xuất hiện từ lâu, trở thành loài hoa phổ biến. Trong văn hóa cổ truyền Việt Nam, hoa đào là loại cây rất nhiều người mua về đặt trong nhà, với mong muốn sắc hồng của hoa đào hứa hẹn một năm mới tốt lành, may mắn.

– Trong văn học, hoa đào xuất hiện từ những câu ca dao của người xưa, đến những câu thơ, câu ca của nhiều nhà thơ, bậc hiền triết.

– Quả đào còn có giá trị kinh tế trong việc xuất khẩu. Đồng thời, đào cũng là loại hoa quả được ưa chuộng, trở thành nguyên liệu trong quá trình làm các món tráng miệng.

5. Cách chăm sóc và gieo trồng hoa đào

– Để có một cây hoa đào đẹp, cần chú ý đến rất nhiều yếu tố như nước, ánh sáng, gió cũng như thời gian gieo trồng.

– Biện pháp chăm sóc cũng rất quan trọng nữa.

III. Kết bài: Nêu cảm nghĩ của bản thân về vẻ đẹp và ý nghĩa của hoa đào.

…..

Như một điều tất yếu, mỗi khi những cánh hoa đào hé nở là ánh nắng xuân ấm áp cũng hiện về cùng đàn én từ phương Nam, nhưng ông đồ già lại bày mực tàu giấy đỏ để viết những câu chúc năm mới. Hoa đào, từ bao giờ đã trở thành biểu tượng của mùa xuân.

Cây hoa đào có danh pháp khoa học là Prunus persica. Tên persica có lẽ có từ niềm tin ban đầu của người châu Âu cho rằng đào có nguồn gốc ở khu vực Ba Tư nay là Iran. Nguồn gốc hoa đào được khẳng định nhiều là bắt đầu từ Trung Quốc và được đưa vào Ba Tư theo con đường tơ lụa vào khoảng thời gian ban đầu của lịch sử nhân loại. Hiện nay, loại cây đã rất phổ biến ở nhiều nước trên thế giới có yêu cầu về độ lạnh phù hợp. Ở châu Á, đào thường được trồng ở Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam…

Cây hoa đào đẹp có hình dáng riêng, dễ nhận dạng so với những cây khác. Cây thuộc loại cây thân gỗ, nhỏ, màu nâu thẫm. Dáng cây hoa thấp, cao từ 1-3m. Cành cây nhỏ như cái đũa, lá có hình mũi mác, mọc so le với nhau. Mùa xuân chính là mùa hoa đào nở. Hoa có thể màu hồng đậm, hồng phớt hay màu hồng nhạt. Các cánh hoa mỏng, nhẹ, được xếp tầng lên nhau, ra hoa trước khi ra lá. Hoa đào có năm cánh thắm, ở giữa là nhị hoa màu vàng tươi trông rất bắt mắt. Cả cánh hoa và nhị hoa được nâng đỡ bởi sắc xanh non của màu lá tạo nên sự hài hòa về màu sắc cho cây.

Quá trình để một cây đào sinh trưởng và phát triển, có được thế và hoa đẹp, chưa bao giờ là dễ dàng. Tháng giêng, những cây đào đẹp đã chơi rồi hoặc những cây giống đẹp được giữ lại, người ta tỉa bớt cành lá đi. Trong quá trình chăm sóc, cây bắt đầu được uốn để tạo dáng trong 10 tháng. Đến tháng 11, lá đào được tuốt bớt để cây tập trung trổ hoa. Tùy vào thời tiết sẽ hãn, thúc, thiến cho hoa nở đúng dịp tết. Đến khi chọn đào về nhà, tùy loại đào mà có cách chơi khác nhau. Với đào cành, người ta hơ gốc trên ngọn lửa than hồng để nhựa không bị chảy ra và hoa lâu tàn. Với đào cây, khi đánh cây lên, chú ý không làm đứt rễ cái, không tưới quá nhiều nước vì đào không ưa nước. Khi chọn mua đào, tùy từng không gian mà chọn đào to hay nhỏ nhưng tán phải tròn, hoa dày và cây phải cân đối; nên mua cách tết 3-4 ngày để hoa tươi lâu.

Tùy vào các tiêu chí như màu sắc, hình dáng hay địa hình trồng mà hoa đào được chia thành nhiều loại khác nhau. Về màu sắc, ta có: Đào bích và đào phai, đào bạch. Đào bích là loại đào có cành tròn như chiếc ô, hoa màu hồng thẫm, nụ và cánh hoa chen chúc nhau. Đào pha có thân và lá giống đào bích nhưng hoa ít cánh hơn, màu phơn phớt hồng, đượm vẻ thanh tao, kín đáo. Đào bạch lại có hoa trắng như tuyết và có mùi hương thoang thoảng. Nếu xét cánh hoa, ta có đào đơn và đào kép. Đặc biệt, một giống đào khá được yêu thích hiện nay, đó là đào rừng. Cây có nhiều ở vùng biên giới phía Bắc. Thân cây xù xì, rêu mốc, ít hoa và nở muộn nhưng lại thể hiện được sự hoang sơ và thường chỉ chơi cành đào, ít ai chơi cây cả. Hay một loài đào nghệ thuật mang tên: đào thế- loại đào được trồng và chăm sóc hàng chục năm thì cây mới có dáng đẹp. Các nghệ nhân thường tạo thế long, phượng, thế trực hay thế ngoảnh cho cây.

Những làng trồng đào nổi tiếng ở miền Bắc như làng đào Nhật Tân. Đây là làng nghề đã có mấy trăm năm tuổi, chuyên trồng đào cung cấp cho miền Bắc.

Hoa đào được chọn là hoa của mùa xuân, của ngày tết vì những ý nghĩa của nó. Hoa đào là biểu tượng của sự viên mãn, hòa hợp giữa màu xanh của sự sống ở lá, màu hồng đỏ của lộc ở hoa và màu vàng tươi mới ở nhị. Đào về mang không khí ấm áp của mùa xuân và cho người ta cảm giác an yên, tự tại. Trong tâm thức của người Trung Quốc cũng như người Việt ở miền Bắc, đào còn một ý nghĩa nữa. Chuyện kể rằng: Ở phía Đông, có hai vị thần: thần Trà và thần Uất Lũy ngự trên cây hoa đào khổng lồ. Ma quỷ rất sợ uy vũ của hai vị thần nên sợ luôn cả cây hoa đào. Ngày cuối năm, khi hai vị thần phải lên chầu Ngọc Hoàng thì ma quỷ lại đến sách nhiễu nhân dân. Vì thế, người dân bảo nhau trồng hoa đào ngày tết, để trong nhà tránh ma quỷ. Từ đó, trong những ngày tết, nhà nào cũng chơi hoa đào như một tục lệ truyền thống. Hoa đào còn xuất hiện trong những giáo lí nhà Phật, như một sự thoát độ.

Trong cuộc sống hiện đại, những lễ tết truyền thống đã thay đổi và được giản lược khá nhiều. Nhưng một cành đào, một sắc đào trong nhà thì vẫn không thể thiếu. Bởi có đào mới gọi là Tết.

Hà Nội vào xuân náo nức lòng người. Ngày Tết không thể thiếu hoa đào – một loài hoa biểu tượng cho mùa xuân và sức sống bất diệt của miền Bắc.

Tiết xuân se lạnh, những hạt mưa xuân giăng nhè nhẹ tô thắm cho hoa, làm cho chồi non lộc biếc nở rộ trong các vườn hoa Nhật Tân, Quảng Bá, Thụy Khuê, Ngọc Hà. Hoa theo các cô hàng hoa tràn vào ba sáu phố phường Thủ đô.

Người ta chuộng chơi đào ngày Tết có lẽ vì hoa đào có màu hồng đỏ mang lại may mắn, phúc lộc đầu năm. Các cụ ngày xưa thường bảo cắm cành đào trong nhà là cản được gió độc, đuổi tà khí ra ngoài. Cây đào chỉ trồng được ở miền Bắc, hoa nở vào mùa xuân nhưng muốn cho hoa nở đúng thời vụ thì lại là một vấn đề phức tạp.

Nó đòi hỏi nhiều kinh nghiệm của người trồng hoa. Muốn có hoa đào chơi Tết, tháng mười một, cây đào đã phải chịu đớn đau, bị bỏ đi hết lá, để nhựa cây tích tụ vào thân làm nụ. Tùy theo thời tiết nóng hay rét nhiều mà người trồng đào phải thúc hay hãm (Thúc là bón cho cây phát triển nhanh hơn. Hãm là khía nhiều vòng quanh thân cho nó phát triển chậm lại).

Thường hoa đào là một trong các thú chơi dân gian của người Hà Nội. Người chơi đào thích đào Sapa vì cái vẻ xù xì rêu mốc của cành, loáng thoáng nụ và hoa được ăn trong lá thể hiện một sức sống mãnh liệt chiến thắng mọi thử thách. Từ xưa, hoa đào đã đi vào thơ ca làm xúc động lòng người. Trong tác phẩm Truyện Kiều, Nguyễn Du đã nhiều lần nói tới hoa đào, như:

“Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông”

Mùa xuân năm Kỷ Dậu, vua Quang Trung sau khi đại thắng quân Thanh đã mang cành đào từ Thăng Long vào Phú Xuân tặng công chúa Lê Ngọc Hân – vợ yêu của mình để báo tin chiến thắng.

Trong lịch sử dược học Á Đông, hoa đào được dùng sắc uống lấy làm thuốc chữa bệnh thủy thũng và bí đại tiện. Nhân hạt đào có chứa dầu béo amygdalin và men amusing. Danh y Tuệ Tĩnh đã nhiều lần nhắc đến tên các vị thuốc có hoa đào trong cuốn sách nổi tiếng “Tam dược thần hiệu”.

Tết miền Bắc có hoa đào mới là Tết. Cành đào là vẻ đẹp mùa xuân giống như trong Nam có mai vàng. Nhiều nhà có điều kiện có thể chơi một cành đào ghép mận ba tầng, giá trị bằng vài năm tiền lương, không thì một vài cành đào cũng xong nhưng không thể thiếu. Thiếu hoa đào cũng tẻ nhạt như thiếu bánh chưng xanh, câu đối đỏ, tràng pháo hồng.

Hoa đào không chỉ là vật trang trí, làm cảnh bình thường. Nó còn tượng trưng cho sự may mắn, phúc lộc. Người Việt Nam quan niệm có cành đào trong nhà thì sẽ xua đuổi được tà ma, ám khí. Vì thế, trong những ngày Tết, dù bận đến mấy, ai cũng cố mua cho gia đình một cành đào.

Mùa xuân thật kì lạ! Đúng là muôn hồng nghìn tía, cái đẹp đến từng nhà, từng người và hoa đào chính là phần thưởng xứng đáng của thiên nhiên, đất trời, ai cũng có thể hưởng và chắc chắn hoa đào sẽ còn lại mãi với thời gian như lời thơ của Chế Lan Viên:

Vào dịp Tết Nguyên Đán, nếu hoa mai là đặc trưng của mùa xuân phương Nam thì hoa đào lại tiêu biểu cho mùa xuân phương Bắc. Tết đến, chắc chắn các bạn sẽ bị cuốn hút bởi vẻ đẹp mê hồn của những cành đào, cây đào được bàn tay con người chăm chút kĩ lưỡng và trân trọng.

Cây hoa đào xuất hiện ở nhiều nước châu Á như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản… Trước kia, ở Việt Nam, cây đào chỉ trồng được từ vùng Nghệ – Tĩnh trở ra. Làng Nhật Tân, ngoại thành Hà Nội là xứ sở của hoa đào. Ngày nay, ở Đà Lạt (miền Nam) cũng đã trồng được loại đào ghép nhưng không đẹp bằng đào Hà Nội.

Cây hoa đào có nhiều giống, phổ biến nhất là đào bích, bông hoa nhiều cánh màu hồng thẫm, phủ từ gốc tới ngọn. Đào phai hoa màu hồng nhạt, đào bạch hoa màu trắng, tương đối khó trồng. Đào thất thốn cây thấp, hoa nhỏ màu độ thắm, thường được trồng vào chậu và uốn thành các dáng thế theo ý muốn. Các giống đào này đều chỉ cho hoa chứ không cho quả.

Cây đào ưa đất thịt, đất phù sa, phân mùn và cần nhất là không gian thoáng đãng, nhiều ánh sáng. Cây đào rụng lá hàng năm vào mùa đông, đến mùa xuân lại nảy lộc, ra hoa. Vì vậy, người trồng phải có kinh nghiệm và hiểu biết kỹ thuật để làm cho cây đào nở hoa đúng vào dịp Tết. Giữa tháng Chạp (12 Âm lịch), nụ hoa hé là vừa. Nếu trời trở gió nồm, thời tiết ấm lên thì hoa có thể nở sớm. Muốn hãm thì phải ngưng tưới để đất hơi khô.

Cách Tết độ vài ngày, hoa đào bắt đầu nở lác đác. Những cánh hoa hồng thắm chi chít khắp cành. Từng chùm lá non xanh như ngọc bích rung rinh trước gió. Sáng mồng Một Tết, hoa đào nở rộ, hương thơm nhẹ nhàng, thoang thoảng. Một màu hồng rực bao phủ khắp cây đào, tạo ngôn vẻ đẹp có sức quyến rũ lạ lùng. Nhìn hoa đào nở, lòng người hân hoan xúc động trước linh hồn của mùa xuân.

Trong hàng trăm ngàn loài hoa, hoa nào cũng có vẻ đẹp riêng, nhưng đặc biệt hơn cả là hoa đào mang tới cho con người sức sống rạo rực của mùa xuân. Màu hồng của hoa đào như một lời chúc tốt lành, đem lại sự may mắn trong năm mới. Cùng với hoa mai miền Nam, hoa đào miền Bắc đã góp phần tô điểm cho sắc xuân tuyệt vời của đất nước Việt Nam yêu dấu.

Hàng năm mỗi độ tết đến xuân về, tiết trời ấm áp là lúc hoa đào bắt đầu nở rộ. Hoa đào sẽ tô thêm vẻ đẹp cho hương sắc của mùa xuân, khiến cho cái tết của mọi nhà thêm ấm áp. Hầu hết các tỉnh ở Bắc Bộ đều coi hoa đào là đặc trưng trong ngày tết của mình.

Người ta đã đặt cho đào với tên khoa học là Prunus Persica. Có nhiều giống đào nhưng đào bích được coi là giống đào đẹp nhất. Hoa đào bích có nhiều cánh xếp chồng lên nhau màu hồng thẫm, loại này được trồng để chỉ lấy hoa. Giống thứ hai là giống đào phai, hoa có năm cánh, cánh màu phớt hồng, được trồng để lấy quả. Giống đào bạch hiếm thấy, cây nhỏ ít hoa có màu trắng tinh khiết. Đào thất thốn có hoa màu đỏ thẫm, khó trồng, khó chăm sóc, nên ít được người ta trồng.

Mùa xuân đến hoa đào nở rộ, cánh đào mỏng mềm và mịn như nhung, có những năm khi tết đã đến, xuân về nhưng tiết trời lạnh, hoa đào không thể nở được. Đào mọc thành từng bông riêng lẻ chứ không mọc thành chùm. Hoa đào thường nở 4-5 ngày thì tàn. Để cho ra một cây hoa đào đẹp, người trồng đào phải mất rất nhiều thời gian và công sức để trồng đào.

Đào trồng để ăn quả thì không phải chăm sóc nhiều. Từ việc đốn cành tỉa lá uốn cây theo các thế khác nhau đều phải rất tỉ mỉ và khéo léo. Trước tết khoảng 15 ngày, người trồng đào phải tuốt lá để đào sai hoa vào đúng dịp Tết. Ngày tết mà có cảnh đào trong nhà, sẽ tạo nên sự ấm cúng, một năm mới đủ đầy của mỗi nhà.

Bên cạnh bánh chưng xanh, câu đối đỏ, mâm cỗ tất niên là cành đào nhỏ, góp phần tăng thêm hương vị cho ngày tết. Đào không chỉ góp phần tô đậm thêm cho hương sắc của mùa xuân mà còn là loại cây mang lại giá trị kinh tế cao. Tùy thuộc vào mức độ đẹp và to nhỏ khác nhau mà mỗi cây đào có giá khác nhau, chúng có giá từ vài chục nghìn đến vài triệu đồng.

Hoa đào cùng với bánh chưng xanh là thứ không thể thiếu trong dịp lễ tết cổ truyền của dân tộc. Khách du lịch đến Việt Nam coi cành đào là món quà mang giá trị tinh thần lớn, những người con xa xứ khi ngắm cành đào lại nhớ về quê hương, như được sống với không khí tết của quê hương mình.

Cây đào không chỉ để làm cảnh, lấy quả mà còn dùng để chế thuốc rất hiệu quả. Hoa đào được chế làm thuốc đắp mặt, đem lại là da mát, mịn màng, hồng hào cho người phụ nữ. Hoa đào còn được chế thành thuốc chữa bệnh bí đại tiện rất hiệu quả.

Xã hội phát triển, con người có nhiều thứ để bày trong ngày tết, nhưng hoa đào vẫn luôn được mọi người yêu thích. Dù có những lễ vật sang trọng đến đâu, người ta vẫn muốn có một cây đào đẹp trong ngôi nhà của mình vào dịp tết.

Mùa xuân đến cùng với những đàn chim én bay lượn trên bầu trời, với cơn mưa xuân nhẹ nhàng và đặc biệt là có không khí tươi vui chào đón năm mới. Sự hân hoan náo nhiệt đón Tết ngập tràn cả đất nước ta. Miền Nam là những cành mai phơi phới vàng tươi đầy sức sống. Còn miền Bắc chúng ta nở rộ giữa sự se lạnh còn vương vấn của mùa đông ấy lại là những cây hoa đào đỏ thắm, đỏ tươi hay màu hồng nhạt. Hoa đào là một trong những cần thiết mỗi dịp tết đến ở miền Bắc. Thiếu đi cành đào năm mới như mất đi hương vị của ngày tết đối với người dân nơi đây.

Đào là cái tên rất quen thuộc với chúng ta. Đối với khoa học tên của nó là Prunus Persica. Đào có nguồn gốc từ Trung Quốc, là một cây ăn quả. Sau đó cây đào được trồng ở vùng Nghệ Tĩnh Việt Nam ta, ngày nay ở làng Nhật Tân – ngoại thành Hà Nội cũng trồng hoa đào, nơi đây còn gọi là xứ sở hoa đào. Ngoài ra ở Đà Lạt còn có thể trồng một loại hoa đào ghép khác tuy nhiên vẫn không thể sánh bằng đào Nhật Tân.

Chắc hẳn ai cũng biết được hình dáng cây đào thân quen này. Đào là cây thân gỗ, nhưng rất mềm, dễ uốn, cao từ 10-15cm. Thân đào gồm rất nhiều nhánh nhỏ, vở sần sùi, màu nâu, lá đào hình mũi mác dài 2-3cm. Hoa đào nở rộ vào cuối mùa đông, đầu mùa xuân. Cách phân chia cành và số hoa mỗi cành của mỗi loài mỗi khác, thông thường thì mỗi đốt sẽ có từ 1-2 bông hoa.

Mỗi loại đào thường có một sắc thái riêng của nó như màu đỏ son, đỏ tươi, hồng đậm, hồng nhạt, chủ yếu là gam màu nóng. Cánh đào xen kẽ lẫn nhau khum khum lại để lộ ra nhị hoa màu vàng với mùi thơm nhẹ, thoải mái. Dựa theo số cánh mỗi bông, đặc điểm bên ngoài mà người ta chia đào thành nhiều loại nổi bật là đào bích, đào phai.

Ngoài ra người ta trồng đào còn dựa vào cách trồng mà phân chia đào thành hai loại chính là đào thế và đào cành. Đào thế có tuổi ít nhất là từ hai năm trở lên,thân càng xù xì càng tốt. Người ta uốn các tay đào thành các thế khác nhau. Khi bán đào thế thì phải bán cả cây nên loại đào này thường rất đắt. Ngược lại, đào cành chỉ bán cành giữ lại gốc để tiếp tục trồng nên giá rẻ hơn rất nhiều.

Trồng đào gồm rất nhiều giai đoạn khác nhau. Đầu tiên, phải trồng ở những nơi có đất cao, trồng thành luống xung quanh là rãnh sâu. Người ta sẽ lấy gốc cây đào hạt ươm thành cây sau đó ghép với đào bích, đào phai. Người trồng sẽ phải chăm sóc cây đào đến tận tháng Tám âm lịch rồi mới bắt đầu tuốt lá. Việc này đòi hỏi rất nhiều công sức của người trồng.

Bởi lẽ tuốt lá phải tuốt nhẹ nhàng dần dần cho đến hết. Đặc biệt giai đoạn này còn cần người trồng phải biết trước thời tiết. Nếu Tết nóng thì sẽ tuốt lá muộn hơn. Còn nếu Tết lạnh thì phải tuốt lá sớm. Đồng thời, khi chăm sóc đào cần phải chú ý các loại sâu đục thân… Cây đào bị ứa nhựa hay nổi mụn gỗ thì phải bắt sâu ngay.

Việc mua đào sắm tết dường như đã trở thành thói quen hay một truyền thống của người dân miền bắc trong những ngày tết đến. Và đương nhiên ai cũng có một cách thưởng thức của riêng mình. Đối với đào thế thì thường được trồng trong chậu hoắc trông xuống đất trong vườn. Đào cành thì cắm vào lọ, trang trí ở trong phòng khách hoặc trên bàn thờ. Khi mua về thì nên cắm cành đào vào trong lọ 3-4 tiếng, nước ngập đến cổ. Để giữ đào lâu tàn hơn thì người ta thường dùng vôi bôi ở mặt cắt cuống hoặc dùng lửa đốt cho héo mặt đốt rồi cắm vào lọ. Đặc biệt nước trong lọ phải đầy.

Theo tương truyền, cành đào có khả năng đuổi tà ma đem lại sự ấm áp cho những ngày tết ở miền bắc. Với màu sắc tươi vui, đào đem đến xuân đầy sức sống với những niềm vui, những hứa hẹn năm mới Ngoài ra đào cũng được coi là một đề tài quen thuộc của thơ ca. Bóng cây đào thấp thoáng trong những bài thơ, câu văn của các tác giả Việt Nam như bài thơ “Ông Đồ” của Vũ Đình Liên:

Không chỉ thế đào được sử dụng như một vị thuốc hiệu quả. Đào có thể làm thuốc đắp mặt khiến cho làn da mịn màng. Danh y Tuệ Tĩnh cũng nhắc nhiều đến đào trong cuốn sách y học của mình.

Cứ mỗi năm, mùa xuân nối tiếp mùa xuân, hoa đào rồi lại tàn. Thời gian cứ trôi mãi trôi mãi chẳng dừng lại. Cuộc sống rồi sẽ thay đổi, con người thay đổi nhưng hoa đào vẫn thế, vẫn là một thứ không thể thiếu trong dịp tết cổ truyền. Đồng thời, hoa đào cũng đã vượt qua nghìn cây số đến với miền Nam. Và mai cũng đã đến với miền bắc chúng ta tạo ra sự giao lưu văn hóa giữa hai miền Nam-Bắc. Hoa đào quả là một loài hoa đẹp, ý nghĩa với tất cả chúng ta.

Nói về ngày lễ ở Việt Nam, không thể quên nhắc đến Tết. Nhắc đến Tết không thể quên nồi bánh chưng và cành mai, cành đào. Hình ảnh hoa đào, hoa mai đã trở thành linh hồn của ngày Tết. Nói đến mai là miền Nam rực rỡ sắc vàng, còn đào lại là sắc hồng thắm của miền Bắc. Hoa đào đã trở thành nét riêng của miền Bắc Việt Nam.

Trước hết, có thể lí giải vì sao hoa đào là nét riêng của miền Bắc. Miền Bắc có khí hậu khá khác so với miền Nam. Miền Bắc vào mùa đông chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc tràn về nên có nền nhiệt thấp, lạnh. Khi sang xuân, thời tiết ấm áp dễ chịu. Xuân sang cũng là lúc đào nở rộ. Cây đào rất kén nhiệt và nơi sinh sống.

Đào không chịu được nhiệt độ quá lạnh, cũng không chịu được quá nóng. Đào cần được trồng ở những nơi nhiều ánh nắng và thông thoáng gió. Ở nhiệt độ quá lạnh, đào sẽ không thể nở hoa và phát triển. Chồi hoa bị chết ở nhiệt độ -15 đến -25 độ C. Sau khi hoa tàn, quả đào sẽ phát triển và chỉ chín được vào mùa hè với nhiệt độ lý tưởng là 20 đến 30 độ C.

Quả đào là một loại trái cây được yêu thích. Đào có rất nhiều loại: đào bích, đào phai, đào bạch… Nhưng phổ biến nhất vẫn là đào bích. Đào bích có nhiều cánh, cánh hoa màu đỏ thắm. Đào phai có màu sắc nhạt hơn, cánh hoa đã chuyển sang màu hồng. Đúng như tên gọi, đào bạch màu trắng, là loài hoa hiếm và khó trồng nhất.

Hoa đào được trồng ở hầu hết các tỉnh miền Bắc như Lạng Sơn, Lào Cai, Hà Nội.. Được ưa chuộng nhất vẫn là đào Nhật Tân. Nhật Tân là vườn đào nổi tiếng ở Việt Nam. Nơi đây nằm ở vùng đất ven sông Hồng ở Hà Nội. Vườn đào này nổi tiếng không chỉ bởi quy mô mà còn cả chủng loại và chất lượng đào. Hoa đào rất thích hợp với loại đất ven sông nhiều phù sa nên chất lượng đào ở Nhật Tân được đánh giá cao là vì thế. Cây đào có nguồn gốc từ Trung Quốc, được lựa chọn và lai giống để có màu sắc tươi và rực rỡ hơn.

Cây đào khá kén chăm sóc và tưới bón. Nếu không chăm sóc tốt, tưới tiêu phù hợp, đào sẽ không thể nở hoa đẹp hoặc nở đúng thời kỳ. Ngoài ra cũng còn dựa vào khí hậu thời tiết, đào sẽ ra hoa vào lúc nào. Cũng như mai, đào muốn nở hoa, người trồng đào phải tuốt lá trước khoảng hai tuần để nụ hoa đơm ra, hoa nở đúng mùa vụ. Mỗi năm, hoa đào chỉ nở một lần vào mỗi độ sang xuân.

Vào hè quả đào sẽ chín. Quả đào thường có vị chua, là loại trái cây yêu thích của nhiều người. Lá đào không giống lá mai. Lá đào dài hơn, có vân là răng cưa, màu xanh lá nhạt không đậm, rì như lá cây mai. Cành đào cũng mảnh và mỏng hơn so với cây mai. Cánh đào tương tự cánh mai, mỏng, nhẹ.

Hoa đào có nhiều cánh cứ đan xen vào nhau mang màu hồng thắm hoặc nhạt theo từng giống đào. Hoa đào nở rất nhanh, tàn cũng rất nhanh. Trung bình một bông hoa từ lúc thành nụ đến khi tàn là khoảng 2 đến 3 tuần. Khi đào nở bung chuẩn bị tàn, chỉ cần một làn gió nhẹ thổi qua, cánh hoa đào cũng sẽ rơi xuống hệt như hoa anh đào của Nhật Bản.

Tùy theo chủng loại, tuổi đời và cách chăm bón, cây đào có nhiều kích thước khác nhau. Có thể rất nhỏ hoặc rất lớn. Rễ cây đào là rễ cọc, luôn có thân giữa cứng cáp to lớn làm trụ. Trung bình một cây đào cao khoảng 1 mét trở lên. Cây đào có nhiều cành, cành mềm dẻo dễ uốn nắn. Vì thế mà người trồng đào có thể uốn nắn theo từng hình dáng, tướng tá khác nhau. phù hợp với thị yếu của người mua.

Hoa đào mang rất nhiều ý nghĩa. Trước đây, hoa đào mang tinh thần đuổi ma quỷ trong nhà. Ngày nay, hoa đào mang lại sự ấm cúng cho gia đình, mang lại sự an khang thịnh vượng. Vẻ đẹp đằm thắm, hài hòa và kín đáo của hoa đào mang lại niềm vui, niềm hi vọng mới. Không chỉ thế, hoa đào còn đại diện cho tình bạn thân thiết, của lòng hướng về gia đình. Bởi vậy mà những người con miền Bắc xa quê, những người bạn thân đến thăm nhau vào dịp tết thường chọn cành đào làm quà.

Hoa đào ngày nay đã trở thành tinh thần ngày tết, hồn dân tộc Việt. Vì thế, nên những người Việt xa quê, đón Tết tại nơi xứ người, luôn muốn tìm một cành đào để trang trí trong nhà, để họ cảm thấy một cái tết Việt Nam. Sắc hồng thắm nhẹ nhàng của đào là hương vị không thể thiếu của người Việt Nam. Thiếu đào, cái hơi thở của Tết chưa thật sự đúng nghĩa. Hoa đào, hoa mai là hình ảnh của Tết, là linh hồn của ngày Tết quê hương.

Đào khoe sắc thắm báo hiệu một năm đã qua, năm mới lại về. Năm mới với những thử thách mới, hi vọng mới, niềm tin mới. Sắc đào rộ lên là lúc báo hiệu thời khắc thiêng liêng của một năm lại tới. Người người ai ai cũng quây quần đoàn tụ với gia đình. Dù ai đi ngược về xuôi vẫn nhớ đến gia đình quê hương mà tìm về vào dịp Tết không quên mang theo cành đào, cành mai về làm quà.

Nói đến mùa xuân đất Bắc ta nghĩ ngay đến hoa đào – loại hoa đặc biệt mỗi dịp xuân về. Mùa xuân về trên những cành hoa ửng hồng duyên dáng và đất trời bồi hồi thổn thức, ấy là xuân, ấy là sắc hoa, Cây đào là loại hoa đặc biệt của Tết Nguyên Đán. Nhiều người chuộng chơi hoa đào tết vì hoa đào có màu đỏ sẽ mang lại sự may mắn trong năm.

Mặc dù nguồn gốc được cho ở xứ Ba Tư xa xôi nhưng ngày nay hoa đào có mặt khắp nơi trên đất nước ta, đặc biệt là ở miền Bắc mỗi khi Tết đến Xuân về. Người ta yêu loài hoa này vì những giá trị thẩm mỹ và văn hóa của nó. Nó là một loài cây sớm rụng lá, thân gỗ nhỏ, có thể cao tới 5-10m. Lá của nó có hình mũi mác, dài 7-15cm và rộng 2-3cm.

Hoa nở vào đầu mùa xuân, trước khi ra lá, hoa đơn hay có đôi, đường kính 2,5-3cm, màu hồng, ở nước ta đào được quan tâm nhiều đến hoa mỗi độ xuân về. Hoa đào ở Việt Nam có bốn giống thường thấy là: Đào bích có màu hồng thẫm, đào phai hoa màu hồng nhạt, đào phai hoa kép, sắc hồng phảng phất kiêu kì, đào bạch màu trắng ít hoa hơn, tương đối khó trồng; đào thất thốn cây thấp nhỏ, hoa nhỏ và nhiều màu, thường được trồng vào chậu uốn thành các dạng thế.

Đào bích là loài hoa đào phổ biến, cành hoa thắm sắc, hoa rải đều khắp các cành, các tán, xen lẫn nụ hoa xinh với những lộc xanh, chen lẫn những cánh hoa xòe tán với những nụ vừa nhú. Bích đào dù được cắm trong lọ để phòng khách, trên bàn tiếp khách hay vài cành nhỏ cắm trên bàn thờ gia tiên cũng đều đẹp.

Người chơi công phu thì chọn đào tết từ trước đó cả tháng. Nào thì thế phương, thế rồng, nào thì đủ lộc đủ tán…còn kẻ mua hoa về cắm Tết cho đúng với khí xuân thì chỉ chăm chăm nhiều nụ nhiều lộc là được. Chọn được cành đào ưng ý mang về, phải có cái bình đẹp, đốt phần cắt cành để giữ lại nhựa mà nuôi sống thân cành, mà đơm cho hết những nụ hoa trên cành. Có nhà cầu kì chơi hoa đào từ sớm, qua Tết hết hoa, lại kiếm cành đào mới mà chơi cho đến tận rằm tháng Giêng. Ấy thế là mùa xuân cứ tưng bừng gần cả tháng trời.

Với văn hóa Việt Nam, hình ảnh hoa đào được gắn với hai vị thần Trà và Uất Lũy trú ngụ ở trên cây hoa đào khổng lồ che chở cho dân chúng. Hoa đào còn là hình ảnh những cô gái trẻ, mảnh mai, và yếu đuối, thể hiện qua thành ngữ “liễu yếu đào tơ”. Hoa đào còn có mặt trong văn học dân gian gắn bó với tình yêu và duyên nợ của trai gái:

Hay:

Ta còn bắt gặp hình ảnh hoa đào trong thơ Nguyễn Du, trong thơ Nguyễn Bính, thơ Vũ Đình Liên… và nhiều bài thơ hiện đại, tất cả đều tượng trưng cho mùa xuân, tuổi trẻ và sắc đẹp.

Hoa đào còn là một dược phẩm và mỹ phẩm độc đáo của nền y học cổ truyền. Từ xa xưa, sau dịp Tết Nguyên Đán, người ta thường thu hái hoa đào đem phơi khô trong bóng râm (phơi âm can) và bảo quản nơi cao ráo để làm thuốc dùng dần chữa nhiều chứng bệnh nhưng đặc biệt tốt với việc làm đẹp cho phụ nữ.

Hoa đào đã trở thành một loài hoa mang theo biểu tượng của mùa xuân. Và mãi mãi hoa đào mang xuân đến, mang niềm vui và may mắn, đồng hành cùng con người Việt Nam, bất chấp sự vô hạn của thời gian và sự hữu hạn của đời người.

Hoa đào tự bao giờ đã đi vào thơ ca một cách rất tự nhiên. Cứ mỗi dịp Tết đến xuân về có muôn trăm khoe sắc tỏa hương, đem đến bao sức sống mới về sự hồi sinh cho con người. Trong làn sương mỏng giăng mắc trên phố phường, làng xóm của phương Bắc có hình những bông hoa đào nở rộ đẹp đẽ và nổi bật.

Cây hoa đào thuộc họ hoa hồng xuất hiện ở nhiều nước Châu Á như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam…Riêng ở Việt Nam trước kia hoa đào chỉ được trồng ở miền Bắc, ngày nay hoa đào được trồng rộng rãi ở nhiều nơi nhưng không đâu có hoa đào đẹp ở miền Bắc đặc biệt là làng đào Nhật Tân ở Hà Nội.

Advertisement

Cây hoa đào có nhiều giống, nhiều loại với nhiều màu sắc khác nhau thường nở vào mùa xuân. Đẹp nhất là loại đào bích, loại đào này có nhiều cánh màu hồng thẫm, nằm dọc theo cành, là giống đào được dùng chơi trong ngày Tết cổ truyền ở Việt Nam. Ngoài ra còn có giống đào phai, cánh hoa màu hồng nhạt, sai hoa, sai quả nhưng thường được trồng để lấy quả. Còn một số loại đào khác như đào bạch, hoa màu trắng, ít cánh, thưa hoa, loại này tương đối khó trồng.

Đào thất thốn, cây thấp nhỏ, hoa màu đỏ thắm thường trồng trong các chậu, tạo thế, dáng theo ý muốn của con người. Ở miền núi phía Bắc có một loại đào rừng còn gọi là đào mốc, sở dĩ có tên gọi như vậy vì loại đào này thân xù xì, rêu mốc, nụ và hoa ẩn hiện trong lá non. Đào mốc có nhiều ở Sơn La, Lai Châu.

Những năm gần đây đào mốc đã rời bản về xuôi ăn Tết với đồng bằng. Cây hoa đào ưa trồng đất thịt, đất phù sa và phân mùn. Cây rụng lá về mùa đông, đến mùa xuân nảy lộc ra hoa. Thân cây xù xì, nhiều màu, màu nâu, lá đào nhọn, rìa á hình răng cưa. Hoa đào có năm cánh khi nở để lộ ra phần nhụy có màu vàng. Hương hoa đào man mác thoang thoảng.

Hoa đào mang theo vẻ đẹp của mùa xuân , người ta chuộng chơi hoa đào ngày Tết vì hoa đào có màu hồng đỏ đem lại sự may mắn, sinh lộc cho gia đình. Không những thế người Việt Nam ta còn có quan niệm ngày Tết có một cành đào nở rực trong nhà sẽ đuổi được tà ma, khí độc, vì thế mỗi dịp Tết đến xuân về cành đào lại xuất hiện trên bàn thờ hoặc ở một vị trí đẹp, thuận lợi trong nhà. Có lẽ Tết sẽ chưa trọn vẹn nếu thiếu một cành đào.

Trong lịch sử dược học Á Đông hoa đào còn được dùng để làm thuốc uống, chữa bệnh. Danh y Tuệ Tĩnh đã có lần nhắc tới tên các vị thuốc có hoa đào trong cuốn sách “Tâm dược thần hiệu”. Với phụ nữ Á Đông hoa đào còn có tác dụng giúp có một làn da trắng đẹp, mịn màng.

Để có một cây hoa đào nở đúng vào dịp Tết cổ truyền đòi hỏi người trồng hoa có một quá trình chăm sóc cẩn thận, tỉ mỉ. Thường thì sau khi chơi Tết xong người ta đem hoa đào ra vườn để trồng, đốn toàn bộ cành lá, sau đó chăm sóc, tưới, giữ ẩm để đào nảy lộc tốt. Trồng đào khoảng 6- 7 tháng người ta vặt toàn bộ lá của cây để đào phát triển nụ, tùy thuộc vào thời tiết mà người ta có cách chăm sóc cây để cho hoa nở đúng dịp chơi Tết.

Nếu thời tiết nắng ấm nhiều, trời nồm, hoa có thể nở sớm, muốn hãm độ nở của hoa thì phải ngưng tưới nước để đất hơi khô hoặc tưới ít nước mát để cây phát triển chậm lại. Ngược lại nếu trời lạnh thì hoa nở muộn, người trồng phải dùng nước ấm để tưới, dùng ni lông chăng kín vườn trồng đào, thắp bóng điện để sưởi ấm. Ngoài trồng bằng gốc có thể chiết cành để trồng hoặc trồng bằng hạt.

Bên cạnh thịt mỡ, dưa hành, bánh chưng xanh… thì cây hoa đào vẫn mãi không thể thiếu trong ngày Tết. Hoa đào mãi đem lại cho con người những giá trị tinh thần to lớn để rồi chúng ta phải lưu giữ những nét đẹp cổ truyền dân tộc Việt.

Cứ mỗi độ tết đến xuân về, nhà nhà lại sắm sửa đồ dùng để đón tết. Nào là bánh chưng, bánh tét, nào kẹo, mứt, hạt dưa, … để đón năm mới về. Và không thể thiếu ở trong mỗi gia đình là những bông hoa tươi, những cành đào thắm, những đóa mai vàng để không khí xuân sang thêm rực rỡ. Trong đó, ở miền Bắc, những cây hoa đào là loài cây được ưa chuộng nhất mỗi độ xuân về.

Nếu như người Nam Bộ ưa dùng nhành mai vàng thì ở miền Bắc, người ta lại ưa dùng những cành đào hồng. Cùng với quất và mai, cây hoa đào là một trong những loài hoa được sử dụng nhiều nhất mỗi dịp tết. Đào được cho rằng có nguồn gốc từ Ba Tư hoặc Trung Quốc. Nhưng điều này khó ai có thể biết rõ được bởi cây đào đã được người dân Việt truyền tay nhau trồng nên từ biết bao đời nay.

Vậy tại sao cây hoa đào lại là loài cây được người dân ưu ái, ưa dùng nhất mỗi khi dịp tết? Bởi vì hoa đào thường nở đúng dịp tết. Tuy thời gian nở hoa ngắn, nhưng lại mang một vẻ đẹp mà các loài hoa khác không thể có được. Còn theo truyền thuyết trong dân gian kể lại rằng, khi xưa, trên núi Sóc Sơn, có một vị thần cai quản nhân gian, giúp dân trồng trọt, trừ yêu. Nhưng ngày tết, vị thần này phải lên trời để dự tiệc bàn đào.

Điều này khiến cho dân chúng cảm thấy lo sợ. Vậy nên, thần đã bẻ một nhành cây mọc trên núi, rồi đưa cho người dân để trong nhà để xua đuổi tà ma. Sau đó, nhành cây này được mọi người chia nhau nhân giống rộng khắp nơi. Từ đó mà hình thành nên cây hoa đào cũng như truyền thống chơi đào của người dân khi tết về.

Cây hoa đào là một loài cây thân gỗ, thẳng đứng, sống lâu năm, thuộc họ hoa hồng. Thân cây cao khoảng từ một tới ba mét tùy thuộc vào môi trường sống cũng như quá trình chăm sóc mà cây có thể cao thấp tùy theo yêu cầu của người trồng cây. Thân đào có màu nâu, trơn bóng. Các cành cây thì mảnh dẻ tỏa ra bốn hướng.

Trên mỗi cành cây là lá đào mọc thành chùm, tầm ba đến bốn lá. Lá đào thon dài, độ khoảng mười lăm centimet. Không như hoa mai miền Nam ưa cái nắng nóng, hoa đào lại ưa cái thời tiết se se lạnh bốn mùa của miền Bắc. Chính vì vậy, đào thường trổ hoa vào những ngày giáp tết, khi cái lạnh còn chưa qua hết và cái ấm vừa mới sang .

Hoa đào màu hồng nhưng cũng có giống đào màu trắng. Hoa có năm cánh, hình tròn, xếp khít thành một vòng. Nhụy hoa màu vàng và có cuống hình ống. Hoa đào thành nụ trong cái rét nên chỉ chờ khi tiết trời ấm áp để bung nở, vừa đúng dịp xuân về. Khi đào kết quả thì có dạng tròn, thường được bao phủ một lớp lông tơ mịn bên ngoài, vị ngọt và khá giòn.

Cây hoa đào trông vậy nhưng nếu thật tinh mắt thì mới thấy, đào được phân ra thành nhiều loại khác nhau. Nếu dựa theo màu sắc của cánh hoa, ta có đào bích và đào phai. Đào bích là loại đào có hoa màu hồng đậm, thường được trồng ở các vùng giáp với Hà Nội, còn đào phai là loại đào có cánh màu hồng nhạt.

Đào phai chính là loại đào được người ta ưa chuộng nhất, cũng là loại đào được trồng trong cung vua ngày xưa. Người ta biết đến những vườn đào Nhật Tân nổi tiếng, những vườn đào rộng bát ngát bãi bồi sông Hồng chính là nơi trồng loại đào phai này bởi đào phai chỉ có thể trồng ở đất kinh kì Hà Nội.

Ngoài ra, người ta còn phân loại đào theo số lượng cánh hoa thành đào đơn và đào kép. Nhưng giống đào đặc biệt nhất phải kể ra là loại đào trắng chỉ có ở Sapa. Đào trắng thân thấp, hoa trắng có năm cánh, ưa cái lạnh giá buốt của Sapa. Người sành chơi đào nếu muốn có phải lặn lội săn tìm loài đào tận những khu rừng ở Sapa để mang về chơi dịp tết.

Bởi vì hoa đào thường được bày trong ngày tết nhưng vào độ một tháng trước tết, chúng ta có thể thấy đào được bày bán khắp mọi nơi. Dăm bảy loại đào với dăm ba kiểu dáng khác nhau cứ chen nhau tỏa hương sắc rực rỡ. Người chơi đào có khi chơi cả chậu, có khi lại chỉ chơi một cành đào phải nhỏ. Nhưng thấy đào, người ta dường như thấy cả tết, thấy cả một mùa xuân đầy may mắn về.

Vậy nên, ai đi xa mà trở về quê hương, người ta thường chọn một cành đào để mang về. Đó là món quà xa quê, món quà của lòng mong mỏi được trở về sum họp với gia đình. Vậy nên cây hoa đào không chỉ để trưng bày dịp tết, có giá trị về mặt thẩm mĩ, mà nó còn có tác dụng làm đẹp cho con người. Từ xưa, những người phụ nữ đã truyền nhau cách làm đẹp từ những cánh hoa đào này, đặc biệt là dùng để chăm sóc da.

Để có một cành đào đẹp trưng trong ngày tết thì trước đó cả tháng, người trồng đào đã bắt đầu ươm mầm, chăm bẵm cho cây. Những cây đào được ươm sẵn thành những cây cao khoảng một mét. Cách khoảng một tháng trước tết, đào được người trồng chăm sóc kĩ cho ra nụ hoa và uốn theo thế có sẵn, mà thường là thế rồng phượng uốn lượn, …

Vì cây đào ưa đất thịt, đất bùn, ưa không gian thoáng rộng và thường ra nụ trong dịp gió lạnh nên người trồng đào phải canh gió, canh lạnh cho cây. Đến khi nụ đào nở he hé, người trồng đào phải giữ nụ bằng kinh nghiệm và kĩ thuật của mình để cành cho đào nở đúng dịp tết. Đào ta ưa cái lạnh âm ẩm chứ không phải là rét buốt như đào của đất Sapa. Chờ tới khi gió xuân ấm về, cả vườn đào chợt bung tỏa hồng rực thì đó cũng là lúc tết đã về.

Cũng như bánh chưng, hoa đào đã trở thành nét đặc trưng không thể thiếu của không khí tết miền Bắc. Đó là loài cây báo hiệu mùa xuân về. Người ta quan niệm rằng nếu có một cành đào trong nhà ngày đầu năm thì năm đó, gia chủ sẽ đón tài lộc và may mắn cả năm. Bởi vậy, đào còn là sự may mắn, sự phúc lộc.

Dịp tết là lúc những người con trở về nhà cũng là lúc để những người xa quê hương tưởng nhớ lại quê hương. Trở về nhà với cành đào trên tay, tức là đã mang tết về nhà, mang tình thân về sum họp. Hoa đào muôn đời nay vẫn là biểu tượng của mùa xuân, của may mắn và hạnh phúc. Và nó sẽ luôn luôn là như vậy.

….

14 Bài Văn Thuyết Minh Về Vai Trò Của Cây Cối Trong Việc Bảo Vệ Môi Trường Sống

Bài văn thuyết minh về vai trò của cây cối số 8

Trái Đất là hành tinh xanh nơi con người sinh sống cùng thiên nhiên, cả hai có mối quan hệ mật thiết với nhau. Trong mối quan hệ đó rừng là một yếu tố cực kỳ quan trọng của tự nhiên ảnh hưởng trực tiếp đến con người và cả hệ sinh thái.

Rừng bao gồm sinh vật, đất và khí hậu tạo thành thể thống nhất, đó là mối quan hệ chặt chẽ hỗ trợ lẫn nhau. Rừng có ảnh hưởng rất lớn để con người. Thành phần chính của rừng là các cây xanh, không chỉ giúp tạo bóng mát mà cây xanh điều hòa khí hậu trong lành trong lành, sạch sẽ. Trái Đất mà thiếu đi cây xanh chắc chắn sẽ trở thành một nơi u ám, ô nhiễm, hạn hán ngập lụt triền miên. Không có cây xanh sự sống của con người sẽ chấm dứt.

Không có cây xanh sẽ gây ra xói mòn, gây lũ lụt, lở đất, nếu con người trồng nhiều cây xanh chắc chắn sẽ giảm nhẹ các thiệt hại thiên tai gây nên. Rừng còn có tác dụng điều hòa khí hậu, điều tiết dòng chảy của nước, hạn chế sức phá hoại của gió, ngăn sự di chuyển của cát vào trong liền, ngăn chặn đi các cơn bão gây thiệt hại cho con người. Về mặt kinh tế rừng cung cấp gỗ, củi, hoa quả cho chính con người chúng ta. Rừng là thành phần cực kỳ quan trọng của tự nhiên mà chúng ta nên bảo vệ giữ gìn.

Đất nước ta chiếm phần lớn là rừng, đồi núi, vì vậy có ảnh hưởng cực kỳ lớn đến con người. Nhiều người dân chưa hiểu rõ tầm quan trọng của rừng nên khai thác bừa bãi, đốn hạ tận diệt rừng, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống và thiệt hại kinh tế cũng như tác động xấu đến môi trường tạo ra xói lở, lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn ngày càng trầm trọng. Không chỉ vậy rừng bị mất đi đồng nghĩa với các loài thú bên trong cũng biến mất, gây nên sự tiệt chủng của nhiều loài động vật quý hiếm.

Hiện nay chính quyền đã quản lí chặt chẽ trong việc khai thác rừng, nhiều tổ chức tuyên truyền giúp người dân hiểu rõ về tác dụng của rừng với con người, đồng thời khai thác hợp lí kết hợp với việc tái tạo rừng nhằm phục hồi hệ sinh thái rừng tự nhiên một cách sớm nhất.

Hãy bảo vệ rừng ngay từ bây giờ đó cũng là bảo vệ cuộc sống của con người trên hành tinh xanh, giữ lấy Trái Đất mãi một màu xanh tự nhiên.

Bài văn thuyết minh về vai trò của cây cối số 12

Bài văn thuyết minh về vai trò của cây cối số 8

Sinh thời Bác Hồ ta đã nói:

“Mùa xuân là tết trồng cây

Làm cho đất nước càng ngày càng xuân”

Thật vậy những lời Bác nói chẳng có lời nói nào là sai là thừa cả. Cây cối xanh tươi có vai trò rất lớn với cuộc sống của con người chúng ta. Chẳng phải ngẫu nhiên mà Bác lại nói lên câu thơ như thế. Là một vị lãnh tụ đồng thời trí tuệ hơn người Bác dường như nhận ra vai trò của cây cối trong đời sống của con người trên trái đất này cho nên Bác đã để lại câu thơ muôn đời ấy nhắc nhở chúng ta. Vậy thì cây cối có những lợi ích vai trò gì?

Cây xanh là những thực thể thực vật của thiên nhiên có vai trò rất lớn đến việc trao đổi chất với môi trường. Còn môi trường thì ta có thể tạm thời định nghĩa là một tổ hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh bên ngoài của một hệ thống nào đó. Chúng tác động lên hệ thống này và xác định xu hướng và tình trạng tồn tại của nó.

Môi trường có thể coi là một tập hợp, trong đó hệ thống đang xem xét là một tập hợp con. Môi trường của một hệ thống đang xem xét cần phải có tính tương tác với hệ thống đó. Cây xanh có vai trò không thể thiếu trong cuộc sống của con người mà đặc biệt là nó có vai trò bảo vệ môi trường.

Có thể nói bảo vệ môi trường đồng thời cây xanh bảo vệ con người. Trước hết cây xanh bảo vệ tốt nguồn nước ngầm của chúng ta. Theo như những chứng minh khoa học thì cây xanh với những chiếc lá của mình sẽ ngăn chặn cho mưa rơi xuống đất nhanh chóng không những làm xói mòn đất mà còn trôi tuột đi không giữ lại được nguồn nước ngầm.

Chính vì thế mà những tán lá kia làm giảm đi điều đó, những hạt nước sau khi rơi xuống bị là cản lại chảy từ lá xuống cành sau đó thấm dần vào đất. Vậy nên mạch nước nguồn của chúng ta được đảm bảo. Không những thế chảy qua lá và thấm vào đất những chất độc hại đã bị lưu trên mặt đất nguồn nước ngầm trở nên sạch sẽ hơn. Không những thế mà nhờ hoạt động ấy mà trái đất tránh khỏi sự nóng lên.

Cây xanh còn bảo vệ môi trường đất của chúng ta. Theo như chúng ta đã biết thì những nơi có cây xanh thì độ che phủ lớn thì đất sẽ tránh khỏi những xói mòn rửa trôi. Đất cũng có rất nhiều chất dinh dưỡng để phục vụ mùa màng thế nên cây xanh chính có nhiệm vụ che phủ tránh cho đất khỏi những xói mòn rửa trôi khi mưa xuống.

Không những thế cây xanh còn có vai trò bảo vệ môi trường không khí. Theo nguyên lý sống của cây thì ban ngày nó nhả ra khí oxi mà hấp thụ khí CO2 vì thế cho nên những chất độc hại trong không khí hầu như là được hút sạch trả lại cho con người một bầu không khí trong lành khỏe mạnh. Nhờ thế mà cây xanh giúp cho chúng ta chống lại hiệu ứng nhà kính có sức hủy diệt ghê gớm. Thật mát mẻ biết bao khi mùa hè đến những bóng mát với khí oxi của nó sẽ khiến cho con người ta tránh được sự oi bức của nắng cùng những tia cực tím nguy hại có thể làm cho da người bị ung thư.

Tóm lại thì cây xanh có vai trò rất lớn trong bảo vệ môi trường thiên nhiên của chúng ta. Nó giúp ta chống lại những nguy cơ biến đổi khí hậu, những thiên tai cùng những hiệu ứng nhà kính có sức phá hoại ghê gớm. Nó giống như một máy điều hòa hoạt động suốt ngày suốt đêm mang lại cái mát mẻ cho cuộc sống của thiên nhiên cũng như con người. Trồng cây xanh là chúng ta đã làm giảm đi những thiên tai ấy, băng hai cực sẽ không bị tan ra trái đất không bị nóng lên.

Những ngày có cơn bão về thì cây cối như dang rộng những cành lá như những cánh tay vững chắc che chở cho con người. Cây sẽ hi sinh trước để cho con người sống sót. Xét một cách nhân văn thì cây cối giống như một bà mẹ cao cả của chúng ta vậy.

Đó là vai trò trong đời sống thiên nhiên của chúng ta cây xanh còn có vai trò trong đời sống xã hội và tâm hồn con người. Cây xanh trở thành một cảnh đẹp mà một đô thị nào cũng cần phải có ngoài những tòa nhà cao nhiều tầng. Nó mang lại màu xanh khát khao và hi vọng đồng thời nó thể hiện cho một nền hòa bình yên ổn ấm êm của một dân tộc.

Thử tưởng tượng nếu như một quốc gia một thành phố thiếu vắng đi những cây xanh ấy thì thử hỏi rằng có thấy sức sống không?. Vì thế mà cây xanh cũng trở thành hình ảnh trong hội họa, thành ý thơ trong những bài thơ thành nốt nhạc trong những bài hát.

Còn đối với cuộc sống hiện đại của chúng ta hiện nay không biết có bao nhiêu tòa nhà cao tầng mọc lên còn cây cối thì bị chặt đi để làm đường cao tốc. Ở những nơi chuyên trồng rừng thì cũng có khá nhiều khu đất bị bỏ hoang dẫn đến sa mạc hóa mà không làm gì. Có những nơi thì để cho cháy rừng lây lan làm giảm đi diện tích cây cối đất nước.

Bên cạnh đó xã hội phát triển với những ngành công nghiệp phát triển thì vô tình đã làm cho môi trường bị ảnh hưởng, Con người không ý thức được trách nhiệm của mình với môi trường sống cho nên đã thải trực tiếp chất thải qua môi trường. Chính vì thế mà gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến chính chất lượng cuộc sống của chúng ta.

Chính vì thế mà mỗi chúng ta hãy bảo vệ môi trường sống của mình bằng cách trồng nhiều cây xanh và xử lý chất thải trước khi đổ ra môi trường. Cây xanh không chỉ có vai trò thiên nhiên mà còn có vai trò đối với tâm hồn của chúng ta. Có thể nói nó không chỉ thanh lọc những chất bụi, cặn bã độc hại mà nó còn thanh lọc chính tâm hồn của con người.

Bài văn thuyết minh về vai trò của cây cối số 12

Bài văn thuyết minh về vai trò của cây cối số 13

Bài văn thuyết minh về vai trò của cây cối số 12

Ngày nay, ô nhiễm môi trường không chỉ là mối nguy hại của một xã hội mà nó trở thành vấn nạn của toàn cầu. Từ lâu, các chuyên gia, nhà nghiên cứu đã không ngừng tìm cách giảm ô nhiễm môi trường. Trồng cây gây rừng là một cách thực sự hữu ích. Chúng ta không thể phủ định vai trò của cây xanh trong việc làm giảm ô nhiễm môi trường.

Cây xanh có vai trò vô cùng to lớn trong cuộc sống của chúng ta. Từ xa xưa đến nay, cuộc sống của loài người luôn gắn bó và không thể tách rời khỏi thiên nhiên, con người dựa vào thiên nhiên để sống. Cây xanh và môi trường tác động qua lại lẫn nhau, bổ sung và hỗ trợ nhau trong sự phát triển hài hòa của xã hội.

Cây xanh đóng vai trò vô cùng to lớn trong việc bảo vệ môi trường. Chúng ta đều biết hiện nay ô nhiễm môi trường đang là vấn đề hết sức đáng lo ngại ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Hiện tượng trái đất nóng lên, ô nhiễm tiếng ồn, ánh sáng, khói bụi từ các nhà máy, xí nghiệp, giao thông,… tất cả gây nhiều ảnh hưởng xấu tới đời sống và nguy hiểm trực tiếp đến sức khỏe người dân. Cây xanh được coi là lá phổi xanh của xã hội.

Trồng nhiều cây xanh giúp cung cấp một lượng lớn oxy cho chúng ta thở. Trung bình cứ một cây xanh quang hợp có thể cung cấp đủ lượng oxy cho bốn người. Đồng thời chúng cũng hấp thụ C02, amoniac, S02, Nox, bụi bẩn,… từ đó làm trong lành hơn bầu khí quyển xung quanh.

Chúng ta cũng không thể phủ nhận rằng cây xanh giúp làm mát đường phố. Trồng nhiều cây xanh ở các khu dân cư đông đúc sẽ không chỉ giúp cho không khí ở đó trong lành hơn, mà cây xanh tạo bóng mát ngăn chặn ánh nắng mặt trời, các tia cực tím, hạn chế tác hại của các bức xạ mặt trời lên con người.

Cây hấp thụ các khí độc thải ra từ khói xe cộ, quán ăn, bụi bẩn nhà máy, rác thải, và nhiệt từ chính con người tỏa ra, từ đó giúp giảm bớt nhiệt. Ngày nay, ở các đường phố lớn nhỏ, con người tích cực trồng cây hai ven đường như một cách giảm nhiệt mùa hè.

Không chỉ có vậy, cây xanh còn giúp bảo tồn năng lượng. Theo một số nghiên cứu, nếu bạn trồng khoảng ba cây quanh một ngôi nhà, bạn sẽ giảm bớt được 50% nhu cầu sử dụng điều hòa. Một cây có thể làm giảm nhiệt, dịu mát cho mười phòng. Bằng cách giảm bớt nhu cầu sử dụng năng lượng, chúng ta không chỉ tiết kiệm được tiền điện mà còn giúp giảm bớt lượng C02 thải ra từ các nhà máy sản xuất điện.

Trồng nhiều cây xanh xung quanh ngôi nhà sẽ giúp bạn điều hòa được không khí ngôi nhà mình, giúp giảm nhiệt và không khí mát mẻ, trong lành hơn, giúp bạn có được một giấc ngủ thật ngon. Theo nguyên lý sống của cây thì ban ngày nó nhả ra khí oxi mà hấp thụ khí CO2 vì thế cho nên những chất độc hại trong không khí hầu như là được hút sạch trả lại cho con người một bầu không khí trong lành khỏe mạnh.

Một lợi ích không thể không thể kể tới chính là cây xanh bảo vệ mạch nước ngầm. Theo những chứng minh khoa học thì cây xanh với những chiếc lá của mình sẽ ngăn chặn cho mưa rơi xuống đất nhanh chóng không những làm xói mòn đất mà còn trôi tuột đi không giữ lại được nguồn nước ngầm.

Chính vì thế mà những tán lá kia làm giảm đi điều đó, những hạt nước sau khi rơi xuống bị là cản lại chảy từ lá xuống cành sau đó thấm dần vào đất. Vậy nên mạch nước nguồn của chúng ta được đảm bảo. Không những thế chảy qua lá và thấm vào đất những chất độc hại đã bị lưu trên mặt đất nguồn nước ngầm trở nên sạch sẽ hơn.

Cây xanh có vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ môi trường. Mỗi chúng ta cần chung tay bảo vệ cây xanh, tích cực trồng cây gây rừng để môi trường sống luôn xanh, sạch, đẹp.

Bài văn thuyết minh về vai trò của cây cối số 3

Bài văn thuyết minh về vai trò của cây cối số 13

Từ xa xưa ông cha ta đã dạy rằng thiên nhiên là bạn của con người. Chúng ta sống lao động và nghỉ ngơi đều dựa vào thiên nhiên. Nói như vậy để thấy được tầm quan trọng của thiên nhiên mà nhất là cây cối đối với đời sống sinh hoạt hàng ngày. Cây cối không chỉ mang theo cơn gió mát lành thổi bay cái nóng, điều hòa bầu không khí mà nó còn mang đến cho con người một nguồn sinh thái dồi dào.

Không phải ngẫu nhiên mà chúng ta tự hào là một đất nước “rừng vàng biển bạc, đất phì nhiêu” đó chính là phần quà vô giá mà mẹ thiên nhiên ban tặng cho con người. Trong thành phần để tạo nên thiên nhiên đó thì rừng chính là một trong những quà tặng vô cùng có ý nghĩa đối với cuộc sống. Vậy thì rừng là gì?

Rừng là tập hợp một quần thể sinh địa trong đó có rất nhiều những sinh vật, cây cối, động vật…. Rừng, khí hậu và đất có một mối quan hệ chặt chẽ và tương hỗ với nhau. Chẳng phải thế mà có nhạc sĩ đã từng viết:

“Chuyện trăm năm ân tình cây và đất

Cây bám rễ sâu, đất ôm chặt tận đáy lòng”

Cây xanh có vai trò to lớn đối với cuộc sống con người, với môi trường sống xung quanh ta. Không chỉ có vai trò tạo bóng mát, làm đẹp môi trường đô thị mà nó còn giúp điều hòa khí hậu khiến cho bầu không khí trở nên thanh sạch, trong lành.

Bạn hãy thử tưởng tượng nếu một ngày cuộc sống của chúng ta không còn cây xanh thì sẽ ra sao? Cả ngày chỉ biết làm việc với máy điều hòa, với sóng wifi, với máy tính…. thử hỏi con người sẽ tồn tại thế nào?

Với tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa chóng mặt như hiện nay có lẽ sẽ chẳng lâu đâu con người sẽ trở nên mệt mỏi và bệnh tật. Cây xanh mất đi đồng nghĩa với việc sẽ chỉ còn không khí bụi bặm, ô nhiễm, nắng mưa thất thường, hạn hán ngập lụt sẽ giày xéo lên cuộc sống của người dân. Và nói một cách khác đi trực tiếp hơn thì cuộc sống của chúng ta sẽ chấm dứt hoàn toàn.

Cuộc sống của con người chưa bao hoàn hảo khi nó chỉ được quyết định bằng yếu tố vật chất mà còn ảnh hưởng bởi những điều kiện khách quan khác. Trong đó cảnh quan môi trường sống chính là một yếu tố cần và đủ. Thế nhưng con người ta chúng ta lại đang tác động nghiêm trọng đến sinh thái mà điển hình là cây cối xung quanh. Khi mà càng ngày số lượng cây xanh chúng ta càng giảm đi rõ rệt do tình trạng chặt phá rừng bừa bãi, do cháy rừng,…. Và chính những việc làm đó đã gây nên hậu quả vô cùng nghiêm trọng mà đồng bào ta đang phải oằn mình chống chọi từng ngày.

Chắc hẳn vẫn còn dư âm đâu đó của trận lũ quét lịch sử, của cơn địa chấn xói mòn sạt lở đất đai vùng đầu nguồn… nó không chỉ khiến thiệt hại về vật chất lên tới hàng tỉ đồng mà nó còn mang đến những nỗi đau day dứt về con người. Nguyên nhân là do đâu? Là do việc chặt phá rừng bừa bãi khiến cho đất bị xói mòn, rửa trôi tạo thành khe rãnh khi lũ quét về không có gì chống đỡ mà thành. Những trận bão cát phá hoại mùa màng vì rừng đầu nguồn đã bị chặt phá, đất mặt đã bị rửa trôi khiến cho vùng canh tác trở nên cằn cỗi, khô cằn….

Không chỉ có vai trò bảo vệ đất chống lũ quét, sạt lở rừng còn là nơi trú ngụ của rất nhiều loài động vật quý hiếm. Mỗi cánh rừng lại được chia ra rất nhiều tầng độ cao thích hợp với những loài sinh vật khác nhau. Nhưng tựu chung lại những động vật như nai, hươu, sóc, chồn, chim muông, hổ, báo, vượn…. đều chọn rừng là nơi trú ngụ cung cấp nguồn sống cho mình. Rồi những loài thực vật quý hiếm trăm tuổi như đinh, lim, sến, táu… hay các loại thuốc quý đều ở rừng mà ra.

Ngoài ra rừng cũng là nơi cung cấp nguồn nhiên liệu dồi dào cho các hoạt động công nghiệp như chế biến gỗ, sản xuất giấy…. Rừng cũng là một trong những khu du lịch sinh thái hấp dẫn mà con người muốn khai thác. Chúng ta tự hào với những cánh rừng U Minh rộng lớn thì giờ đây cả trăm hecta rừng đã bị cháy rụi thiệt hại không chỉ hàng trăm tỉ đồng về của mà hơn thế nó còn khiến cho môi trường sinh thái của chúng ta bị xáo trộn.

Hiện nay, tất cả các nước trên thế giới đang kêu gọi bảo vệ rừng nguồn tài nguyên vô giá của sự sống. Bằng chứng là hội nghị chống biến đổi khí hậu COP khuyến khích trồng rừng phủ xanh đất trống đồi trọc, bảo vệ rừng đầu nguồn. Hay các hội nghị trong nước Đảng và Chính phủ đã có biện pháp quản lý chặt chẽ việc khai thác rừng kết hợp với tái tạo rừng.

Hiểu biết về rừng chính là cách nhanh nhất để con người thay đổi hành vi của mình giúp bảo vệ môi trường thiên nhiên một cách tốt nhất. Hãy hành động ngay vì cuộc sống và tương lai thế hệ sau này, bảo vệ rừng chính là bảo vệ hành tinh xanh của chúng ta.

Bài văn thuyết minh về vai trò của cây cối số 3

Bài văn thuyết minh về vai trò của cây cối số 6

Xã hội ngày càng hiện đại, nạn ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên trầm trọng, ảnh hưởng lớn đến đời sống sức khỏe của con người. Từ lâu, các nhà khoa học, các tổ chức bảo vệ môi trường đã không ngừng tìm kiếm những biện pháp tích cực để đi đến kết luận: trợ thủ đắc lực nhất giúp chúng ta bảo vệ môi trường trong sạch chính là cây xanh.

Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sống, sản xuất của con người như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội,… Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố tự nhiên như vật lí, hóa học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít chịu nhiều tác động của con người.

Đó là ánh sáng mặt trời, núi rừng biển cả, không khí, động, thực vật, đất, nước,… Môi trường tự nhiên cho ta không khí để ở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hóa các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú.

Trong môi trường sống tự nhiên đó của con người, cây xanh có vai trò cực kì quan trọng. Nó điều hòa không khí nhờ khả năng hấp thu năng lượng mặt trời, xả hơi nước mát vào không khí, hấp thu các khí độc hại trong môi trường, đồng thời nhả khí oxi vào môi trường.

Cây xanh là cái máy điều hòa tự nhiên tuyệt vời nhất: Nó hấp thu và phản xạ năng lượng mặt trời chiếu xuống đất làm giảm sức nóng của trái đất, hấp thu khí cacbonnic, gây hiệu ứng nhà kính. Cái máy điều hòa không khí nhân tạo chỉ có thể làm mát trong nhà và thải khí nóng vào môi trường.

Mặt khác, chúng cần năng lượng để hoạt động nên nó càng làm cho môi trường nóng lên, chưa kể đến các khí chạy máy lạnh còn hủy hoại tầng ôzôn. Như vậy, máy lạnh chỉ là thiết bị làm mát tạm thời trong một phạm vi rất nhỏ mà thôi, trong khi cây xanh lại chính là cái máy điều hòa không khí vĩ đại của chúng ta.

Những số liệu tin cậy của các nhà vệ sinh học kết luận rằng, ngồi dưới bóng cây bàng ta bớt được bốn lần cái nắng cháy da buổi trưa hè trên đường nhựa. Các tầng lá cây xanh có tác dụng cản 50% bụi đường, tính ra trong một vụ hè, một trăm cây xanh ở đường phố đã giữ lại 340kg bụi để giũ xuống mặt đường sau mỗi trận mưa.

Cây cối còn là hàng rào cách li tiếng động, hấp thụ và hắt lại những sóng âm thanh hỗn tạp để khỏi làm chấn động thần kinh. Người ta ví rất đúng: cây xanh là lá phổi của hành tinh chúng ta. Không có cây xanh thì chẳng mấy chốc muôn loài sẽ ngạt thở. Cây xanh ngăn cản và lọc khí độc trong không khí. Trong rừng thông, rừng bán thông không khí dường như vô trùng.

Lượng vi trùng gây bệnh trong không khí ở nông thôn có nhiều cây xanh hay rừng ít hơn ở thành phố khoảng 10 lần. Cây xanh nhả ra các ion âm rất có lợi cho sức khỏe chúng ta qua đường hô hấp. Các ngôi nhà, đường sá, trường học được bao phủ cây xanh sẽ vô cùng có lợi cho sức khỏe con người.

Tâm hồn chúng ta sẽ trở nên dịu lắng, thanh thoát, minh mẫn, sảng khoái. Ngược lại, thiếu cây xanh, không những bệnh tật dễ hoành hành, sức khỏe con người bị ảnh hưởng nghiêm trọng mà tâm hồn con người cũng có nguy cơ bị chai cứng, dễ sinh các tổn thương về tinh thần. Đối với con người trên hành tinh chúng ta, cây xanh là một vị thần hòa giải tuyệt vời.

Cây xanh là nguồn nhiên liệu và năng lượng quý giá cho cuộc sống. Trồng, chăm sóc và bảo vệ cây xanh chính là hành động thiết thực nhất nhằm bảo vệ môi trường, bảo vệ chính cuộc sống của chúng ta. Đó vừa là lời khuyến cáo của các nhà khoa học vừa là nguyện vọng thiết tha, chân thành của mỗi con người trong cuộc sống hôm nay. Trồng một cây xanh cho mình, cho ngôi nhà của mình chẳng khó gì. Trồng một cây xanh cho hôm nay cũng là trồng một cây xanh cho thế hệ mai sau.

Bài văn thuyết minh về vai trò của cây cối số 11

Bài văn thuyết minh về vai trò của cây cối số 6

Cây cối có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sống của con người. Nó giúp cho không khí trong lành, bảo vệ trái đất không bị xói mòn, giúp giảm bớt các hiện tượng thiên nhiên.

Khu vực nhiều cây cối nhất đó là rừng. Đó là một quần lạc sinh địa, trong đó sinh vật rừng, đất và khí hậu tạo thành một thể thống nhất, có quan hệ tương hỗ chặt chẽ với nhau.Nó được tạo nên bởi nhiều thành phần mà cây là thành phần chính. Vậy thì tại sao rừng lại có một ảnh hưởng lớn như vậy đến cuộc sống con người?

Trong rừng, cây xanh chiếm thành phần chủ yếu. Mà cây xanh lại có tác dụng rất lớn đối với môi trường sống. Không đơn thuần là tạo bóng mát, làm đẹp phố phường mà hơn hết cây xanh điều hòa khí hậu giúp cho không khí trong lành, làm sạch bầu khí quyển.

Nếu trái đất không có cây xanh thì cuộc sống xung quanh ta sẽ chỉ là một bầu không khí bụi bặm, ô nhiễm nắng, nóng hoặc mưa lạnh giá, hạn hán ngập lụt sẽ giày xéo lên cuộc sống của người dân. Nói cách khác không có cây xanh sự sống của con người sẽ chấm dứt.

Nếu không có cây xanh, trái đất sẽ bị xói mòn và sự sống của con người sẽ bị đe dọa từng ngày. Trong đó xói mòn đất là một hiện tượng tự nhiên thường xảy ra nơi những vùng dồi dào, đất trọc ít cây bao phủ. Xói mòn làm cho lớp đất mặt bị rửa trôi, tạo thành khe rãnh gây lũ lụt, đất trôi lở… ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản xuất và đời sống con người.

Rồi hiện tượng gió, gió mạnh ảnh hưởng lớn đến cây rừng làm giảm 30 – 90% sự đồng hóa thực vật, gió nóng làm giảm khả năng thụ phấn của cây, dèm cát vùi lấp đồng ruộng, nhà cửa… Tất cả những thiên tai khủng khiếp đó đều có thể được ngăn chặn hoặc giảm bớt bằng cách trồng cây xanh.

Sự tồn tại của cây cối sẽ giúp cho việc điều hòa khí hậu, điều tiết dòng chảy trên mặt đất, bảo vệ, cải tạo làm tơi xốp đất, giữ nước cho sản xuất, hạn chế sức phá hoại của gió ngăn sự di chuyển của cát vào sâu đất liền, ngăn chặn gió, bão, mùa màng, làng xóm. Không chỉ thế rừng còn là nguồn cung cấp cho con người gỗ, củi, hoa quả và làm phân xanh. Có thể nói rừng đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống của mỗi con người.

Trong rừng có rất nhiều các loại cây từ thấp lên cao. ở mỗi tầng là một môi trường hoàn cảnh thích nghi riêng biệt với từng loài vật. Nào thỏ, hươu, nai, hổ đến khỉ, vượn, sóc, chim… đó là những loài động vật rất quý hiếm mà môi trường sống duy nhất của chúng chính là rừng – thiên nhiên hoang dã. Các loài gỗ quý hiếm như đinh, lim, sến, táu,… rồi các loại thuốc quý, tồn tại rất nhiều trong rừng. Có những khu rừng được con người trồng lên để phục vụ cho chế biến công nghiệp như rừng cao su, rừng tre, nứa, keo tai tượng,….

Bên cạnh đó rừng còn là môi trường sinh thái trong lành – một địa điểm du lịch lý thú, một danh lam thắng cảnh tuyệt vời đầy bí ẩn, hoang dã và tràn đầy hấp dẫn, lôi cuốn. Rừng có vai trò rất quan trọng đối với sự sống của con người, nhưng hiện nay hiện tượng chặt phá rừng bừa bãi ngày càng nhiều, diện tích đất trống đồi trọc ngày càng gia tăng.

Nhưng cũng có những người biết được lợi ích của rừng hiểu được sự sai trái trong hành động của mình nhưng vẫn chặt trộm, khai thác rừng trái phép để kiếm lợi về mình. Hậu quả của những việc chặt phá, khai thác thiếu quy củ, đốt rừng, phá rừng ấy thật không thể tưởng tượng được

.

Rừng U Minh là một trong những khu rừng lớn, đem lại hiệu quả kinh tế lớn và có ảnh hưởng lớn đến môi trường sống. Nhưng do công tác quản lý kém mà hàng trăm, hàng nghìn hecta rừng bị phá hủy, thiêu rụi trong ngọn lửa làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường người dân và thiệt hại hàng trăm tỷ đồng của nhà nước. Những vùng đồi xanh đẹp đẽ xưa kia những cánh rừng nguyên sinh xưa kia giờ đây chỉ còn là những quả đồi trọc, những khu rừng thứ sinh.

Sự tàn phá rừng đã xảy ra những hiện tượng hạn hán, nào lũ lụt, nào sụt lở đất… làm thiệt hại bao tiền của và đau đớn hơn là tính mạng của những người dân vô tội. Không có rừng thì lấy cái gì để ngăn chặn lũ lụt, điều hòa không khí, để chống xói mòn, để bảo vệ làng mạc. Những tai hại to lớn và khủng khiếp ấy đều chỉ vì một sự vô ý thức, sự thiếu hiểu biết và hám lợi của một số cá nhân gây ra.

Diện tích rừng ngày càng bị eo hẹp đồng nghĩa với việc môi trường sống của con người đang dần dần bị tàn phá, hủy hoại. Những loại động vật hoang dã cũng mất đi môi trường sống của mình. Đã bao loài động vật bị tuyệt chủng, bị đem vào danh sách đỏ. Nguy cơ tuyệt chủng tất cả cũng vì chặt phá rừng.

Do sự tàn phá rừng ngày càng nhiều, nhà nước ta đã có những chính sách thích đáng để bảo vệ rừng, giao đất giao rừng cho người dân, nhờ đó đã phủ xanh đất trống, đồi núi trọc.

Mỗi người trong chúng ta cần có ý thức để bảo vệ rừng, bảo vệ cuộc sống của chúng ta. Chúng ta cần tuyên truyền về vai trò của cây xanh, của rừng đối với cuộc sống của con người để mỗi người tự tạo ra cho mình một hành động thiết thực, góp phần vào việc xây dựng môi trường sống ngày càng xanh sạch đẹp.

Bài văn thuyết minh về vai trò của cây cối số 11

Bài văn thuyết minh về vai trò của cây cối số 4

Bài văn thuyết minh về vai trò của cây cối số 11

Cây cối có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sống của con người. Nó giúp cho không khí trong lành, bảo vệ trái đất không bị xói mòn. Cây cối giúp giảm bớt các thảm họa thiên nhiên. Con người và các loài động vật là một phần trong thế giới tươi xanh ấy.

Nhiều cây cối và các động vật khác tập trung trên một khu vực nhất định gọi là rừng. Rừng là một quần lạc sinh địa. Trong đó sinh vật rừng, đất và khí hậu tạo thành một thể thống nhất, có quan hệ tương hỗ chặt chẽ với nhau. Nó được tạo nên bởi nhiều thành phần mà cây là thành phần chính.

Trước khi xuất hiện các động vật trên trái đất, cây cối đã có trước đó tạo ra một môi trường sống thích hợp cho các loài động vật xuất hiện sau này. Cây xanh lại có tác dụng rất lớn đối với môi trường sống. Không đơn thuần là tạo bóng mát, làm đẹp phố phường mà hơn hết cây xanh điều hòa khí hậu giúp cho không khí trong lành, làm sạch bầu khí quyển.

Nếu trái đất không có cây xanh thì cuộc sống xung quanh ta sẽ chỉ là một bầu không khí bụi bặm, ô nhiễm nắng. Nắng nóng hoặc mưa lạnh giá, hạn hán ngập lụt sẽ giày xéo lên cuộc sống của người dân. Nói cách khác không có cây xanh sự sống của con người sẽ chấm dứt.

Thật khó nói hết vai trò của cây cối đối với đời sống con người và các loài động vật. Dựa vào nhu cầu khai thác các giá trị và tác động của cây cối có thể nhận thấy cây cối có các vai trò sau:

Thực vật xanh là nguồn thực phẩm gián tiếp hay trực tiếp cho con người và các loài động vật khác. Đó là một điều không thể thay thế được cho mãi mãi về sau. Thực phẩm có nguồn gốc thực vật luôn chiếm một lượng lớn trong cơ cấu thức ăn của con người. Cơ cấu này ngày càng chiếm ưu thế khi con người nhận thấy rõ những lợi ích của việc ăn nhiều rau xanh thay cho cá thịt để bảo vệ sức khỏe.

Cây xanh là điều kiện tiên quyết cho thế giới động vật tồn tại và phát triển. Nhờ đó, mới có thể đảm bảo cho sự câng bằng sinh thái. Đây là một điều vô cùng quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của chúng ta.

Các quần thể cây xanh tạo ra môi trường sống và trú ẩn cho các loài động thực vật. Ngày nay, khi rừng bị phá hoại, môi trường sống của nhiều loại động vật bị xâm phạm, đẩy chúng đến bờ vực tuyệt chủng. Thực tế, hàng năm trên trái đất, hàng chục loài động vật mãi mãi biến mất. Các nhà khoa học đã khảo sát và đi đến một kết luận vô cùng đâu lòng. Hơn 80% các loài động thực vật đã tuyệt chủng từ khi sự sống xuất hiện cho đến ngày nay. Thời gian gần đây, xu thế này không ngừng tăng cao.

Cây xanh có vai trò vô cùng quan trọng cho môi trường sống. Cây xanh điều hòa không khí nhờ khả năng hấp thu năng lượng mặt trời. Đồng thời nó xả hơi nước mát vào không khí, làm mát bầu khí quyển. Cây xanh hấp thu các khí độc hại và nhả khí oxy vào môi trường. Không có cây xanh, khí oxi sẽ không được tạo ra. Không có dưỡng khí, toàn bộ quá trình sống sẽ ngưng trệ. Sự sống trên trái đất cùng sẽ biến mất.

Cây xanh với bộ rễ chằng chịt ôm lấy đất, giữ nước cho đất, chống xói mòn. Nhờ có cây xanh giữ ẩm giúp đất không khô hạn. Cây xanh làm chậm và điều hướng dòng chảy, hạn chế lũ lụt. Nhờ có cây xanh, các trận xoáy lốc bớt dữ dội hơn.

Nhờ có cây xanh mà các chất dinh dưỡng trong đất được giữ lại, tạo nguồn dinh dưỡng nuôi cây. Cây xanh chắn gió bảo vệ đồng ruộng.

Cây xanh chắn cát bảo vệ đất trồng, làng mạc. Cây xanh ven biển chắn sóng ngăn không cho xâm nhập mặn và sụp lún ven bờ. Người dân miền biển thường trồng cây ngăn thủy triều, bảo vệ vùng sản xuất bên trong đất liền. Cây xanh hấp thu và phản xạ năng lượng mặt trời chiếu xuống đất làm giảm sức nóng của trái đất. Nó cũng hấp thu khí cacbonic gây hiệu ứng nhà kính. Cây xanh còn nhả ra các ion âm rất có lợi cho sức khỏe chúng ta thông qua hô hấp.

Các ngôi nhà, đường sá, trường học được bao phủ cây xanh sẻ vô cùng có lợi cho sức khỏe chúng ta. Tâm hồn con người sẻ trở nên dịu lắng, thanh thoát, minh mẫn, yêu cuộc sống. Ngược lại, nếu thiếu cây xanh tâm hồn dễ bị chai cứng, độc đoán, gắt gỏng. Tâm lí căng thẳng dễ gây bệnh tật cho con người.

Cây xanh trong rừng còn là nguồn cung cấp cho con người gỗ, củi, hoa quả và làm phân xanh. Hầu hết vật liệu xây dựng nhà cửa trước đây đều lấy từ rừng. trước khi có nền sản xuất hiện đại và vật liệu mới, rừng là nguồn nguyên liệu chủ yếu của con người.

Từ xa xưa, con người đã biết tận dụng cây cối như là một nguồn thuốc chữa bệnh. Thực vật cung cấp các chế phẩm sinh học cho y học hiện đại. Tinh dầu một số loài cây có tác dụng ngăn cản và giết chết nhiều loại vi khuẩn và một số loại côn trùng. Cây xanh còn là một kho dược liệu mà con người vẫn chưa khám phá và sử dụng hết.

Ngày nay, khi chế phẩm tổng hợp trở nên nguy hiểm với sức khỏe, con người tìm về với nguồn dược liệu an toàn này. Các ngành y học cổ truyền không ngừng phát triển. Hàng loạt các loại thuốc chữa bệnh ra đời. Nguồn dược liệu cho các ngành sản xuất thuốc Đông Y được quy hoạch và phát triển mạnh mẽ.

Bên cạnh đó rừng còn là môi trường sinh thái trong lành thích hợp phát triển du lịch, nghỉ dưỡng. Rừng luôn là một địa điểm du lịch lý thú, một địa điểm tuyệt vời đầy bí ẩn, hoang dã và tràn đầy hấp dẫn, lôi cuốn.

Rừng có vai trò rất quan trọng đối với sự sống của con người. Nhưng hiện nay hiện tượng chặt phá rừng bừa bãi ngày càng nhiều. Diện tích đất trống đồi trọc ngày càng gia tăng. Nhưng cũng có những người biết được lợi ích của rừng, hiểu được sự sai trái trong hành động của mình nhưng vẫn chặt trộm, khai khác rừng trái phép để kiệm lợi về mình. Hậu quả của những việc chặt phá, khai thác thiếu quy củ, đốt rừng, phá rừng ấy thật không thể tưởng tượng được.

Bản chất sâu xa trong các mối quan hệ với thế giới xung quanh là sự khai thác lẫn nhau. Chỉ khác nhau ở thái độ và các cách thức khai thác có tinh nhân bản hay không. Khai thác rừng phục vụ cuộc sống là một điều cần thiết. Nhưng khai thác mà không kết hợp với việc phục hồi và tái tạo rừng là hành động sai trái. Sớm muộn gì cũng nhận lãnh hậu quả đáng tiếc.

Nếu trái đất không có cây xanh thì cuộc sống xung quanh ta sẽ chỉ là một bầu không khí bụi bặm, ô nhiễm. Nắng nóng hoặc mưa lạnh giá, hạn hán ngập lụt sẽ giày xéo lên cuộc sống của người dân. Các cơn bão tố, lốc xoáy, hiệu ứng nhà kính không ngừng gây cho ta nhiều thảm họa. Nói cách khác không có cây xanh sự sống của con người sẽ chấm dứt.

Bài văn thuyết minh về vai trò của cây cối số 7

Bài văn thuyết minh về vai trò của cây cối số 4

Trong cuộc sống của mình, con người đã không ngừng đấu tranh với thiên nhiên, chinh phục thiên nhiên. Nhưng mặt khác, con người phải luôn luôn nhớ rằng: Thiên nhiên là người bạn tốt của con người. Trong đó, rừng giữ vai trò quan trọng nhất giữa thiên nhiên.

Trước hết, chúng ta cần hiểu thiên nhiên là gì?

Nói một cách khái quát, thiên nhiên là tất cả những gì ở bên ngoài con người, xung quanh con người, không do bàn tay của con người làm nên. Nói một cách cụ thể, thiên nhiên là bầu trời, là rừng, là biển, là sông, là suối, là cây cỏ, chim muông… Tất cả những thứ đó luôn luôn ở bên cạnh con người, bảo vệ con người, giúp ích con người.

Từ xưa đến nay, thiên nhiên là nguồn sống vô tận của con người. Cơm gạo, thịt cá, nhà để ở, áo để mặc, nước để uống, khí trời để thở, đều do thiên nhiên cung cấp; con người càng tự mình tạo nên nhiều sản phẩm, lại càng cần có sự giúp đỡ của nhiên nhiên, lại càng thấy lợi ích của thiên nhiên. Mặt trời ngày xưa chỉ sưởi ấm và chiếu sáng thì nay lại trở thành một nguồn năng lượng quan trọng trong sản xuất và đời sống.

Một ngọn thác, một con suối, một dòng sông giờ đây không chỉ là một bức tranh phong cảnh, một con đường giao lưu, một nguồn nước, một nguồn thủy sản mà còn là những nguồn cung cấp điện năng khổng lồ. Một rừng cây không chỉ là một nguồn lâm sản dồi dào với những cây gỗ quý, những cây thuốc chữa bệnh, mà còn là nguồn điều hòa lũ lụt, là lá phổi khổng lồ cho con người được hít thở không khí trong lành…

Không chỉ giúp ích con người trong đời sống vật chất, thiên nhiên còn có một lợi ích to lớn trong đời sống tinh thần của con người. Sau những giờ, những ngày, những tháng lao động vất vả và căng thẳng bên cỗ máy, bên bàn giấy, trong phòng nghiên cứu, giữa những bức tường hoặc giữa những đường phố đông người và đầy khói bụi, thấy một bầu trời bao la có không khí trong sạch trên một sườn núi mát mẻ, bên một cánh rừng thông, một hồ nước hoặc trước mặt biển mênh mông chói nắng có tiếng sóng gầm gào, sẽ giúp cho con người tái tạo lại sức khoẻ, niềm vui sống và nhiệt tình lao động.

Đôi khi, chỉ riêng màu xanh của lá cây hay một tiếng suối róc rách bên rừng cũng đã khiến cho tâm hồn con người lấy được sự thư thái và yên tĩnh. Nhìn một đóa hoa nở, ngắm một cánh chim bay, con người cũng có thể nhận được một niềm vui lớn, vượt qua một nỗi buồn hay một khó khăn thất bại. Thiên nhiên làm cho tâm hồn con người trở nên cao rộng như trời, mênh mông như rừng, thản nhiên như biển, phong phú hài hòa cùng vạn vật.

Thiên nhiên là nguồn sáng tạo của thơ ca nghệ thuật, nguồn nghiên cứu phát minh của khoa học kĩ thuật. Chính vẻ đẹp của thiên nhiên, của núi sông hùng vĩ, của hoa lá chim muông gây nên ở con người khát vọng nghĩ suy về cái đẹp và sáng tạo nên cái đẹp cho mình.

Cái đẹp của một cảnh mặt trời mọc, một áng mây chiều, một đêm trăng sáng… làm xao xuyến bao nghệ sĩ tạo nên thơ, ca, nhạc, hoạ. Nhà khoa học từ thiên nhiên mà rút ra những quy luật của sự sống để từ đó mà sáng tạo nên những công trình phục vụ cho cuộc sống con người.

Sự kì diệu trong cấu tạo của một ngọn lá, một chiếc rễ cây, trong dáng một cánh chim bay, một con cá lặn, trong hướng bay của một đàn chim đang di trú… cũng gợi lên bao suy nghĩ, tìm tòi cho bao nhiêu thế hệ nhà khoa học. Thiên nhiên có ích là thế, tốt lành với con người là thế. Cho nên từ xưa con người đã yêu mến và bảo vệ thiên nhiên như người bạn quý.

Văn chương nghệ thuật đã coi thiên nhiên là người bạn không thể thiếu được của con người. Không thể đếm hết những bài thơ, bức hoạ ca ngợi vẻ đẹp muôn màu của thiên nhiên. Nhà họa sĩ phong cảnh nổi tiếng Lêvitan được hàng triệu người hâm mộ vì bức tranh Mùa thu vàng tuyệt diệu và những bức tranh về thiên nhiên nước Nga dịu dàng, trong sáng, tĩnh lặng. Nguyễn Du làm say mê bao thế hệ vì những cảnh sắc thiên nhiên trong thơ:

Long lanh đáy nước in trời,

Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng.

Thiên nhiên trong thơ Bác Hồ thực sự là con người, là người bạn đồng tâm, đồng chí, từ ánh trăng sau cửa sổ phòng giam hay nơi núi rừng Việt Bắc đến bóng cây cổ thụ, nhành hoa, tiếng suối giữa rừng đêm:

Tiếng suối trong như tiếng hát xa,

Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa.

Ngày nay, nền công nghiệp càng phát triển, con người càng sống nhiều trong các đô thị thì con người càng thấy thiên nhiên cần thiết và gần gũi. Một chậu hoa ngoài hiên, mấy giỏ lan trước thềm, đôi khi chỉ có một nhánh trầu bà leo tường cũng giúp cho người thành phố đỡ thiếu vắng thiên nhiên.

Đối với một người dân thành thị được đến Thảo cầm viên trong ngày nghỉ việc, được đứng dưới những tán cây cổ thụ, ngắm một chú voi, chú khỉ, chú gấu, nghe tiếng hót của chim họa mi, thưởng thức sắc lông của chim sơn tước… là một niềm vui.

Các thành phố càng mở rộng quy mô thì không gian dành cho những công viên càng phải lớn. Không có các thứ đó, con người thành phố không những sẽ trở nên khô cằn về tình cảm mà còn có nguy cơ thiếu cả không khí để thở nữa. Ở các nước công nghiệp phát triển, nhu cầu du lịch để được trở về với thiên nhiên rộng lớn và trong lành ngày càng là một nhu cầu bức bách.

Tuy nhiên, con người, do vô tình hay cố ý, đã có những hành động tàn phá thiên nhiên rất nặng nề. Người ta đã làm biến mất những khu rừng bạt ngàn, làm tuyệt diệt nhiều giống chim và thú quý. Những nhà máy đã gây ô nhiễm không khí, những dòng sông, những bờ biển. Chính con người đã phải gánh chịu hậu quả hết sức tai hại cho những hành động thô bạo đó.

Nhân loại tỉnh táo đã từng lên tiếng nhắc nhở hành động bảo vệ thiên nhiên. Đã có những đạo luật nghiêm cấm việc săn bắt nhiều giống chim và thú quý. Nhiều quốc gia đã bảo vệ được những khu rừng nguyên sinh. Việc trồng rừng được đặt ra ở nhiều nơi với việc khai thác rừng một cách đúng mức. Con người đã có rất nhiều cố gắng nhằm ngăn chặn sự ô nhiễm môi trường tự nhiên. Những công việc đã làm được tuy rất to lớn nhưng chưa đủ trước tốc độ thiên nhiên bị phá hủy hiện nay. Thiên nhiên còn đòi hỏi được bảo vệ mạnh mẽ và có hiệu quả hơn nữa.

Thử tưởng tượng nếu có một buổi mai, tỉnh dậy, ta bỗng thấy thiên nhiên đã hoàn toàn biến khỏi cuộc sống, đâu đâu cũng chỉ có nhà cửa, chỉ có máy móc, ống khói… thì thật là khủng khiếp. Lúc ấy, Trái Đất sẽ là mặt trăng lạnh lẽo, dẫu vẫn được Mặt Trời chiếu sáng, nhưng không còn đâu bóng dáng của sự sống nữa.

Con người, hãy yêu mến và bảo vệ thiên nhiên bởi vì đó là người bạn tốt của con người.

Bài văn thuyết minh về vai trò của cây cối số 7

Bài văn thuyết minh về vai trò của cây cối số 14

Bài văn thuyết minh về vai trò của cây cối số 7

Cuộc sống ngày càng phát triển với sự ra đời của rất nhiều những máy móc kĩ thuật. Đồng nghĩa với đó là việc tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên trầm trọng và gây ảnh hưởng đến đời sống sức khỏe con người. Vậy làm cách nào để hạn chế tác động của môi trường đến sức khỏe? Chẳng cần tìm kiếm đâu xa giải pháp tốt nhất hiệu quả nhất và tiết kiệm nhất đó chính là cây xanh.

Môi trường theo một nghĩa rộng nó bao gồm tất cả các nhân tố cần có sự sống, sản xuất sinh hoạt của con người như không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan,….Môi trường chính là nguồn tài nguyên vĩ đại để cung cấp cho cuộc sống chúng ta. Và trong môi trường tự nhiên đó thì cây xanh có vai trò cực kì quan trọng. Vừa điều hòa không khí vừa làm đẹp cảnh quan lại mang đến cho con người những luồng cảm hứng dạt dào trong giá trị tinh thần.

Sinh thời Hồ Chủ Tịch đã từng nói về vai trò của cây xanh đối với con người như sau:

“Mùa xuân là Tết trồng cây

Nói như vậy vì Người đã nhìn thấy vai trò to lớn của cây xanh trong đời sống sự phát triển của xã hội. Hãy thử tưởng tượng một ngày bạn thức dậy và thấy trái đất chúng ta đang sống không còn sự xuất hiện của cây xanh thì sẽ ra sao?

Về mặt xã hội thì đó sẽ là một bước thụt lùi lớn đối với sản xuất về sinh hoạt.

Về mặt đời sống con người sẽ bị ảnh hưởng vô cùng nghiêm trọng. Cây xanh phát triển chính là lớp lá chắn để bảo vệ tầng không khí xung quanh chúng ta. Với chức năng hút khí CO2 nhả khí O2 phục vụ vạn vật trên đời này, một ngày cây xanh mất đi cũng đồng nghĩa với việc sự sống con người chúng ta hoàn toàn chấm dứt.

Bạn sẽ ra sao nếu suốt ngày chỉ biết cặm cụi với máy tính, điện thoại? Khi mà xung quanh bạn không khỉ chỉ toàn bụi bẩn, tiếng ồn đủ loại khí thải độc hại sẽ ngấm dần khiến bạn chết dần chết mòn một cách đau đớn? Xưa kia, cây xanh không chỉ giúp con người tìm được nguồn thực phẩm dồi dào mà nó còn là nguồn cung cấp dược liệu quý hiếm cho y học chữa các bệnh như: cảm mạo, ung thư….

Nó cũng là nguồn cảm hứng dạt dào để các thi nhân sáng tạo nên những vần thơ lai láng. Từ Lí Bạch, Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh hay Xuân Diệu, Nguyễn Du,… những danh nhân văn hóa tiêu biểu luôn có sự gắn bó mật thiết với thiên nhiên. Sống chan hòa với thiên nhiên để tìm những nguồn cảm hứng bất tận cho nghệ thuật. Với các thi nhân sống chính là tận hưởng và tận hiến. Thiên nhiên mất đi rồi thì còn đâu những vần thơ về buổi hoàng hôn, còn đâu những bình minh cây xanh nắng rọi?

Có lẽ ảnh hưởng nặng nề nhất có thể kể đến đó chính là những đồng bào ở nơi núi cao, đầu nguồn. Vì khi rừng đã mất đất sẽ bị xói mòn sạt lở, lũ quét thiên tai sẽ ập đến cướp đi tất cả từ chỗ ở, nơi canh tác đến tính mạng của người dân. Còn gì đau xót hơn khi chứng kiến cảnh lũ lụt càn quét đồng bào miền Trung? Cảnh con người oằn mình chống chọi sự nổi giận của mẹ thiên nhiên để giành lấy sự sống?

Chúng ta tự hào vì nước ta có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú có “rừng vàng biển bạc, đất phì nhiêu”. Nhưng điều đó đã ngày càng lệch lạc đi khi mà hiện tượng chặt phá rừng, khai thác rừng, cháy rừng vẫn xảy ra liên tục như thế. Thử hỏi bao nhiêu năm nữa chúng ta sẽ khôi phục được hiện trạng thiên nhiên như ban đầu? Và còn bao nhiêu năm nữa con người vẫn phải tiếp tục chống chọi với những hậu quả nặng nề của biến đổi thời tiết?

Trong những năm qua Đảng và Nhà nước đã đặt vấn đề bảo vệ thiên nhiên lên làm nhiệm vụ hàng đầu vô cùng cấp bách trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội. Tích cực tái tạo rừng chính là cách để chúng ta bảo vệ cuộc sống của chính mình.

Hiểu về rừng, về vai trò của nó đối với đời sống chính là cách con người có thể bảo vệ nó, cũng đồng thời bảo vệ cuộc sống tương lai của loài người. Cuộc sống chúng ta có trở nên tốt đẹp hay không điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào hành động của bạn, chỉ một hành động của bạn mà thôi.

Bài văn thuyết minh về vai trò của cây cối số 2

Bài văn thuyết minh về vai trò của cây cối số 14

Cây xanh là lá phổi của Trái Đất. Không phải tự nhiên mà cho đến hôm nay, các nhà nghiên cứu và chuyên gia đều nhận định như vậy. Từ xa xưa, thiên nhiên nói chung, cây cối nói riêng đã giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sống của con người.

Trong lịch sử hình thành và phát triển của nhân loại, thiên nhiên luôn giữ vị trí vô cùng trọng yếu, bởi lẽ sự sống trên Trái Đất bao gồm yếu tố tự nhiên và nhân tạo. Trong đó, cây cối là sinh vật xuất hiện sớm và gắn bó với sự tiến hóa của loài người lâu nhất. Vậy cây cối là gì?

Cây cối là một bộ phận của thiên nhiên, là một bộ phận của hệ thống sinh thái, bao gồm toàn bộ những loài thực vật sinh trưởng trong tự nhiên. Cây cối có quan hệ chặt chẽ với các sinh vật khác, động vật, con người… Nhưng nó cũng ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống của những sinh vật khác.

Cây cối giữ vai trò đặc biệt quan trọng với cuộc sống con người, với môi trường tự nhiên xung quanh. Vai trò thiết yếu nhất là cung cấp ô xi, duy trì sự sống cho tất cả sinh vật trên hành tinh. Quá trình quang hợp của chúng sẽ hấp thụ cacbonic và cung cấp lượng lớn ô xi, đồng thời điều hòa khí hậu và tạo bóng mát, trở thành thức ăn cung cấp chất dinh dưỡng tốt cho cơ thể, khi phân hủy còn tạo ra phân xanh – một loại phân bón không gây ô nhiễm môi trường.

Chúng ta hãy thử tưởng tượng một ngày kia cây cối không còn tồn tại trong cuộc sống. Khi những thiết bị công nghệ thông tin hiện đại ngày càng phát triển trong thời đại công nghệ số 4.0 mang đến lượng lớn sóng âm tần, sóng điện tử, … và chúng ta chỉ hàng ngày phụ thuộc vào điều hòa, quạt điện, máy tính, sóng wifi,… thì liệu cuộc sống sẽ kéo dài được bao lâu khi không khí dần mất đi trong lành.

Không có chiếc máy lọc không khí nào lớn hơn cây cối trong tự nhiên. Không khí sẽ dần bị ô nhiễm, nắng mưa vượt khỏi tầm kiểm soát, mưa lũ ngập lụt và hạn hán sẽ xuất hiện nhiều hơn, hiện tượng Trái Đất nóng lên, băng tan, hiệu ứng nhà kính… sẽ tấn công mạnh mẽ cuộc sống của chúng ta.

Cuộc sống của con người không bao giờ hoàn thiện nếu không có tự nhiên. Cây cối tạo lên rừng, rừng là môi trường sống của rất nhiều động vật khác, rừng ngăn xói mòn, sạt lở đất. Cây cối cung cấp chuỗi thức ăn tự nhiên, đảm bảo cân bằng sinh thái, cung cấp những tài nguyên thiên nhiên quý giá để phục vụ cuộc sống con người ngày càng được nâng cao. Rừng là nhà của rất nhiều loài động vật quý hiếm.

Mỗi cánh rừng với những loài cây khác nhau được chia ra rất nhiều tầng độ cao thích hợp với những loài sinh vật khác nhau. Những cánh rừng nguyên sinh là mái nhà chung của hàng nghìn động thực vật quý hiếm cần được bảo tồn. Và ngay cả khi những con người ích kỷ, tham lam đêm ngày nghĩ cách phá rừng lấy gỗ, cây cối vẫn kiên trì làm nhiệm vụ trao đổi khí, điều hòa môi trường của bản thân mình. Cây cối tạo nên môi trường trong lành, là nơi khiến tâm hồn ta trở nên thoải mái hơn.

Thế nhưng, nhìn vào thực tế hiện nay, chuyện gì đang xảy ra? Diện tích rừng ngày càng thu hẹp, ngoài những tác động của tự nhiên như cháy rừng, con người đang chính tay tàn phá môi trường sống của cây cối, chặt cây lấy gỗ, tàn phá nặng nề nhiều khu rừng.

Con người mải mê theo những lợi ích nhỏ mọn của bản thân, không hề nghĩ đến thiên tai không trong tầm kiểm soát, hằng năm vẫn đúng dịp tới gây lũ quét, địa chấn. Rừng đã mất, không còn gì ngăn gió chắn bão, xói mòn, sạt lở đất đầu nguồn gây ra những thiệt hại lớn về vật chất, những nỗi đau trong tinh thần con người.

Những ngày trước, đất nước ta tự hào biết bao về “rừng vàng biển bạc” quê hương. Nhưng giờ đây, hàng năm đều có tin hàng trăm hecta rừng bị cháy rụi, những cánh rừng bị chặt phá trái phép. Môi trường sinh thái đang đứng trước nguy cơ bị xáo trộn, đặc biệt vang lên một hồi chuông báo động trong tình trạng Trái Đất đang nóng lên từng ngày.

Hiện nay, không chỉ riêng nước ta mà toàn bộ thế giới đều đang gấp rút thực hiện biện pháp bảo vệ môi trường mà cây xanh là yếu tố được coi trọng hàng đầu. Những sự kiện được tổ chức, những lời kêu gọi và hội nghị được mở ra khuyến khích trồng rừng phủ xanh đồi trọc, bảo vệ lá phổi của Trái Đất. Đảng và Nhà nước ta cũng không ngừng cố gắng để và thực hiện những biện pháp quản lý chặt chẽ việc khai thác rừng kết hợp với tái tạo rừng.

Hiểu biết về cây xanh, thấy được vai trò và nguy cơ, chúng ta mới nhanh chóng nhận thức được, từ đó điều chỉnh hành vi cho đúng đắn phù hợp. Chung tay bảo vệ và phát triển số lượng cây cối xanh tươi là chung tay bảo vệ môi trường sống của chúng ta.

Bài văn thuyết minh về vai trò của cây cối số 9

Bài văn thuyết minh về vai trò của cây cối số 2

Mẹ thiên nhiên đã ưa đãi cho nhân loại rất nhiều những lợi ích to lớn. Đặc biệt là cây cối, đối với loài người, đã mang đến những sự quý giá không thể thay thế được. Cây cối tô màu cho sắc xanh cuộc sống, thanh lọc bầu không khí trong lành tươi mát…. Bởi thế mà cây cối đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống loài người nói riêng và thế giới nói chung.

Cây cối, thiên nhiên chính là vạn vật xung quanh cuộc sống của chúng ta, những sự vật tự nhiên mà con người không thể tạo ra được. Tất cả những thứ ấy luôn ở bên cạnh con người, bảo vệ con người, giúp ích cho con người. Đặc biệt là cây cối – rừng trong việc bảo vệ môi trường. Cây cối, động vật tập trung sinh sống và phát triển tại cùng một khu vực được gọi là rừng. Các loài từ thực vật và động vật trong đó có mối liên hệ chặt chẽ tới nhau, thống nhất nhau.

Trong đó cây cối là thành phần đa số tạo nên một cánh rừng. Cây cối xuất hiện từ rất rất lâu vào hàng triệu thập kỉ trước, thậm chí còn xuất hiện trước cả động vật. Mẹ thiên nhiên mang đến cho ta nguồn tài nguyên xanh vô tận bởi cây xanh có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ và điều hòa môi trường sống.

Không những thế cây xanh còn đóng góp một bộ mặt quan trọng trong hầu hết các lĩnh vực sống của con người: kinh tế, sức khỏe, y tế…. trên hết là bảo vệ môi trường. Giúp cân bằng, điều hòa lượng oxi, thanh lọc không khí, làm sạch bầu khí quyển, chống chọi trong những thảm họa thiên nhiên.Thử hỏi rằng: “Trái Đất sẽ ra sao nếu một ngày nào đó không còn một bóng cây xanh nào ?”.

Chắc hẳn đó sẽ là một ngày đại họa, tăm tối nhất của nhân loại vì nắng nóng quá độ, xói mòn xâm chiếm, lượng oxi không đủ đáp ứng nhu cầu hô hấp con người….hay sự sống nhân sinh sẽ chấm dứt. Thật chẳng dễ dàng khi ta có thể liệt kê hết tất cả những vai trò của cây cối thiên nhiên đối với cuộc sống trên trái cầu. Nhưng trên hết ta vẫn có thể nhìn thấy rất nhiều mặt lợi ích, sự tác động to lớn sau:

Cây cối chính là nguồn thực phẩm xanh tươi tốt, chất lượng hàng đầu cho sức khỏe con người và các loài động vật khác. Đó là nguồn thực phẩm mà không bất cứ thứ nhân tạo nào có thể thay thế được. Sức khỏe con người muốn được ổn định, mạnh khỏe đều phải hấp thụ đầy đủ chất, trong đó các chất xơ được chế biến từ nguồn nguyên liệu là thực vật xanh, cũng là một chất cực quan trọng đối với cơ cấu sức khỏe phát triển của con người. Không những thế, nó cũng là nguồn thức ăn nuôi sống hàng vạn loài động vật khác: thỏ, dê, bò….

Những khúc cây to, thân gỗ chắc, những bụi rậm trong các cánh rừng chính là nơi ăn chốn về của biết bao nhiêu sinh vật. Nhờ đó mà các loài động vật hoang dã có thể tồn tại và phát triển một cách an toàn. Cân bằng hệ sinh thái cũng được thực hiện một cách hiệu quả. Đó cũng là điều quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của loài người chúng ta. Ngày nay với những hoạt động, tác động không hay của con người mà hàng triệu ha rừng đã mất, đó cũng là điều dễ hiểu khi hơn 80% các loài động thực vật đã bị tuyệt chủng từ khi chúng tồn tại cho tới nay.

Cây cối hấp thụ và phản xạ năng lượng mặt trời chiếu xuống đất làm giảm đi sức nóng của trái đất, những khúc xạ của các tia cực tím cũng được làm dịu đi. Khối lượng khí cacbonic khổng lồ trên trái đất cũng được cây xanh hấp thụ, giảm đi nguy cơ gây ra hiệu ứng nhà kính. Đồng thời cây xanh còn thải ra khí oxi trong quá trình hô hấp, quang hợp từ đó mà các loài động vật, con người có thể sống và tồn tại.

Sẽ thật tốt khi đường sá, góc phố, cả tỉnh thành được bao phủ bởi cây xanh. Tâm hồn con người cũng trở nên dịu dàng, thanh thoát, sức khỏe được cải thiện. Ngược lại, nếu thiếu cây cối thì tâm hồn chai cứng, gắt gỏng, khó chịu mà sức khỏe cũng phần nào đi xuống.

Bên cạnh đó, nhiều đất nước trên khắp thế giới tích cực khuyến khích trồng rừng, đặc biệt như các cánh rừng phòng hộ, đặc nhiệm… góp một công rất lớn trong các công tác phòng chống thiên tai lũ lụt hàng năm. Người dân ven biển thường trồng rừng ngăn thủy triều, bão táp. Thậm chí không phải những cánh rừng đầu nguồn phòng chắn thì có lẽ các cơn lũ lụt trên thượng nguồn sẽ kéo theo đó là một loạt các vụ sạt lở đất, xói mòn đất, cuốn đi mùa màng, núi không đồi trọc.

Từ xa xưa ông cha ta đã biết sử dụng các loại dược quý giá trên rừng về làm thuốc để chữa trị bệnh tật hay còn gọi là Đông Y. Ngay cả ngày nay thực vật cũng cung cấp các chế phẩm sinh học cho y học hiện đại. Các loại tinh dầu, một số loại cây có tác dụng ngăn cản, giết chết nhiều loại vi khuẩn và côn trùng.

Cây xanh còn là một kho dược liệu mà con người vẫn chưa khám phá và sử dụng hết.Trong cuộc sống hiện đại ngày nay có rất nhiều những chế phẩm y học không an toàn tràn lan trên thị trường. Ngành y học cổ truyền không ngừng phát triển khiến hàng loạt các loại thuốc chữa bệnh được ra đời. Nguồn dược liệu cho các ngành sản xuất Đông U được quy hoạch và phát triển rất mạnh mẽ.

Thêm vào đó ngay cả từ những đồ vật rất nhỏ trong cuộc sống như: bàn ghế, tủ quần áo, đũa…. cũng đều là sản phẩm từ gỗ mà ra. Các loại gỗ quý, sang trọng, chất liệu tốt đều được khai thác và sử dụng rất phổ biến, được sản xuất thành đa dạng các loại sản phẩm hàng hóa, đồ dùng hàng ngày sinh hoạt.

Từ đó ta cũng có thể thấy những mặt tác động tích cực, cùng vai trò vô cùng to lớn của cây cối thiên nhiên trong đời sống hàng ngày, bảo vệ môi trường. Tuy nhiên dạo những năm gần đây, ý thức và do một số thành phần tham lam vụ lợi trong xã hôi, sự tác động tiêu cực không mấy tốt đẹp của con người mà hàng triệu ha đất rừng cây xanh đã bị hủy diệt. Gây nên những hậu quả vô cùng nghiêm trọng.

Mỗi người chúng ta nên tự mình nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, cây xanh bản thân mình. Tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường xanh, trồng cây xanh. Bởi bảo vệ cây cối cũng chính là bảo vệ cuộc đời mình

Bài văn thuyết minh về vai trò của cây cối số 1

Bài văn thuyết minh về vai trò của cây cối số 9

Cây xanh có vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và sự sống của con người. Vốn được ví như những lá phổi xanh của Trái đất, giúp điều hòa và cung cấp dưỡng khí cho sự sống của muôn loài. Thế nhưng con người đã và đang làm gì với cây xanh?

Quần thể cây xanh rộng lớn nhất phải kể đến rừng, nơi đây có độ đa dạng sinh học cực lớn, với hàng ngàn các loại cây cùng chung sống, tạo nên thảm thực vật dày, độc đáo, tương trợ bảo vệ lẫn nhau. Vậy rừng có vai trò gì trong việc bảo vệ môi trường?

Trước hết, phải kể đến tác động làm sạch khí quyển, điều hòa không khí trên trái đất. Chúng ta đã biết cây xanh có hai quá trình hô hấp và quang hợp, tuy nhiên quá trình quang hợp đóng vai trò lớn nhất trong việc bảo vệ khí quyển. Quá trình này diễn ra bằng cách cây xanh sẽ lấy vào khí các-bô-níc và trả lại không khí ô xy, góp phần làm giàu ô xy trong không khí.

Chúng ta có thể cảm nhận điều này bằng trải nghiệm của bản thân, giữa trưa hè nắng nóng, ngột ngạt chúng ta chỉ cần bước vào một bóng râm có nhiều cây xanh, lập tức chúng ta cảm thấy dễ thở và thoải mái hơn rất nhiều. Không tin các bạn cứ thử xem.

Tiếp theo đó là khả năng lọc sạch bụi bẩn trong không khí, khả năng này tuy chỉ là tương đối nhưng nó vẫn đem lại những hiệu quả nhất định. Đặc biệt là những loại cây có tán lá dày rộng, bề mặt lá thô nhám thì khả năng lọc bụi trong không khí càng tốt.

Cơ chế chính là khi gió thổi mang theo bụi trong không khí đi qua những tán cây, thì lá sẽ giữ lại phần lớn bụi bẩn trên bề mặt, khi mưa xuống lớp bụi bẩn này sẽ được gột rửa sạch và trôi xuống đất, tạo thành vòng tuần hoàn tự nhiên. Xung quanh các nhà máy xí nghiệp, và trên các con con đường người ta thường trồng nhiều cây cũng một phần vì lý do này.

Một tác dụng không thể thiếu khi nói về cây xanh trong bảo vệ môi trường đó là khả năng chống xói mòn và sạt lở đất, ở các vùng núi, đồi có độ dốc lớn, thường xuyên xảy ra thiên tai, lũ lụt. Nếu không có cây xanh đất sẽ liên tục bị xói mòn, tạo thành các khe rãnh lớn, đất màu trôi đi hết để trơ trọi lại lớp đất đá cứng nhắc, không thể canh tác được.

Điều này ảnh hưởng vô cùng lớn đến quá trình canh tác nông nghiệp và cuộc sống của người dân. Ngoài ra gió và bão cũng là một tác nhân lớn gây mất cân bằng thảm thực vật, những cơn gió mùa mang theo sức nóng, cát, bụi làm vùi lấp đồng rộng, cây trồng, ô nhiễm không khí, giảm khả năng thụ phấn của hoa màu,… Bão tràn đến nếu không có gì che chắn thì nhà cửa, cây trồng vật nuôi cũng sẽ đều bị cuốn phăng. Tuy nhiên nếu chúng ta trồng cây xanh thành rừng, hoặc bãi lớn thì sẽ giảm bớt được đáng kể những tác động kể trên.

Cây xanh cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc cải tạo đất, làm tơi xốp, giữ độ ẩm vừa đủ cho bề mặt, giữ nước cùng các chất dinh dưỡng khác trong mặt đất, khi lá rụng xuống phân hủy thành phân hữu cơ cung cấp cho đất một lượng dinh dưỡng khá lớn. Ngoài ra cây xanh cũng cung cấp cho con người thức ăn, cùng nguồn chất xơ vô cùng phong phú đa dạng, không những thế còn cung cấp một lượng lớn vật liệu như gỗ, tre, nứa cho ngành công nghiệp xây dựng, nội thất và sản xuất giấy viết cho chúng ta sử dụng.

Như đã đề cập ở phần đầu, quần thể cây xanh rộng lớn nhất phải kể đến rừng, nơi đây có độ đa dạng sinh học bậc nhất, có các loài cây xanh từ thân gỗ đến thân cỏ, thân leo, tuổi thọ phụ thuộc vào từng loài, chúng cũng được phân tầng theo chiều cao và các đặc tính ưa bóng hay ưa ánh sáng, cùng với các đặc điểm của họ thực vật khác.

Sự đa dạng, rậm rạp ấy đã tạo nên một môi trường cư trú vô cùng lý tưởng cho các loài động vật hoang dã như hươu, nai, vượn, sóc, hổ cùng muôn vàn các loài chim và côn trùng khác. Điều này tạo nên sự cân bằng sinh thái, đảm bảo độ đa dạng sinh học của Trái Đất, giúp bảo tồn các loài động thực vật quý hiếm khỏi nguy cơ tuyệt chủng.

Nếu con người biết khai thác một cách hợp lý và hiệu quả thì đây quả thực là một nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho chúng ta, bởi từ đây ta có thể khai thác được các vị thuốc quý, các loại gỗ quý như lim, xà cừ, trầm hương, sến, táu,…với một giới hạn cho phép. Ngoài rừng tự nhiên thì con người còn trồng các loại rừng nhân tạo như rừng tre, rừng nứa, rừng keo, hoặc rừng ngập mặn,… để phù hợp với mục đích sử dụng và bảo vệ cuộc sống khỏi tác động nguy hại từ thiên nhiên.

Ngày nay rừng còn là một địa điểm du lịch sinh thái lý tưởng, thích hợp với các du khách yêu thiên nhiên, ưa thích khám phá. Bởi rừng mang một vẻ đẹp tự nhiên, trong lành, khoáng đạt, đến nơi đây ta như được trở về thời cổ xưa, hoang sơ, bí ẩn, khi chưa có nhà máy xí nghiệp, khói bụi thành phố, được tận hưởng cái không khí ngọt lành, mát mẻ, thật tuyệt vời. Trong khu dân cư, thành phố cây xanh còn tạo cảnh quan, nâng cao thẩm mỹ, làm bóng mát cho đường phố, trường học, nhà ở, giảm bớt nóng bức, ô nhiễm cùng tiếng ồn.

Với những vai trò to lớn như vậy, nhưng ngày nay ý thức giữ gìn và bảo vệ cây xanh, bảo vệ rừng của con người càng ngày càng kém. Họ không hề tưởng tượng được những hậu quả đằng sau việc chặt phá cây xanh to lớn đến mức nào, mà chỉ biết ham cái lợi trước mắt.

Thỉnh thoảng thời sự lại đưa tin, khu rừng này bị lâm tặc chặt phá, khai thác gỗ trộm, khu rừng kia bị dân đốt để làm nương rẫy, và rừng ngày càng trở nên cạn kiệt, diện tích đất trống đồi trọc tăng chóng mặt, việc trồng cây gây rừng không thể bù đắp kịp cho sự phá hoại một cách vô trách nhiệm của những con người không có ý thức.

Hậu quả là những trận lũ quét, sạt lở đất đá nghiêm trọng tại những vùng núi, bao nhiêu nhà cửa, tài sản thậm chí là tính mạng con người bị thiệt hại. Có những nơi vì không khí quá nóng bức dẫn tới việc cháy rừng, động vật không có chỗ cư ngụ, loài thì tuyệt chủng, loài thì hấp hối, con người thấy vậy lại ra sức săn bắn, vây bắt, dẫn tới việc mất cân bằng hệ sinh thái nghiêm trọng.

Tác hại của việc phá rừng quả thực rất lớn mang tính chất dây chuyền, hệ quả chồng hệ quả. Nhận thấy tính chất nghiêm trọng của vấn nạn chặt phá rừng bừa bãi, Đảng và nhà nước ta đã có những chính sách phù hợp để bảo vệ rừng, tiêu biểu như khoán cho dân trồng rừng, tích cực phủ xanh đất trống đồi trọc, nhà nước hỗ trợ vốn cùng giống cây. Hoặc tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về vai trò của rừng cùng các tác hại của việc phá rừng, khuyến khích việc trồng cây xanh, phủ xanh thành phố.

Đối với mỗi học sinh, chúng ta cần tích cực tham gia tuyên truyền và khuyến khích việc trồng cây gây rừng, cảnh báo với người thân và mọi người xung quanh về tác hại của việc phá hại cây xanh. Đồng thời phải học tập thật tốt, sử dụng tiết kiệm giấy, nước, không xả rác bừa bãi, bảo vệ và chăm sóc các loại cây xanh xung quanh mình, đó cũng chính là góp một phần lớn vào công cuộc bảo vệ môi trường xanh, sạch đẹp cho chính cuộc sống của chúng ta.

Bài văn thuyết minh về vai trò của cây cối số 10

Bài văn thuyết minh về vai trò của cây cối số 1

Tạo hóa đã ưu ái ban tặng cho con người rất nhiều những món quà tuyệt diệu. Biển cá rộng lớn vô ngần mang đến cho ta nguồn cá tôm vô tận. Những cánh rừng bạt ngàn lại là lá phổi xanh của Trái Đất. Có thể nói rừng đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống loài người. Nếu không có những cánh rừng, sự tồn tại của loài người cũng sẽ đến ngày diệt vong.

Không phải ngẫu nhiên Trái Đất được gọi là hành tinh xanh. Chính cây cối và những cánh rừng đã tạo nên màu xanh của sự sống cho Trái Đất. Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác tạo thành một chỉnh thể thống nhất và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

Từ thời con người còn ăn lông ở lỗ, chúng ta đã gắn bó với rừng. Rừng cho ta những vật dụng thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày: thức ăn, áo mặc… Vai trò của rừng đối với con người không bao giờ thay đổi. Rừng giúp điều hòa khí hậu, làm sạch bầu khí quyển. Rừng được coi là lá phổi xanh cũng bởi rừng hút lấy những khí bụi bặm và trả lại cho con người không khí trong lành.

Đặc biệt, ngày nay, khi Trái Đất nóng lên do hiệu ứng nhà kính, vai trò của rừng trong việc giảm lượng CO2 từ các hoạt động của con người là vô cùng quan trọng. Nếu không có rừng, chúng ta sẽ phải sống trong một bầu khí quyển ô nhiễm, hứng chịu những biến đổi thất thường của thời tiết, những thảm họa từ thiên nhiên. Rừng giúp điều tiết nước, phòng chống xói mòn, lũ lụt. Rừng còn điều hòa được dòng chảy của các con sông, dòng suối: tăng lượng nước sông, suối vào mùa khô và giảm lượng nước vào mùa mưa.

Rừng là môi trường sống của tất cả các loài sinh vật trên Trái Đất. Hiện nay, khi rừng bị phá hoại, môi trường sống của nhiều loài động vật cũng bị xâm phạm, đẩy chúng tới bờ vực tuyệt chủng. Rừng cung cấp các loại gỗ như: đinh, sến, lim, táu… Động vật rừng là nguồn thực phẩm, dược phẩm, nguồn gen quý, da, lông, sừng là những mặt hàng xuất khẩu có giá trị.

Bên cạnh đó, rừng với môi trường sinh thái trong lành, đa dạng là một danh lam thắng cảnh, một địa điểm du lịch thú vị thu hút nhiều du khách. Tìm đến thiên nhiên hoang sơ sẽ giúp ta giải tỏa căng thẳng, tạm quên đi những bộn bề, nhỏ nhặt trong cuộc sống đời thường.Ông cha ta có câu thành ngữ: “Rừng vàng biển bạc” vốn để ca ngợi vẻ đẹp trù phú, giàu có của quê hương.

Đất nước ta từng có ba phần tư diện tích là rừng, đồi núi. Nhưng, hiện nay, diện tích rừng đã bị giảm xuống đáng kể. Một bộ phận người dân không hiểu rõ tầm quan trọng của rừng đã phá rừng để đốt nương làm rẫy. Nhưng cũng có người, nhận thức được vai trò của rừng vẫn chặt cây, phá rừng, săn bắn động vật quý hiếm trái phép để thu lợi ích về mình.

Nhiều cánh rừng bị đốn hạ giờ đây chỉ còn trơ trọi mỗi gốc. Những hành động vì cái lợi trước mắt ấy đã gây ra những hậu quả nặng nề. Môi trường trở nên bị ô nhiễm trầm trọng. Lũ lụt, hạn hán xảy ra liên miên và ngày càng dữ dội hơn, ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của con người.

Hiểu được vai trò của rừng và thấy được hậu quả của việc chặt phá rừng, mỗi chúng ta cần có trách nhiệm trong việc bảo vệ và chăm sóc rừng. Những cơ quan chức năng, các nhà chức trách cần có những biện pháp thích hợp và quản lí chặt chẽ việc khai thác rừng, xử phạt nghiêm khắc những hành vi phá rừng, trộm rừng trái phép. Những dự án “phủ xanh đồi trọc” cần được triển khai nhiều hơn nữa ở khắp mọi miền đất nước.

Hủy hoại rừng chính là hủy hoại cuộc sống của chính chúng ta. Hãy yêu quý và bảo vệ rừng để cho đất nước mãi được tươi đẹp, Trái Đất mãi là hành tinh xanh.

Bài văn thuyết minh về vai trò của cây cối số 5

Bài văn thuyết minh về vai trò của cây cối số 10

Con người sống, tồn tại, làm việc, giải trí hàng ngày trong một môi trường sống trong sạch. Một trong những yếu tố tạo nên sự trong sạch đó chính là “rừng”.

Không phải dĩ nhiên mà trái đất được gọi là hành tinh xanh. Với diện tích lớn là biển, rừng và tầng ôzôn bao quanh, trái đất với điều kiện lý tưởng ấy là nơi bắt nguồn cho sự sống – một điều mà chưa hành tinh nào có. Đặc biệt là rừng – một yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống con người.

Rừng là gì? Đó là một quần lạc sinh địa, trong đó sinh vật rừng, đất và khí hậu tạo thành một thể thống nhất, có quan hệ tương hỗ chặt chẽ với nhau. Nó được tạo nên bởi nhiều thành phần mà cây là thành phần chính. Vậy thì tại sao rừng lại có một ảnh hưởng lớn như vậy đến cuộc sống con người?

Như chúng ta đã biết, thành phần chính của rừng là cây xanh. Mà cây xanh lại có tác dụng rất lớn đối với môi trường sống. Không đơn thuần là tạo bóng mát, làm đẹp phố phường mà hơn hết cây xanh điều hòa khí hậu giúp cho không khí trong lành, làm sạch bầu khí quyển.

Hãy thử tưởng tượng xem nếu như trái đất này không có cây xanh thì chắc chắn xung quanh ta sẽ chỉ là một bầu không khí bụi bặm, ô nhiễm nắng, nóng hoặc mưa lạnh giá, hạn hán ngập lụt sẽ giày xéo lên cuộc sống của người dân. Nói cách khác không có cây xanh sự sống của con người sẽ chấm dứt.

Cuộc sống con người không chỉ được quyết định ở yếu tố vật chất mà nó còn bị ảnh hưởng bởi điều kiện tự nhiên khách quan. Trong đó xói mòn đất là một hiện tượng tự nhiên thường xảy ra nơi những vùng dồi dào, đất trọc ít cây bao phủ. Xói mòn làm cho lớp đất mặt bị rửa trôi, tạo thành khe rãnh gây lũ lụt, đất trôi lở… ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản xuất và đời sống con người. Rồi hiện tượng gió, gió mạnh ảnh hưởng lớn đến cây rừng làm giảm 30 – 90% sự đồng hóa thực vật, gió nóng làm giảm khả năng thụ phấn của cây, dèm cát vùi lấp đồng ruộng, nhà cửa…

Tất cả những thiên tai khủng khiếp đó đều có thể được ngăn chặn hoặc giảm bớt bằng cách trồng cây xanh. Rừng điều hòa khí hậu, điều tiết dòng chảy trên mặt đất, bảo vệ, cải tạo làm tơi xốp đất, giữ nước cho sản xuất, hạn chế sức phá hoại của gió ngăn sự di chuyển của cát vào sâu đất liền, ngăn chặn gió, bão, mùa màng, làng xóm. Không chỉ thế rừng còn là nguồn cung cấp cho con người gỗ, củi, hoa quả và làm phân xanh. Có thể nói rừng đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống của mỗi con người.

Không chỉ là yếu tố, thành phần chính trong hoàn cảnh sống của con người mà rừng còn là môi trường sống của rất nhiều động vật quý hiếm. Rừng có các loại cây từ thấp lên cao. ở mỗi tầng là một môi trường hoàn cảnh thích nghi riêng biệt với từng loài vật. Nào thỏ, hươu, nai, hổ đến khỉ, vượn, sóc, chim… đó là những loài động vật rất quý hiếm mà môi trường sống duy nhất của chúng chính là rừng – thiên nhiên hoang dã.

Trong rừng có rất nhiều loài gỗ quý hiếm như đinh, lim, sến, táu,… rồi các loại thuốc quý. Có những khu rừng được con người trồng lên để phục vụ cho chế biến công nghiệp như rừng cao su, rừng tre, nứa, keo tai tượng,….

Bên cạnh đó rừng còn là môi trường sinh thái trong lành – một địa điểm du lịch lý thú, một danh lam thắng cảnh tuyệt vời đầy bí ẩn, hoang dã và tràn đầy hấp dẫn, lôi cuốn.

Ảnh hưởng lớn và có tính chất quyết định đến sự sống con người rừng còn rất có ích với các lĩnh vực khác như nông nghiệp, công nghiệp, du lịch, dịch vụ… hiểu rõ được những lợi ích và ảnh hưởng của rừng ta mới thấy rõ vị trí và tầm quan trọng của nó như thế nào?

Đất nước ta với ba phần tư diện tích là rừng, đồi núi – một điều kiện thiên nhiên tuyệt vời. Vậy mà giờ đây diện tích rừng đó còn lại bao nhiêu? Không hiểu rõ tầm quan trọng của rừng rất nhiều người đã chặt phá cây bừa bãi nhất là những người dân thiếu hiểu biết “đốt nương làm rẫy” khai phá rừng một cách vô ý thức. Nhưng cũng có những người biết được lợi ích của rừng hiểu được sự sai trái trong hành động của mình nhưng vẫn chặt trộm, khai khác rừng trái phép để kiệm lợi về mình.

Hậu quả của những việc chặt phá, khai thác thiếu quy củ, đốt rừng, phá rừng ấy thật không thể tưởng tượng được. Từng tự hào với cánh rừng U Minh rộng lớn, phong phú thì nhưng chỉ vì thiếu ý thức, công tác quản lý kém mà hàng trăm, hàng nghìn hecta rừng bị phá hủy, thiêu rụi trong ngọn lửa làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường người dân và thiệt hại hàng trăm tỷ đồng của nhà nước.

Những vùng đồi xanh đẹp đẽ xưa kia những cánh rừng nguyên sinh xưa kia giờ đây chỉ còn là những quả đồi trọc, những khu rừng thứ sinh. Tiếp theo đó là những thảm họa thiên nhiên liên tục xảy ra nào hạn hán, nào lũ lụt, nào sụt lở đất… làm thiệt hại bao tiền của và đau đớn hơn là tính mạng của những người dân vô tội.

Là học sinh, sinh viên chúng ta có thể góp sức nhỏ của mình trong công cuộc cải tạo rừng bằng cách tuyên truyền tầm quan trọng của rừng, hậu quả của việc khai thác trái phép và có thể trồng cây quanh nhà để góp phần làm trong sạch không khí, môi trường sống trong xóm làng.Hãy yêu quý và bảo vệ rừng để trái đất của chúng ta mãi là “hành tinh xanh” “Tổ quốc Việt Nam yêu dấu, có sạch đẹp mãi được không. Điều đó tuỳ thuộc hành động của bạn, chỉ thuộc vào bạn mà thôi”.

Đăng bởi: Phạm Huyền

Từ khoá: 14 bài văn thuyết minh về vai trò của cây cối trong việc bảo vệ môi trường sống

Thuyết Minh Về Hồ Than Thở Ở Đà Lạt

Hồ Than Thở là địa danh du lịch có cái tên nghe thật rùng rợn nhưng phong cảnh thiên nhiên ở đây lại vô cùng đẹp. Hồ Than Thở được hình thành từ khi nào? Làm thế nào để đi đến hồ Than Thở du lịch?… Câu trả lời sẽ có trong thuyết minh về hồ Than Thở ở Đà Lạt của Wiki Phượt.

Hồ Than Thở sở hữu phong cảnh thiên nhiên đẹp lãng mạn, hữu tình

1. Khu du lịch hồ Than Thở – địa điểm du lịch nổi tiếng ở Đà Lạt

Khu du lịch hồ Than Thở nằm gần học viện lục quân, ven đường Hồ Xuân Hương, cách trung tâm thành phố Đà Lạt 6km. Từ trung tâm thành phố Đà Lạt đi hồ Than Thở mất khoảng 15 – 20 phút.

Hồ Than Thở trước đây vốn là khu đầm lầy, từ sau khi đập Cam Ly được xây dựng nên, hồ Than Thở mới được cải tạo và sau đó trở thành một trong những địa điểm du lịch Đà Lạt hấp dẫn du khách đến tham quan.

Hồ Than Thở là một bức tranh thiên nhiên sơn thủy hữu tình, mặt nước hồ yên tĩnh đến lạ lùng. Phía Bắc hồ Than Thở là khu vực Đồi Thông Hai Mộ – đồi thông rộng ngút ngàn gắn liền với một câu chuyện tình yêu đầy cảm động của 1 đôi trái gái đang yêu.

• Đường đi đến hồ Than Thở

Đường đi hồ Than Thở

Xuất phát từ trung tâm thành phố Đà Lạt, du khách đi theo đường Ông Đạo, qua Quảng Trường Lâm Viên đến đường Yersin, đường Quang Trung, đường Phan Chu Trinh để đến đường Hồ Xuân Hương. Tới cuối đường Hồ Xuân Hương nhìn về phía bên phải, du khách sẽ thấy khu du lịch Hồ Than Thở.

2. Sự tích về hồ Than Thở

“Đà Lạt có thác Cam Ly

Có hồ Than Thở người đi sao đành”.

Câu thơ trên đã nói lên tất cả vẻ đẹp sơn thủy hữu tình của hồ Than Thở. Nhưng ngoài vẻ đẹp thiên nhiên thì du khách đến hồ du lịch còn được nghe kể rất nhiều câu chuyện kể về sự hình thành hồ, sự tích về hồ Than Thở, sử thi thê lương về sự hình thành Đồi Thông Hai Mộ…

Những câu chuyện trên có thật, có giả nhưng nhìn chung chúng đều muốn người nghe biết thêm về hồ Than Thở. Chính nhờ những câu chuyện kể trên mà tour Đà Lạt 3 ngày đến hồ Than Thở, Đồi Thông Hai Mộ trở nên huyền bí và hấp dẫn du khách hơn. Ngoài ra, khung cảnh tĩnh mịch, đầy sương khói trên mặt hồ cũng khiến cái tên Hồ Than Thở càng thích hợp để đặt tên cho hồ.

Cổng vào Hồ Than Thở – Đà Lạt

Theo như lời kể lại của những người dân sống gần đó thì cái tên Hồ Than Thở xuất phát từ đặc điểm tự nhiên hiếm có của khu vực này. Trước và sau khi có đập Cam Ly thì trên mặt hồ thường xuyên có tiếng gió thổi qua rừng thông rì rào nghe như tiếng ai đó than khóc ai oán.

Cái tên hồ Than Thở còn xuất phát từ câu chuyện tình đầy đau thương của Hoàng Tùng và Mai Hương. Câu chuyện này là có thật đã xảy ra vào thời vua Nguyễn Huệ thế kỉ 18.

Hoàng Tùng là một trai tráng trong làng đi theo vua Nguyễn Huệ đánh quân Thanh. Trước khi đi, chàng hẹn Mai Hương ra hồ hẹn đến mùa xuân sẽ trở về.

Trớ trêu thay, ngoài chiến trường đưa tin Hoàng Tùng chết trận, Mai Hương đau buồn nên đã gieo mình xuống sông tự vẫn. Đến giữa mùa xuân năm đó, Hoàng Tùng thắng trận trở về, nghe tin Mai Hương tự vẫn đã vô cùng đau khổ. Sau đó, chàng cũng tự tử ngay tại hồ nước đó.

3. Tham quan hồ Than Thở

Sau khi được cải tạo lại, hồ Than Thở đã trở nên đẹp và không còn vẻ tĩnh mịch như lúc trước. Đến hồ Than Thở du lịch, khách du lịch Đà Lạt sẽ được dạo bước trên những bãi cỏ xanh mát, ngắm nhìn khung cảnh hồ thơ mộng hay tham gia các dịch vụ giải trí cưỡi ngựa, chèo thuyền ngắm cảnh trên mặt hồ.

Du khách cưỡi ngựa đi dạo quanh khu vực hồ Than Thở

Sau khi đã dạo quanh 1 vòng quanh hồ, du khách có thể chọn nghỉ ngơi tại các chòi lá nằm rải rác quanh hồ. Vào những ngày lễ, tết và cuối tuần, khu du lịch Hồ Than Thở thu hút rất đông du khách đi tour Đà Lạt và các bạn trẻ đến đây nghỉ ngơi, vui chơi cuối tuần.

Gần hồ Than Thở còn có 1 khu du lịch nổi tiếng khác là Đồi Thông Hai Mộ. Nơi đây không chỉ có những cánh rừng thông xanh mát mà còn gắn liền với 1 câu chuyện tình sử yêu đương lãng mạn, đau thương của cô giáo Thảo và chàng bộ đội Tâm. Hiện nay, du khách vẫn còn thấy ngôi mộ của người con gái ở trên khu Đồi Thông Hai Mộ, phía tay trái cổng vào Hồ Than Thở.

Đồi Thông Hai Mộ là một địa điểm du lịch rất nổi tiếng ở Đà Lạt

Đồi thông soi bóng xuống mặt hồ tạo nên một bức tranh thiên nhiên xinh đẹp hữu tình, khiến du khách ngắm mãi mà không thấy chán.

Đăng bởi: Dũng Trần

Từ khoá: Thuyết Minh Về Hồ Than Thở ở đà Lạt

Cập nhật thông tin chi tiết về Thuyết Minh Về Cây Lúa – Loại Cây Lương Thực Chủ Yếu Ở Nước Ta trên website Tdhj.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!