Xu Hướng 2/2024 # Thuyết Minh Về Cây Bút Bi Lớp 9 # Top 7 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Thuyết Minh Về Cây Bút Bi Lớp 9 được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Tdhj.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Những bài văn mẫu lớp 9: Thuyết minh về cây bút bi Thuyết minh về cây bút bi bài số 1

Đối với thế hệ học sinh những cây bút bi trở nên quen thuộc và không thể thiếu. Chiếc bút bi vai trò quan trọng giúp cho các bạn viết lên những nét chữ, viết nên tương lai tươi sáng.

Đối với học sinh ngồi trên ghế nhà trường thì sở hữu bút bi quen thuộc. Nếu không có bút bi thì học sinh sẽ không học được, không viết ra những bài văn, giải được những bài toán…. Ngoài ra rất nhiều người sử dụng bút bi, sở hữu và sử dụng cây bút bi là việc không thể thiếu.

Bút bi phát minh bởi nhà báo Hungari Lazo Biro vào 1930. Sau khi nghiên cứu, ông phát hiện ra được một loại mực in giấy nhanh khô, sau đó ông nghiên cứu và chế tạo ra một loại bút sử dụng loại mực riêng. Hiện nay Bút bi có nhiều loại như bút bi Thiên Long, bút bi Bến Nghé,… các loại đều có chung công dụng như nhau.

Bút bi được cấu tạo từ hai bộ phận vỏ bút và ruột bút.  Vỏ bút được làm bằng chất liệu nhựa, vỏ bút được thiết kế chắc chắn, đẹp, giúp cho bảo vệ được ruột bút ở bên trong. Vỏ bút có hình trụ, dài và tròn, độ dài từ 10-15 cm. Ở trên vỏ bút có dán tên nhà sản xuất, số lô sản xuất và màu sắc. Có một số loại bút bi dành cho trẻ em, để thu hút được sức dùng thì nhà sản xuất đã tạo những họa tiết thú vị như các con vật, hình siêu nhân…tạo cho các em thích thú khi sử dụng. Màu sắc vỏ bút đa dạng như xanh, đỏ, tím, vàng… phù hợp với nhu cầu màu sắc của các bạn trẻ.

Bộ phận ruột bút sẽ giúp chứa mực, giúp mực ra đều khi viết trên mặt giấy. Ruột bút thường được làm bằng nhựa, bên trong rỗng chứa mực. Ở một đầu có ngòi bút có viên bi nhỏ để tạo nên sự thông thoáng giúp mực ra đều hơn. Ở ruột bút gắn lò xo nhỏ đàn hồi để người viết điều chỉnh được bút trong quá trình đóng bút và mở bút. Ngoài ra thì bút bi còn có nắp bút, nấp bấm, nắp đậy.

Sử dụng bút bi rất dễ bạn chỉ cầm bấm nhẹ ở đầu bút là có thể viết được. Còn đối với dạng bút bi có nắp thì chỉ cần mở nắp ra là viết được.

Chiếc bút bi rất hữu ích và quan trọng đối với học sinh, người lao động trí óc. Bút bi viết lên những ước mơ của các cô cậu học trò. Bút bi kí nên những bản hợp đồng quan trọng, xây dựng mối quan hệ với nhau. Để sử dụng bút bi bền lâu dài, khi viết xong nên tắt bút, không ném linh tinh sẽ bị hỏng.

Chiếc bút bi đóng vai trò quan trọng với học sinh sinh viên, nó là người bạn đồng hành không thể thiếu giúp các em học tập tốt.

Thuyết minh về cây bút bi bài số 2

Con người xưa đã biết cách sử dụng tre, đá và lông chim, lông ngỗng để viết ra chữ. Cuộc sống hiện đại và để thuận tiện hơn khi viết lách, người ta phát minh ra bút bi. Cây bút bi tuy nhỏ bé nhưng rất quan trọng và giúp cách mạng hóa chữ viết.

Cây bút bi có nguồn gốc từ phương Tây, đến những năm cuối thế kỉ XIX, nhà báo người Hungary tên là Lazso Biro đã cải tiến cây bút này thành một loại bút có một ống mực và đầu viết có một viên bi lăn. Nhờ sự ma sát giữa viên bi và giấy mà mực được viết ra.  Năm 1887, ông nhận bằng sáng chế Anh quốc, cây bút bi được sử dụng rộng rãi, phổ biến cho đến cuộc sống ngày nay.

Bút bi đang có 2 loại: bút dùng một lần và bút dùng để bơm mực nhiều lần. Nhưng phần lớn chúng ta hay dùng loại bút dùng một lần. Loại bút này có hai phần: ruột bút và vỏ bút. Phần ruột bút ống nhựa mềm hoặc cứng chứa mực đặc. Một đầu của ống mực gắn ngòi bút. Ngòi bút bi thường làm bằng kim loại có đầu nhọn hở một lỗ nhỏ có gắn viên bi đường kính từ 0,7 – 1mm. Nhờ sự ma sát của viên bi mực bám trên viên bi mà chúng ta có thể viết được.

Phần vỏ bút thường làm bằng nhựa cứng hay kim loại quý, vỏ được thiết kế với phần đầu có cái núm bấm lên xuống. Khi cần dùng, ta chỉ cần bấm ở đầu ngòi bút, ngòi bút sẽ lộ ra để viết, khi không viết nữa, ta chỉ cần bấm thêm 1 lần nữa. Ruột của loại bút này làm bằng nhựa hay kim loại, cấu tạo vỏ thì không khác loại bút dùng một lần.

Bút bi có nhiều loại, mẫu mã, màu sắc khá đa dạng. Một số bút của các hãng Thiên Long, Bến Nghé khá uy tín. Giá một cây bút bi trung bình đạt từ 1500 – 4000 đồng một cây. Một số loại bút trang trí hoặc để làm quà tặng thì có giá cao hơn.

Để bảo quản dùng lâu dài mỗi lần viết xong ta phải đậy nắp lại. Nếu bút bị tắc mực, ta có thể dốc ngược bút xuống để mực chảy phía đầu. Nếu như lâu ngày bạn không sử dụng thì bút dễ bị khô mực, ta có thể ngâm ruột bút trong nước ấm độ 15 phút bút sẽ hết khô mực và viết được. Bút bi có sử dụng lâu dài được hay không là do người sử dụng.

Cây bút bi thật sự là phát minh to lớn của nhân loại. Bút bi bạn đồng hành với học sinh. Bút bi ngày nay dù có nhiều cải tiến, thêm nhiều chức năng khác nhau nhưng nhìn chung công dụng chính vẫn không thay đổi.

Bài Liên Quan:

Điều hướng bài viết

Văn Mẫu Lớp 8: Thuyết Minh Về Cây Đào Ngày Tết Dàn Ý & 14 Bài Văn Thuyết Minh Hay Nhất

Dàn ý thuyết minh cây hoa đào (2 mẫu)

Thuyết minh về cây hoa đào ngắn gọn (4 mẫu)

Thuyết minh về cây hoa đào đầy đủ (10 mẫu)

I. Mở bài:

– Dẫn dắt giới thiệu đến vấn đề mà đề bài yêu cầu: Thuyết minh về hoa đào.

Ví dụ:

II. Thân bài:

1. Nguồn gốc và xuất xứ của hoa đào

– Nhiều người cho rằng cây hoa đào có nguồn gốc xuất phát từ Ba Tư (Persia) bởi tên khoa học của cây hoa này là “Persica”. Tuy nhiên, ý kiến này lại chưa có bằng chứng xác thực để chứng minh.

– Nhiều người thống nhất một điều rằng cây hoa đào lại có nguồn gốc từ Trung Hoa xưa (Trung Quốc ngày nay). Có lẽ việc giả thuyết cây hoa đào có nguồn gốc từ Ba Tư là do hoa đào được đưa vào đất nước này qua “con đường tơ lụa” vào khoảng thiên niên kỷ 2 TCN. Người ta cho rằng người Trung Hoa đã biết trồng đào từ rất nhiều năm về trước.

2. Hình dáng và các bộ phận của hoa đào

– Rễ đào: Là dạng rễ cọc, có khả năng cắm sâu vào lòng đất giúp cây chịu hạn tốt. Bởi vậy, những cây đào chơi Tết ta thường hay thấy không cần tưới nước thường xuyên mà vẫn tươi.

– Thân đào, cành đào: Thân, cành thường có màu xanh, màu nâu sáng hoặc màu đỏ tía. Ngoài ra còn có một số loại hoa đào có thân màu trắng mốc như đào phai, đào mốc chẳng hạn. Thân cây thường to cỡ khoảng cán chổi hoặc to hơn một chút tùy theo loại.

– Lá đào: Lá nhỏ, màu xanh non mơn mởn. Đầu lá hơi nhọn, hình mũi mác.

– Nụ hoa: Nụ hoa nho nhỏ như hạt sen, màu hồng xinh đẹp. Đế màu xanh nhạt ôm lấy nụ hoa. Sắc hồng tùy theo từng loại hoa mà đậm nhạt khác nhau.

– Hoa đào: Đây là bộ phận đẹp nhất của cây. Hoa đào có trung bình khoảng từ 5 cánh đến hơn 20 cánh tùy theo từng giống hoa. Màu sắc cũng đa dạng khác nhau. Cánh hoa có nhiều hình dạng: hoa cánh đơn, cánh mai, cánh cúc… Những cánh hoa ôm ôm lấy nhau, che chở nhụy hoa bên trong. Mỗi bông hoa đào giống như một đốm lửa nhỏ ngày xuân, giữa cơn mưa phùn sáng lên một sắc rực rỡ.

– Quả đào: Thuộc loại quả hạch, phần thịt mềm có hai màu là màu trắng và màu vàng. Vị quả đào có thể chua, có thể ngọt tùy vào từng loại. Lớp vỏ ngoài có sắc xanh hoặc sắc hồng đỏ, có một lớp lông mỏng.

3. Phân loại hoa đào

– Đào bích: Loại đào phổ biến nhất hiện nay. Cánh hoa màu đỏ, cánh to và có nhiều.

– Đào thất thốn: Dáng cây rất bé, thân cây xù xì, mốc meo. Loài hoa này rất đẹp, có hai màu là màu nhung đỏ và màu hồng phai. Hoa có hương thoang thoảng. Khi rụng xuống cũng không rụng cánh mà ở nguyên trên đài. Hoa mọc thành từng chùm rất đặc biệt.

– Đào phai: Cánh hoa màu hồng, phần rìa cánh hơi nhạt dần. Một bông cũng có khá nhiều cánh.

– Đào bạch: Giống như tên gọi của nó, cánh hoa có màu trắng, nhụy hoa màu vàng sáng. Số cánh hoa trong một bông không nhiều.

– Đào mốc, đào đá: Thân cây xù xì. Đây là loại đào phai mọc trong rừng sâu, núi cao…

4. Ý nghĩa của hoa đào

– Trong văn hóa, cây hoa đào và cây đào đã xuất hiện từ lâu, trở thành loài hoa phổ biến. Trong văn hóa cổ truyền Việt Nam, hoa đào là loại cây rất nhiều người mua về đặt trong nhà, với mong muốn sắc hồng của hoa đào hứa hẹn một năm mới tốt lành, may mắn.

– Trong văn học, hoa đào xuất hiện từ những câu ca dao của người xưa, đến những câu thơ, câu ca của nhiều nhà thơ, bậc hiền triết.

– Quả đào còn có giá trị kinh tế trong việc xuất khẩu. Đồng thời, đào cũng là loại hoa quả được ưa chuộng, trở thành nguyên liệu trong quá trình làm các món tráng miệng.

5. Cách chăm sóc và gieo trồng hoa đào

– Để có một cây hoa đào đẹp, cần chú ý đến rất nhiều yếu tố như nước, ánh sáng, gió cũng như thời gian gieo trồng.

– Biện pháp chăm sóc cũng rất quan trọng nữa.

III. Kết bài: Nêu cảm nghĩ của bản thân về vẻ đẹp và ý nghĩa của hoa đào.

…..

Như một điều tất yếu, mỗi khi những cánh hoa đào hé nở là ánh nắng xuân ấm áp cũng hiện về cùng đàn én từ phương Nam, nhưng ông đồ già lại bày mực tàu giấy đỏ để viết những câu chúc năm mới. Hoa đào, từ bao giờ đã trở thành biểu tượng của mùa xuân.

Cây hoa đào có danh pháp khoa học là Prunus persica. Tên persica có lẽ có từ niềm tin ban đầu của người châu Âu cho rằng đào có nguồn gốc ở khu vực Ba Tư nay là Iran. Nguồn gốc hoa đào được khẳng định nhiều là bắt đầu từ Trung Quốc và được đưa vào Ba Tư theo con đường tơ lụa vào khoảng thời gian ban đầu của lịch sử nhân loại. Hiện nay, loại cây đã rất phổ biến ở nhiều nước trên thế giới có yêu cầu về độ lạnh phù hợp. Ở châu Á, đào thường được trồng ở Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam…

Cây hoa đào đẹp có hình dáng riêng, dễ nhận dạng so với những cây khác. Cây thuộc loại cây thân gỗ, nhỏ, màu nâu thẫm. Dáng cây hoa thấp, cao từ 1-3m. Cành cây nhỏ như cái đũa, lá có hình mũi mác, mọc so le với nhau. Mùa xuân chính là mùa hoa đào nở. Hoa có thể màu hồng đậm, hồng phớt hay màu hồng nhạt. Các cánh hoa mỏng, nhẹ, được xếp tầng lên nhau, ra hoa trước khi ra lá. Hoa đào có năm cánh thắm, ở giữa là nhị hoa màu vàng tươi trông rất bắt mắt. Cả cánh hoa và nhị hoa được nâng đỡ bởi sắc xanh non của màu lá tạo nên sự hài hòa về màu sắc cho cây.

Quá trình để một cây đào sinh trưởng và phát triển, có được thế và hoa đẹp, chưa bao giờ là dễ dàng. Tháng giêng, những cây đào đẹp đã chơi rồi hoặc những cây giống đẹp được giữ lại, người ta tỉa bớt cành lá đi. Trong quá trình chăm sóc, cây bắt đầu được uốn để tạo dáng trong 10 tháng. Đến tháng 11, lá đào được tuốt bớt để cây tập trung trổ hoa. Tùy vào thời tiết sẽ hãn, thúc, thiến cho hoa nở đúng dịp tết. Đến khi chọn đào về nhà, tùy loại đào mà có cách chơi khác nhau. Với đào cành, người ta hơ gốc trên ngọn lửa than hồng để nhựa không bị chảy ra và hoa lâu tàn. Với đào cây, khi đánh cây lên, chú ý không làm đứt rễ cái, không tưới quá nhiều nước vì đào không ưa nước. Khi chọn mua đào, tùy từng không gian mà chọn đào to hay nhỏ nhưng tán phải tròn, hoa dày và cây phải cân đối; nên mua cách tết 3-4 ngày để hoa tươi lâu.

Tùy vào các tiêu chí như màu sắc, hình dáng hay địa hình trồng mà hoa đào được chia thành nhiều loại khác nhau. Về màu sắc, ta có: Đào bích và đào phai, đào bạch. Đào bích là loại đào có cành tròn như chiếc ô, hoa màu hồng thẫm, nụ và cánh hoa chen chúc nhau. Đào pha có thân và lá giống đào bích nhưng hoa ít cánh hơn, màu phơn phớt hồng, đượm vẻ thanh tao, kín đáo. Đào bạch lại có hoa trắng như tuyết và có mùi hương thoang thoảng. Nếu xét cánh hoa, ta có đào đơn và đào kép. Đặc biệt, một giống đào khá được yêu thích hiện nay, đó là đào rừng. Cây có nhiều ở vùng biên giới phía Bắc. Thân cây xù xì, rêu mốc, ít hoa và nở muộn nhưng lại thể hiện được sự hoang sơ và thường chỉ chơi cành đào, ít ai chơi cây cả. Hay một loài đào nghệ thuật mang tên: đào thế- loại đào được trồng và chăm sóc hàng chục năm thì cây mới có dáng đẹp. Các nghệ nhân thường tạo thế long, phượng, thế trực hay thế ngoảnh cho cây.

Những làng trồng đào nổi tiếng ở miền Bắc như làng đào Nhật Tân. Đây là làng nghề đã có mấy trăm năm tuổi, chuyên trồng đào cung cấp cho miền Bắc.

Hoa đào được chọn là hoa của mùa xuân, của ngày tết vì những ý nghĩa của nó. Hoa đào là biểu tượng của sự viên mãn, hòa hợp giữa màu xanh của sự sống ở lá, màu hồng đỏ của lộc ở hoa và màu vàng tươi mới ở nhị. Đào về mang không khí ấm áp của mùa xuân và cho người ta cảm giác an yên, tự tại. Trong tâm thức của người Trung Quốc cũng như người Việt ở miền Bắc, đào còn một ý nghĩa nữa. Chuyện kể rằng: Ở phía Đông, có hai vị thần: thần Trà và thần Uất Lũy ngự trên cây hoa đào khổng lồ. Ma quỷ rất sợ uy vũ của hai vị thần nên sợ luôn cả cây hoa đào. Ngày cuối năm, khi hai vị thần phải lên chầu Ngọc Hoàng thì ma quỷ lại đến sách nhiễu nhân dân. Vì thế, người dân bảo nhau trồng hoa đào ngày tết, để trong nhà tránh ma quỷ. Từ đó, trong những ngày tết, nhà nào cũng chơi hoa đào như một tục lệ truyền thống. Hoa đào còn xuất hiện trong những giáo lí nhà Phật, như một sự thoát độ.

Trong cuộc sống hiện đại, những lễ tết truyền thống đã thay đổi và được giản lược khá nhiều. Nhưng một cành đào, một sắc đào trong nhà thì vẫn không thể thiếu. Bởi có đào mới gọi là Tết.

Hà Nội vào xuân náo nức lòng người. Ngày Tết không thể thiếu hoa đào – một loài hoa biểu tượng cho mùa xuân và sức sống bất diệt của miền Bắc.

Tiết xuân se lạnh, những hạt mưa xuân giăng nhè nhẹ tô thắm cho hoa, làm cho chồi non lộc biếc nở rộ trong các vườn hoa Nhật Tân, Quảng Bá, Thụy Khuê, Ngọc Hà. Hoa theo các cô hàng hoa tràn vào ba sáu phố phường Thủ đô.

Người ta chuộng chơi đào ngày Tết có lẽ vì hoa đào có màu hồng đỏ mang lại may mắn, phúc lộc đầu năm. Các cụ ngày xưa thường bảo cắm cành đào trong nhà là cản được gió độc, đuổi tà khí ra ngoài. Cây đào chỉ trồng được ở miền Bắc, hoa nở vào mùa xuân nhưng muốn cho hoa nở đúng thời vụ thì lại là một vấn đề phức tạp.

Nó đòi hỏi nhiều kinh nghiệm của người trồng hoa. Muốn có hoa đào chơi Tết, tháng mười một, cây đào đã phải chịu đớn đau, bị bỏ đi hết lá, để nhựa cây tích tụ vào thân làm nụ. Tùy theo thời tiết nóng hay rét nhiều mà người trồng đào phải thúc hay hãm (Thúc là bón cho cây phát triển nhanh hơn. Hãm là khía nhiều vòng quanh thân cho nó phát triển chậm lại).

Thường hoa đào là một trong các thú chơi dân gian của người Hà Nội. Người chơi đào thích đào Sapa vì cái vẻ xù xì rêu mốc của cành, loáng thoáng nụ và hoa được ăn trong lá thể hiện một sức sống mãnh liệt chiến thắng mọi thử thách. Từ xưa, hoa đào đã đi vào thơ ca làm xúc động lòng người. Trong tác phẩm Truyện Kiều, Nguyễn Du đã nhiều lần nói tới hoa đào, như:

“Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông”

Mùa xuân năm Kỷ Dậu, vua Quang Trung sau khi đại thắng quân Thanh đã mang cành đào từ Thăng Long vào Phú Xuân tặng công chúa Lê Ngọc Hân – vợ yêu của mình để báo tin chiến thắng.

Trong lịch sử dược học Á Đông, hoa đào được dùng sắc uống lấy làm thuốc chữa bệnh thủy thũng và bí đại tiện. Nhân hạt đào có chứa dầu béo amygdalin và men amusing. Danh y Tuệ Tĩnh đã nhiều lần nhắc đến tên các vị thuốc có hoa đào trong cuốn sách nổi tiếng “Tam dược thần hiệu”.

Tết miền Bắc có hoa đào mới là Tết. Cành đào là vẻ đẹp mùa xuân giống như trong Nam có mai vàng. Nhiều nhà có điều kiện có thể chơi một cành đào ghép mận ba tầng, giá trị bằng vài năm tiền lương, không thì một vài cành đào cũng xong nhưng không thể thiếu. Thiếu hoa đào cũng tẻ nhạt như thiếu bánh chưng xanh, câu đối đỏ, tràng pháo hồng.

Hoa đào không chỉ là vật trang trí, làm cảnh bình thường. Nó còn tượng trưng cho sự may mắn, phúc lộc. Người Việt Nam quan niệm có cành đào trong nhà thì sẽ xua đuổi được tà ma, ám khí. Vì thế, trong những ngày Tết, dù bận đến mấy, ai cũng cố mua cho gia đình một cành đào.

Mùa xuân thật kì lạ! Đúng là muôn hồng nghìn tía, cái đẹp đến từng nhà, từng người và hoa đào chính là phần thưởng xứng đáng của thiên nhiên, đất trời, ai cũng có thể hưởng và chắc chắn hoa đào sẽ còn lại mãi với thời gian như lời thơ của Chế Lan Viên:

Vào dịp Tết Nguyên Đán, nếu hoa mai là đặc trưng của mùa xuân phương Nam thì hoa đào lại tiêu biểu cho mùa xuân phương Bắc. Tết đến, chắc chắn các bạn sẽ bị cuốn hút bởi vẻ đẹp mê hồn của những cành đào, cây đào được bàn tay con người chăm chút kĩ lưỡng và trân trọng.

Cây hoa đào xuất hiện ở nhiều nước châu Á như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản… Trước kia, ở Việt Nam, cây đào chỉ trồng được từ vùng Nghệ – Tĩnh trở ra. Làng Nhật Tân, ngoại thành Hà Nội là xứ sở của hoa đào. Ngày nay, ở Đà Lạt (miền Nam) cũng đã trồng được loại đào ghép nhưng không đẹp bằng đào Hà Nội.

Cây hoa đào có nhiều giống, phổ biến nhất là đào bích, bông hoa nhiều cánh màu hồng thẫm, phủ từ gốc tới ngọn. Đào phai hoa màu hồng nhạt, đào bạch hoa màu trắng, tương đối khó trồng. Đào thất thốn cây thấp, hoa nhỏ màu độ thắm, thường được trồng vào chậu và uốn thành các dáng thế theo ý muốn. Các giống đào này đều chỉ cho hoa chứ không cho quả.

Cây đào ưa đất thịt, đất phù sa, phân mùn và cần nhất là không gian thoáng đãng, nhiều ánh sáng. Cây đào rụng lá hàng năm vào mùa đông, đến mùa xuân lại nảy lộc, ra hoa. Vì vậy, người trồng phải có kinh nghiệm và hiểu biết kỹ thuật để làm cho cây đào nở hoa đúng vào dịp Tết. Giữa tháng Chạp (12 Âm lịch), nụ hoa hé là vừa. Nếu trời trở gió nồm, thời tiết ấm lên thì hoa có thể nở sớm. Muốn hãm thì phải ngưng tưới để đất hơi khô.

Cách Tết độ vài ngày, hoa đào bắt đầu nở lác đác. Những cánh hoa hồng thắm chi chít khắp cành. Từng chùm lá non xanh như ngọc bích rung rinh trước gió. Sáng mồng Một Tết, hoa đào nở rộ, hương thơm nhẹ nhàng, thoang thoảng. Một màu hồng rực bao phủ khắp cây đào, tạo ngôn vẻ đẹp có sức quyến rũ lạ lùng. Nhìn hoa đào nở, lòng người hân hoan xúc động trước linh hồn của mùa xuân.

Trong hàng trăm ngàn loài hoa, hoa nào cũng có vẻ đẹp riêng, nhưng đặc biệt hơn cả là hoa đào mang tới cho con người sức sống rạo rực của mùa xuân. Màu hồng của hoa đào như một lời chúc tốt lành, đem lại sự may mắn trong năm mới. Cùng với hoa mai miền Nam, hoa đào miền Bắc đã góp phần tô điểm cho sắc xuân tuyệt vời của đất nước Việt Nam yêu dấu.

Hàng năm mỗi độ tết đến xuân về, tiết trời ấm áp là lúc hoa đào bắt đầu nở rộ. Hoa đào sẽ tô thêm vẻ đẹp cho hương sắc của mùa xuân, khiến cho cái tết của mọi nhà thêm ấm áp. Hầu hết các tỉnh ở Bắc Bộ đều coi hoa đào là đặc trưng trong ngày tết của mình.

Người ta đã đặt cho đào với tên khoa học là Prunus Persica. Có nhiều giống đào nhưng đào bích được coi là giống đào đẹp nhất. Hoa đào bích có nhiều cánh xếp chồng lên nhau màu hồng thẫm, loại này được trồng để chỉ lấy hoa. Giống thứ hai là giống đào phai, hoa có năm cánh, cánh màu phớt hồng, được trồng để lấy quả. Giống đào bạch hiếm thấy, cây nhỏ ít hoa có màu trắng tinh khiết. Đào thất thốn có hoa màu đỏ thẫm, khó trồng, khó chăm sóc, nên ít được người ta trồng.

Mùa xuân đến hoa đào nở rộ, cánh đào mỏng mềm và mịn như nhung, có những năm khi tết đã đến, xuân về nhưng tiết trời lạnh, hoa đào không thể nở được. Đào mọc thành từng bông riêng lẻ chứ không mọc thành chùm. Hoa đào thường nở 4-5 ngày thì tàn. Để cho ra một cây hoa đào đẹp, người trồng đào phải mất rất nhiều thời gian và công sức để trồng đào.

Đào trồng để ăn quả thì không phải chăm sóc nhiều. Từ việc đốn cành tỉa lá uốn cây theo các thế khác nhau đều phải rất tỉ mỉ và khéo léo. Trước tết khoảng 15 ngày, người trồng đào phải tuốt lá để đào sai hoa vào đúng dịp Tết. Ngày tết mà có cảnh đào trong nhà, sẽ tạo nên sự ấm cúng, một năm mới đủ đầy của mỗi nhà.

Bên cạnh bánh chưng xanh, câu đối đỏ, mâm cỗ tất niên là cành đào nhỏ, góp phần tăng thêm hương vị cho ngày tết. Đào không chỉ góp phần tô đậm thêm cho hương sắc của mùa xuân mà còn là loại cây mang lại giá trị kinh tế cao. Tùy thuộc vào mức độ đẹp và to nhỏ khác nhau mà mỗi cây đào có giá khác nhau, chúng có giá từ vài chục nghìn đến vài triệu đồng.

Hoa đào cùng với bánh chưng xanh là thứ không thể thiếu trong dịp lễ tết cổ truyền của dân tộc. Khách du lịch đến Việt Nam coi cành đào là món quà mang giá trị tinh thần lớn, những người con xa xứ khi ngắm cành đào lại nhớ về quê hương, như được sống với không khí tết của quê hương mình.

Cây đào không chỉ để làm cảnh, lấy quả mà còn dùng để chế thuốc rất hiệu quả. Hoa đào được chế làm thuốc đắp mặt, đem lại là da mát, mịn màng, hồng hào cho người phụ nữ. Hoa đào còn được chế thành thuốc chữa bệnh bí đại tiện rất hiệu quả.

Xã hội phát triển, con người có nhiều thứ để bày trong ngày tết, nhưng hoa đào vẫn luôn được mọi người yêu thích. Dù có những lễ vật sang trọng đến đâu, người ta vẫn muốn có một cây đào đẹp trong ngôi nhà của mình vào dịp tết.

Mùa xuân đến cùng với những đàn chim én bay lượn trên bầu trời, với cơn mưa xuân nhẹ nhàng và đặc biệt là có không khí tươi vui chào đón năm mới. Sự hân hoan náo nhiệt đón Tết ngập tràn cả đất nước ta. Miền Nam là những cành mai phơi phới vàng tươi đầy sức sống. Còn miền Bắc chúng ta nở rộ giữa sự se lạnh còn vương vấn của mùa đông ấy lại là những cây hoa đào đỏ thắm, đỏ tươi hay màu hồng nhạt. Hoa đào là một trong những cần thiết mỗi dịp tết đến ở miền Bắc. Thiếu đi cành đào năm mới như mất đi hương vị của ngày tết đối với người dân nơi đây.

Đào là cái tên rất quen thuộc với chúng ta. Đối với khoa học tên của nó là Prunus Persica. Đào có nguồn gốc từ Trung Quốc, là một cây ăn quả. Sau đó cây đào được trồng ở vùng Nghệ Tĩnh Việt Nam ta, ngày nay ở làng Nhật Tân – ngoại thành Hà Nội cũng trồng hoa đào, nơi đây còn gọi là xứ sở hoa đào. Ngoài ra ở Đà Lạt còn có thể trồng một loại hoa đào ghép khác tuy nhiên vẫn không thể sánh bằng đào Nhật Tân.

Chắc hẳn ai cũng biết được hình dáng cây đào thân quen này. Đào là cây thân gỗ, nhưng rất mềm, dễ uốn, cao từ 10-15cm. Thân đào gồm rất nhiều nhánh nhỏ, vở sần sùi, màu nâu, lá đào hình mũi mác dài 2-3cm. Hoa đào nở rộ vào cuối mùa đông, đầu mùa xuân. Cách phân chia cành và số hoa mỗi cành của mỗi loài mỗi khác, thông thường thì mỗi đốt sẽ có từ 1-2 bông hoa.

Mỗi loại đào thường có một sắc thái riêng của nó như màu đỏ son, đỏ tươi, hồng đậm, hồng nhạt, chủ yếu là gam màu nóng. Cánh đào xen kẽ lẫn nhau khum khum lại để lộ ra nhị hoa màu vàng với mùi thơm nhẹ, thoải mái. Dựa theo số cánh mỗi bông, đặc điểm bên ngoài mà người ta chia đào thành nhiều loại nổi bật là đào bích, đào phai.

Ngoài ra người ta trồng đào còn dựa vào cách trồng mà phân chia đào thành hai loại chính là đào thế và đào cành. Đào thế có tuổi ít nhất là từ hai năm trở lên,thân càng xù xì càng tốt. Người ta uốn các tay đào thành các thế khác nhau. Khi bán đào thế thì phải bán cả cây nên loại đào này thường rất đắt. Ngược lại, đào cành chỉ bán cành giữ lại gốc để tiếp tục trồng nên giá rẻ hơn rất nhiều.

Trồng đào gồm rất nhiều giai đoạn khác nhau. Đầu tiên, phải trồng ở những nơi có đất cao, trồng thành luống xung quanh là rãnh sâu. Người ta sẽ lấy gốc cây đào hạt ươm thành cây sau đó ghép với đào bích, đào phai. Người trồng sẽ phải chăm sóc cây đào đến tận tháng Tám âm lịch rồi mới bắt đầu tuốt lá. Việc này đòi hỏi rất nhiều công sức của người trồng.

Bởi lẽ tuốt lá phải tuốt nhẹ nhàng dần dần cho đến hết. Đặc biệt giai đoạn này còn cần người trồng phải biết trước thời tiết. Nếu Tết nóng thì sẽ tuốt lá muộn hơn. Còn nếu Tết lạnh thì phải tuốt lá sớm. Đồng thời, khi chăm sóc đào cần phải chú ý các loại sâu đục thân… Cây đào bị ứa nhựa hay nổi mụn gỗ thì phải bắt sâu ngay.

Việc mua đào sắm tết dường như đã trở thành thói quen hay một truyền thống của người dân miền bắc trong những ngày tết đến. Và đương nhiên ai cũng có một cách thưởng thức của riêng mình. Đối với đào thế thì thường được trồng trong chậu hoắc trông xuống đất trong vườn. Đào cành thì cắm vào lọ, trang trí ở trong phòng khách hoặc trên bàn thờ. Khi mua về thì nên cắm cành đào vào trong lọ 3-4 tiếng, nước ngập đến cổ. Để giữ đào lâu tàn hơn thì người ta thường dùng vôi bôi ở mặt cắt cuống hoặc dùng lửa đốt cho héo mặt đốt rồi cắm vào lọ. Đặc biệt nước trong lọ phải đầy.

Theo tương truyền, cành đào có khả năng đuổi tà ma đem lại sự ấm áp cho những ngày tết ở miền bắc. Với màu sắc tươi vui, đào đem đến xuân đầy sức sống với những niềm vui, những hứa hẹn năm mới Ngoài ra đào cũng được coi là một đề tài quen thuộc của thơ ca. Bóng cây đào thấp thoáng trong những bài thơ, câu văn của các tác giả Việt Nam như bài thơ “Ông Đồ” của Vũ Đình Liên:

Không chỉ thế đào được sử dụng như một vị thuốc hiệu quả. Đào có thể làm thuốc đắp mặt khiến cho làn da mịn màng. Danh y Tuệ Tĩnh cũng nhắc nhiều đến đào trong cuốn sách y học của mình.

Cứ mỗi năm, mùa xuân nối tiếp mùa xuân, hoa đào rồi lại tàn. Thời gian cứ trôi mãi trôi mãi chẳng dừng lại. Cuộc sống rồi sẽ thay đổi, con người thay đổi nhưng hoa đào vẫn thế, vẫn là một thứ không thể thiếu trong dịp tết cổ truyền. Đồng thời, hoa đào cũng đã vượt qua nghìn cây số đến với miền Nam. Và mai cũng đã đến với miền bắc chúng ta tạo ra sự giao lưu văn hóa giữa hai miền Nam-Bắc. Hoa đào quả là một loài hoa đẹp, ý nghĩa với tất cả chúng ta.

Nói về ngày lễ ở Việt Nam, không thể quên nhắc đến Tết. Nhắc đến Tết không thể quên nồi bánh chưng và cành mai, cành đào. Hình ảnh hoa đào, hoa mai đã trở thành linh hồn của ngày Tết. Nói đến mai là miền Nam rực rỡ sắc vàng, còn đào lại là sắc hồng thắm của miền Bắc. Hoa đào đã trở thành nét riêng của miền Bắc Việt Nam.

Trước hết, có thể lí giải vì sao hoa đào là nét riêng của miền Bắc. Miền Bắc có khí hậu khá khác so với miền Nam. Miền Bắc vào mùa đông chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc tràn về nên có nền nhiệt thấp, lạnh. Khi sang xuân, thời tiết ấm áp dễ chịu. Xuân sang cũng là lúc đào nở rộ. Cây đào rất kén nhiệt và nơi sinh sống.

Đào không chịu được nhiệt độ quá lạnh, cũng không chịu được quá nóng. Đào cần được trồng ở những nơi nhiều ánh nắng và thông thoáng gió. Ở nhiệt độ quá lạnh, đào sẽ không thể nở hoa và phát triển. Chồi hoa bị chết ở nhiệt độ -15 đến -25 độ C. Sau khi hoa tàn, quả đào sẽ phát triển và chỉ chín được vào mùa hè với nhiệt độ lý tưởng là 20 đến 30 độ C.

Quả đào là một loại trái cây được yêu thích. Đào có rất nhiều loại: đào bích, đào phai, đào bạch… Nhưng phổ biến nhất vẫn là đào bích. Đào bích có nhiều cánh, cánh hoa màu đỏ thắm. Đào phai có màu sắc nhạt hơn, cánh hoa đã chuyển sang màu hồng. Đúng như tên gọi, đào bạch màu trắng, là loài hoa hiếm và khó trồng nhất.

Hoa đào được trồng ở hầu hết các tỉnh miền Bắc như Lạng Sơn, Lào Cai, Hà Nội.. Được ưa chuộng nhất vẫn là đào Nhật Tân. Nhật Tân là vườn đào nổi tiếng ở Việt Nam. Nơi đây nằm ở vùng đất ven sông Hồng ở Hà Nội. Vườn đào này nổi tiếng không chỉ bởi quy mô mà còn cả chủng loại và chất lượng đào. Hoa đào rất thích hợp với loại đất ven sông nhiều phù sa nên chất lượng đào ở Nhật Tân được đánh giá cao là vì thế. Cây đào có nguồn gốc từ Trung Quốc, được lựa chọn và lai giống để có màu sắc tươi và rực rỡ hơn.

Cây đào khá kén chăm sóc và tưới bón. Nếu không chăm sóc tốt, tưới tiêu phù hợp, đào sẽ không thể nở hoa đẹp hoặc nở đúng thời kỳ. Ngoài ra cũng còn dựa vào khí hậu thời tiết, đào sẽ ra hoa vào lúc nào. Cũng như mai, đào muốn nở hoa, người trồng đào phải tuốt lá trước khoảng hai tuần để nụ hoa đơm ra, hoa nở đúng mùa vụ. Mỗi năm, hoa đào chỉ nở một lần vào mỗi độ sang xuân.

Vào hè quả đào sẽ chín. Quả đào thường có vị chua, là loại trái cây yêu thích của nhiều người. Lá đào không giống lá mai. Lá đào dài hơn, có vân là răng cưa, màu xanh lá nhạt không đậm, rì như lá cây mai. Cành đào cũng mảnh và mỏng hơn so với cây mai. Cánh đào tương tự cánh mai, mỏng, nhẹ.

Hoa đào có nhiều cánh cứ đan xen vào nhau mang màu hồng thắm hoặc nhạt theo từng giống đào. Hoa đào nở rất nhanh, tàn cũng rất nhanh. Trung bình một bông hoa từ lúc thành nụ đến khi tàn là khoảng 2 đến 3 tuần. Khi đào nở bung chuẩn bị tàn, chỉ cần một làn gió nhẹ thổi qua, cánh hoa đào cũng sẽ rơi xuống hệt như hoa anh đào của Nhật Bản.

Tùy theo chủng loại, tuổi đời và cách chăm bón, cây đào có nhiều kích thước khác nhau. Có thể rất nhỏ hoặc rất lớn. Rễ cây đào là rễ cọc, luôn có thân giữa cứng cáp to lớn làm trụ. Trung bình một cây đào cao khoảng 1 mét trở lên. Cây đào có nhiều cành, cành mềm dẻo dễ uốn nắn. Vì thế mà người trồng đào có thể uốn nắn theo từng hình dáng, tướng tá khác nhau. phù hợp với thị yếu của người mua.

Hoa đào mang rất nhiều ý nghĩa. Trước đây, hoa đào mang tinh thần đuổi ma quỷ trong nhà. Ngày nay, hoa đào mang lại sự ấm cúng cho gia đình, mang lại sự an khang thịnh vượng. Vẻ đẹp đằm thắm, hài hòa và kín đáo của hoa đào mang lại niềm vui, niềm hi vọng mới. Không chỉ thế, hoa đào còn đại diện cho tình bạn thân thiết, của lòng hướng về gia đình. Bởi vậy mà những người con miền Bắc xa quê, những người bạn thân đến thăm nhau vào dịp tết thường chọn cành đào làm quà.

Hoa đào ngày nay đã trở thành tinh thần ngày tết, hồn dân tộc Việt. Vì thế, nên những người Việt xa quê, đón Tết tại nơi xứ người, luôn muốn tìm một cành đào để trang trí trong nhà, để họ cảm thấy một cái tết Việt Nam. Sắc hồng thắm nhẹ nhàng của đào là hương vị không thể thiếu của người Việt Nam. Thiếu đào, cái hơi thở của Tết chưa thật sự đúng nghĩa. Hoa đào, hoa mai là hình ảnh của Tết, là linh hồn của ngày Tết quê hương.

Đào khoe sắc thắm báo hiệu một năm đã qua, năm mới lại về. Năm mới với những thử thách mới, hi vọng mới, niềm tin mới. Sắc đào rộ lên là lúc báo hiệu thời khắc thiêng liêng của một năm lại tới. Người người ai ai cũng quây quần đoàn tụ với gia đình. Dù ai đi ngược về xuôi vẫn nhớ đến gia đình quê hương mà tìm về vào dịp Tết không quên mang theo cành đào, cành mai về làm quà.

Nói đến mùa xuân đất Bắc ta nghĩ ngay đến hoa đào – loại hoa đặc biệt mỗi dịp xuân về. Mùa xuân về trên những cành hoa ửng hồng duyên dáng và đất trời bồi hồi thổn thức, ấy là xuân, ấy là sắc hoa, Cây đào là loại hoa đặc biệt của Tết Nguyên Đán. Nhiều người chuộng chơi hoa đào tết vì hoa đào có màu đỏ sẽ mang lại sự may mắn trong năm.

Mặc dù nguồn gốc được cho ở xứ Ba Tư xa xôi nhưng ngày nay hoa đào có mặt khắp nơi trên đất nước ta, đặc biệt là ở miền Bắc mỗi khi Tết đến Xuân về. Người ta yêu loài hoa này vì những giá trị thẩm mỹ và văn hóa của nó. Nó là một loài cây sớm rụng lá, thân gỗ nhỏ, có thể cao tới 5-10m. Lá của nó có hình mũi mác, dài 7-15cm và rộng 2-3cm.

Hoa nở vào đầu mùa xuân, trước khi ra lá, hoa đơn hay có đôi, đường kính 2,5-3cm, màu hồng, ở nước ta đào được quan tâm nhiều đến hoa mỗi độ xuân về. Hoa đào ở Việt Nam có bốn giống thường thấy là: Đào bích có màu hồng thẫm, đào phai hoa màu hồng nhạt, đào phai hoa kép, sắc hồng phảng phất kiêu kì, đào bạch màu trắng ít hoa hơn, tương đối khó trồng; đào thất thốn cây thấp nhỏ, hoa nhỏ và nhiều màu, thường được trồng vào chậu uốn thành các dạng thế.

Đào bích là loài hoa đào phổ biến, cành hoa thắm sắc, hoa rải đều khắp các cành, các tán, xen lẫn nụ hoa xinh với những lộc xanh, chen lẫn những cánh hoa xòe tán với những nụ vừa nhú. Bích đào dù được cắm trong lọ để phòng khách, trên bàn tiếp khách hay vài cành nhỏ cắm trên bàn thờ gia tiên cũng đều đẹp.

Người chơi công phu thì chọn đào tết từ trước đó cả tháng. Nào thì thế phương, thế rồng, nào thì đủ lộc đủ tán…còn kẻ mua hoa về cắm Tết cho đúng với khí xuân thì chỉ chăm chăm nhiều nụ nhiều lộc là được. Chọn được cành đào ưng ý mang về, phải có cái bình đẹp, đốt phần cắt cành để giữ lại nhựa mà nuôi sống thân cành, mà đơm cho hết những nụ hoa trên cành. Có nhà cầu kì chơi hoa đào từ sớm, qua Tết hết hoa, lại kiếm cành đào mới mà chơi cho đến tận rằm tháng Giêng. Ấy thế là mùa xuân cứ tưng bừng gần cả tháng trời.

Với văn hóa Việt Nam, hình ảnh hoa đào được gắn với hai vị thần Trà và Uất Lũy trú ngụ ở trên cây hoa đào khổng lồ che chở cho dân chúng. Hoa đào còn là hình ảnh những cô gái trẻ, mảnh mai, và yếu đuối, thể hiện qua thành ngữ “liễu yếu đào tơ”. Hoa đào còn có mặt trong văn học dân gian gắn bó với tình yêu và duyên nợ của trai gái:

Hay:

Ta còn bắt gặp hình ảnh hoa đào trong thơ Nguyễn Du, trong thơ Nguyễn Bính, thơ Vũ Đình Liên… và nhiều bài thơ hiện đại, tất cả đều tượng trưng cho mùa xuân, tuổi trẻ và sắc đẹp.

Hoa đào còn là một dược phẩm và mỹ phẩm độc đáo của nền y học cổ truyền. Từ xa xưa, sau dịp Tết Nguyên Đán, người ta thường thu hái hoa đào đem phơi khô trong bóng râm (phơi âm can) và bảo quản nơi cao ráo để làm thuốc dùng dần chữa nhiều chứng bệnh nhưng đặc biệt tốt với việc làm đẹp cho phụ nữ.

Hoa đào đã trở thành một loài hoa mang theo biểu tượng của mùa xuân. Và mãi mãi hoa đào mang xuân đến, mang niềm vui và may mắn, đồng hành cùng con người Việt Nam, bất chấp sự vô hạn của thời gian và sự hữu hạn của đời người.

Hoa đào tự bao giờ đã đi vào thơ ca một cách rất tự nhiên. Cứ mỗi dịp Tết đến xuân về có muôn trăm khoe sắc tỏa hương, đem đến bao sức sống mới về sự hồi sinh cho con người. Trong làn sương mỏng giăng mắc trên phố phường, làng xóm của phương Bắc có hình những bông hoa đào nở rộ đẹp đẽ và nổi bật.

Cây hoa đào thuộc họ hoa hồng xuất hiện ở nhiều nước Châu Á như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam…Riêng ở Việt Nam trước kia hoa đào chỉ được trồng ở miền Bắc, ngày nay hoa đào được trồng rộng rãi ở nhiều nơi nhưng không đâu có hoa đào đẹp ở miền Bắc đặc biệt là làng đào Nhật Tân ở Hà Nội.

Advertisement

Cây hoa đào có nhiều giống, nhiều loại với nhiều màu sắc khác nhau thường nở vào mùa xuân. Đẹp nhất là loại đào bích, loại đào này có nhiều cánh màu hồng thẫm, nằm dọc theo cành, là giống đào được dùng chơi trong ngày Tết cổ truyền ở Việt Nam. Ngoài ra còn có giống đào phai, cánh hoa màu hồng nhạt, sai hoa, sai quả nhưng thường được trồng để lấy quả. Còn một số loại đào khác như đào bạch, hoa màu trắng, ít cánh, thưa hoa, loại này tương đối khó trồng.

Đào thất thốn, cây thấp nhỏ, hoa màu đỏ thắm thường trồng trong các chậu, tạo thế, dáng theo ý muốn của con người. Ở miền núi phía Bắc có một loại đào rừng còn gọi là đào mốc, sở dĩ có tên gọi như vậy vì loại đào này thân xù xì, rêu mốc, nụ và hoa ẩn hiện trong lá non. Đào mốc có nhiều ở Sơn La, Lai Châu.

Những năm gần đây đào mốc đã rời bản về xuôi ăn Tết với đồng bằng. Cây hoa đào ưa trồng đất thịt, đất phù sa và phân mùn. Cây rụng lá về mùa đông, đến mùa xuân nảy lộc ra hoa. Thân cây xù xì, nhiều màu, màu nâu, lá đào nhọn, rìa á hình răng cưa. Hoa đào có năm cánh khi nở để lộ ra phần nhụy có màu vàng. Hương hoa đào man mác thoang thoảng.

Hoa đào mang theo vẻ đẹp của mùa xuân , người ta chuộng chơi hoa đào ngày Tết vì hoa đào có màu hồng đỏ đem lại sự may mắn, sinh lộc cho gia đình. Không những thế người Việt Nam ta còn có quan niệm ngày Tết có một cành đào nở rực trong nhà sẽ đuổi được tà ma, khí độc, vì thế mỗi dịp Tết đến xuân về cành đào lại xuất hiện trên bàn thờ hoặc ở một vị trí đẹp, thuận lợi trong nhà. Có lẽ Tết sẽ chưa trọn vẹn nếu thiếu một cành đào.

Trong lịch sử dược học Á Đông hoa đào còn được dùng để làm thuốc uống, chữa bệnh. Danh y Tuệ Tĩnh đã có lần nhắc tới tên các vị thuốc có hoa đào trong cuốn sách “Tâm dược thần hiệu”. Với phụ nữ Á Đông hoa đào còn có tác dụng giúp có một làn da trắng đẹp, mịn màng.

Để có một cây hoa đào nở đúng vào dịp Tết cổ truyền đòi hỏi người trồng hoa có một quá trình chăm sóc cẩn thận, tỉ mỉ. Thường thì sau khi chơi Tết xong người ta đem hoa đào ra vườn để trồng, đốn toàn bộ cành lá, sau đó chăm sóc, tưới, giữ ẩm để đào nảy lộc tốt. Trồng đào khoảng 6- 7 tháng người ta vặt toàn bộ lá của cây để đào phát triển nụ, tùy thuộc vào thời tiết mà người ta có cách chăm sóc cây để cho hoa nở đúng dịp chơi Tết.

Nếu thời tiết nắng ấm nhiều, trời nồm, hoa có thể nở sớm, muốn hãm độ nở của hoa thì phải ngưng tưới nước để đất hơi khô hoặc tưới ít nước mát để cây phát triển chậm lại. Ngược lại nếu trời lạnh thì hoa nở muộn, người trồng phải dùng nước ấm để tưới, dùng ni lông chăng kín vườn trồng đào, thắp bóng điện để sưởi ấm. Ngoài trồng bằng gốc có thể chiết cành để trồng hoặc trồng bằng hạt.

Bên cạnh thịt mỡ, dưa hành, bánh chưng xanh… thì cây hoa đào vẫn mãi không thể thiếu trong ngày Tết. Hoa đào mãi đem lại cho con người những giá trị tinh thần to lớn để rồi chúng ta phải lưu giữ những nét đẹp cổ truyền dân tộc Việt.

Cứ mỗi độ tết đến xuân về, nhà nhà lại sắm sửa đồ dùng để đón tết. Nào là bánh chưng, bánh tét, nào kẹo, mứt, hạt dưa, … để đón năm mới về. Và không thể thiếu ở trong mỗi gia đình là những bông hoa tươi, những cành đào thắm, những đóa mai vàng để không khí xuân sang thêm rực rỡ. Trong đó, ở miền Bắc, những cây hoa đào là loài cây được ưa chuộng nhất mỗi độ xuân về.

Nếu như người Nam Bộ ưa dùng nhành mai vàng thì ở miền Bắc, người ta lại ưa dùng những cành đào hồng. Cùng với quất và mai, cây hoa đào là một trong những loài hoa được sử dụng nhiều nhất mỗi dịp tết. Đào được cho rằng có nguồn gốc từ Ba Tư hoặc Trung Quốc. Nhưng điều này khó ai có thể biết rõ được bởi cây đào đã được người dân Việt truyền tay nhau trồng nên từ biết bao đời nay.

Vậy tại sao cây hoa đào lại là loài cây được người dân ưu ái, ưa dùng nhất mỗi khi dịp tết? Bởi vì hoa đào thường nở đúng dịp tết. Tuy thời gian nở hoa ngắn, nhưng lại mang một vẻ đẹp mà các loài hoa khác không thể có được. Còn theo truyền thuyết trong dân gian kể lại rằng, khi xưa, trên núi Sóc Sơn, có một vị thần cai quản nhân gian, giúp dân trồng trọt, trừ yêu. Nhưng ngày tết, vị thần này phải lên trời để dự tiệc bàn đào.

Điều này khiến cho dân chúng cảm thấy lo sợ. Vậy nên, thần đã bẻ một nhành cây mọc trên núi, rồi đưa cho người dân để trong nhà để xua đuổi tà ma. Sau đó, nhành cây này được mọi người chia nhau nhân giống rộng khắp nơi. Từ đó mà hình thành nên cây hoa đào cũng như truyền thống chơi đào của người dân khi tết về.

Cây hoa đào là một loài cây thân gỗ, thẳng đứng, sống lâu năm, thuộc họ hoa hồng. Thân cây cao khoảng từ một tới ba mét tùy thuộc vào môi trường sống cũng như quá trình chăm sóc mà cây có thể cao thấp tùy theo yêu cầu của người trồng cây. Thân đào có màu nâu, trơn bóng. Các cành cây thì mảnh dẻ tỏa ra bốn hướng.

Trên mỗi cành cây là lá đào mọc thành chùm, tầm ba đến bốn lá. Lá đào thon dài, độ khoảng mười lăm centimet. Không như hoa mai miền Nam ưa cái nắng nóng, hoa đào lại ưa cái thời tiết se se lạnh bốn mùa của miền Bắc. Chính vì vậy, đào thường trổ hoa vào những ngày giáp tết, khi cái lạnh còn chưa qua hết và cái ấm vừa mới sang .

Hoa đào màu hồng nhưng cũng có giống đào màu trắng. Hoa có năm cánh, hình tròn, xếp khít thành một vòng. Nhụy hoa màu vàng và có cuống hình ống. Hoa đào thành nụ trong cái rét nên chỉ chờ khi tiết trời ấm áp để bung nở, vừa đúng dịp xuân về. Khi đào kết quả thì có dạng tròn, thường được bao phủ một lớp lông tơ mịn bên ngoài, vị ngọt và khá giòn.

Cây hoa đào trông vậy nhưng nếu thật tinh mắt thì mới thấy, đào được phân ra thành nhiều loại khác nhau. Nếu dựa theo màu sắc của cánh hoa, ta có đào bích và đào phai. Đào bích là loại đào có hoa màu hồng đậm, thường được trồng ở các vùng giáp với Hà Nội, còn đào phai là loại đào có cánh màu hồng nhạt.

Đào phai chính là loại đào được người ta ưa chuộng nhất, cũng là loại đào được trồng trong cung vua ngày xưa. Người ta biết đến những vườn đào Nhật Tân nổi tiếng, những vườn đào rộng bát ngát bãi bồi sông Hồng chính là nơi trồng loại đào phai này bởi đào phai chỉ có thể trồng ở đất kinh kì Hà Nội.

Ngoài ra, người ta còn phân loại đào theo số lượng cánh hoa thành đào đơn và đào kép. Nhưng giống đào đặc biệt nhất phải kể ra là loại đào trắng chỉ có ở Sapa. Đào trắng thân thấp, hoa trắng có năm cánh, ưa cái lạnh giá buốt của Sapa. Người sành chơi đào nếu muốn có phải lặn lội săn tìm loài đào tận những khu rừng ở Sapa để mang về chơi dịp tết.

Bởi vì hoa đào thường được bày trong ngày tết nhưng vào độ một tháng trước tết, chúng ta có thể thấy đào được bày bán khắp mọi nơi. Dăm bảy loại đào với dăm ba kiểu dáng khác nhau cứ chen nhau tỏa hương sắc rực rỡ. Người chơi đào có khi chơi cả chậu, có khi lại chỉ chơi một cành đào phải nhỏ. Nhưng thấy đào, người ta dường như thấy cả tết, thấy cả một mùa xuân đầy may mắn về.

Vậy nên, ai đi xa mà trở về quê hương, người ta thường chọn một cành đào để mang về. Đó là món quà xa quê, món quà của lòng mong mỏi được trở về sum họp với gia đình. Vậy nên cây hoa đào không chỉ để trưng bày dịp tết, có giá trị về mặt thẩm mĩ, mà nó còn có tác dụng làm đẹp cho con người. Từ xưa, những người phụ nữ đã truyền nhau cách làm đẹp từ những cánh hoa đào này, đặc biệt là dùng để chăm sóc da.

Để có một cành đào đẹp trưng trong ngày tết thì trước đó cả tháng, người trồng đào đã bắt đầu ươm mầm, chăm bẵm cho cây. Những cây đào được ươm sẵn thành những cây cao khoảng một mét. Cách khoảng một tháng trước tết, đào được người trồng chăm sóc kĩ cho ra nụ hoa và uốn theo thế có sẵn, mà thường là thế rồng phượng uốn lượn, …

Vì cây đào ưa đất thịt, đất bùn, ưa không gian thoáng rộng và thường ra nụ trong dịp gió lạnh nên người trồng đào phải canh gió, canh lạnh cho cây. Đến khi nụ đào nở he hé, người trồng đào phải giữ nụ bằng kinh nghiệm và kĩ thuật của mình để cành cho đào nở đúng dịp tết. Đào ta ưa cái lạnh âm ẩm chứ không phải là rét buốt như đào của đất Sapa. Chờ tới khi gió xuân ấm về, cả vườn đào chợt bung tỏa hồng rực thì đó cũng là lúc tết đã về.

Cũng như bánh chưng, hoa đào đã trở thành nét đặc trưng không thể thiếu của không khí tết miền Bắc. Đó là loài cây báo hiệu mùa xuân về. Người ta quan niệm rằng nếu có một cành đào trong nhà ngày đầu năm thì năm đó, gia chủ sẽ đón tài lộc và may mắn cả năm. Bởi vậy, đào còn là sự may mắn, sự phúc lộc.

Dịp tết là lúc những người con trở về nhà cũng là lúc để những người xa quê hương tưởng nhớ lại quê hương. Trở về nhà với cành đào trên tay, tức là đã mang tết về nhà, mang tình thân về sum họp. Hoa đào muôn đời nay vẫn là biểu tượng của mùa xuân, của may mắn và hạnh phúc. Và nó sẽ luôn luôn là như vậy.

….

Bài Viết Số 1 Lớp 9 Đề 2: Thuyết Minh Về Một Loài Cây Dàn Ý & 58 Mẫu Bài Viết Số 1 Lớp 9 Đề 2

Đề 2: Cây … ở quê em. (Đây là dạng đề chưa hoàn tất, dành để giáo viên và học sinh lựa chọn, bổ sung. Nên chọn đối tượng thuyết minh cụ thể cho sát với thực tế mỗi địa phương)

Thuyết minh về cây cao su Dàn ý thuyết minh về cây cao su

I. Mở bài:

– Dẫn dắt và giới thiệu về đối tượng cần thuyết minh: cây cao su

II. Thân bài:

* Nguồn gốc cây cao su: Xuất hiện ở khu vực rừng Amazon.

* Đặc điểm hình dáng cây cao su

+ Thân: cao thẳng, thân gỗ tròn cao từ 15 đến 20 mét.

+ Lá: xanh đậm, tán lá rộng.

+ Rễ cọc , ăn sâu vào lòng đất.

* Đặc điểm thích nghi:

+ Môi trường rừng nhiệt đới ẩm.

+ Nhiệt độ thấp , mưa nhiều.

+ Sự phân bố: Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, trung tâm phía Bắc, duyên hải miền Trung…

* Cách trồng và chăm sóc:

+ Trồng phù hợp với đặc điểm của cây.

+ Chăm sóc hợp lý để cây có thể phát triển tốt.

+ Khoét thân lấy nhựa cây.

* Vai trò:

+ Loại cây công nghiệp lâu năm.

+ Lợi ích lợi nhuận mang lại cao.

+ Cải thiện nâng cao đời sống con người.

+ Phát triển kinh tế quốc dân.

+ Bảo đảm an ninh quốc phòng….

III. Kết bài:

– Khẳng định lại một lần nữa vai trò của cây cao su đối với con người.

Thuyết minh về cây cao su – Mẫu 1

Cây cao su được biết đến là một loài cây thân gỗ thuộc họ Đại kích. Cao su đem lại nguồn lợi nhuận kinh tế lớn, phần nhiều là do nhựa cây, hay còn được gọi là mủ cao su. Một cây cao su trưởng thành có thể cao tới 30 mét. Chỉ khi mới đạt đến độ tuổi 5,6 năm, cây cao su đã được người ta khai thác để lấy mủ. Nếu như các mạch nhựa mủ ở vỏ cây thường tạo thành một vòng xoắn ốc thì khi khai thác, người ta rạch những vết cắt vuông góc với mạch nhựa mủ với một độ sâu hợp lí để vừa làm nhựa mủ chảy ra nhưng đồng thời không gây tổn hại đến sự phát triển của cây. Hoạt động khai thác này nhiều khi được gọi là cạo mủ cao su. Dựa vào giống, địa điểm trồng, cách chăm sóc và khai thác, ta có thể nhận biết được lượng mủ cao su khai thác được. Một cây cao su trung bình có chu kỳ khai thác kéo dài từ 20 đến 25 năm.

Tìm hiểu về đặc tính của cây cao su, ta cũng bắt gặp rất nhiều thông tin thú vị. Ngoại trừ ba tháng cây thay lá, khoảng thời gian còn lại trong năm ta đều có thể thu hoạch được nhựa mủ cao su. Vốn dĩ thời gian cây thay lá có một ảnh hưởng vô cùng quan trọng đến sinh lý cây cũng như năng suất, nên cây thường được người ta khai thác từ tháng ba năm trước và kết thúc vào tháng một năm sau. Cây cao su mang bộ rễ cọc cắm sâu vào lòng đất để chống sự khô hạn, giữ vững thân cây và hấp thụ dinh dưỡng từ đất. Vỏ cây nhẵn, có màu nâu nhạt. Lá cao su thuộc loại lá kép, mỗi năm thay lá một lần nhưng lại có hoa đơn. Vùng nhiệt đới ẩm với nhiệt độ trung bình cao, mưa nhiều chính là nơi phù hợp nhất cho loài cây này phát triển. Trước đây, cây cao su thường được trồng và sinh trưởng tự nhiên bằng hạt nhưng do yêu cầu về chuyên canh, nhiều cây cao su hiện nay được nhân bản vô tính bằng phương pháp ghép mắt trên gốc cây sinh trưởng bằng hạt tự nhiên.

Một điểm đặc biệt cần lưu ý về cao su là đây là một loài cây độc. Ban ngày hay ban đêm, việc trao đổi khí đều đem lại nguy hiểm cao nên mọi người thường tránh xây dựng, sinh hoạt trong rừng hoặc những khu gần rừng trồng cao su bởi vì cây hấp thụ oxi cao, dễ gây hiện tượng hiếm khí. Bên cạnh đó, mủ của cây cao su cũng là một chất lỏng rất độc có thể gây hại với môi trường, đặc biệt là nguồn nước tại những nơi khai thác hoặc gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của bất cứ những ai tham gia khai thác lấy mủ cao su.

Cây cao su cũng khá phổ biến ở Việt Nam, cây được trồng nhiều nhất tại vùng Tây Nguyên với khí hậu, đất đai phù hợp. Cây cao su là mặt hàng xuất khẩu lớn của Việt Nam, đem lại những giá trị kinh tế cao. Hiện nay, những sản phẩm làm từ cao su rất phổ biến và mủ cao su là nguyên liệu chủ lực để sản xuất nên cao su tự nhiên. Găng tay, lốp xe, đồ chơi…đó đều là những mặt hàng được làm rất nhiều từ cao su, đem lại lợi ích kinh tế cũng như nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho con người. Cho dù cây cao su có một vài những điểm trừ có thể gây hại cho con người, song sản phẩm làm từ nguyên liệu này vẫn đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống con người, đồng thời góp phần vào quá trình phủ xanh đất trống đồi trọc không chỉ ở Việt Nam mà còn ở rất nhiều vùng khác trên thế giới.

Cao su là một loài cây quen thuộc đem lại nhiều giá trị kinh tế cao. Thực trạng lâm tặc khai thác rầm rộ hiện nay yêu cầu một giải pháp kịp thời để có thể bảo vệ loài cây này. Trồng, chăm sóc và khai thác hợp lí cũng là cách hữu hiệu mà mỗi chúng ta cần cân nhắc và kiên trì thực hiện.

Thuyết minh về cây cao su – Mẫu 2

Trong những cây công nghiệp có giá trị kinh tê cao của nước ta, cây cao su chiếm vị thế vô cùng quan trọng.

Cây cao su bắt nguồn từ loài cây ở vùng lưu vực sông Amazon, đến năm 1878,những cây cao su đầu tiên được du nhập vào Việt Nam dưới sự vận chuyển của thực dân Pháp và được ươm trồng ở một vườn ươm riêng, nay được gọi là Thảo Cầm Viên. Đến nay, cây cao su là loài cây được trồng phổ biến ở khắp mọi tỉnh thành trên cả nước, từ vùng duyên hải miền Trung đến vùng núi phía Bắc. Diện tích trồng cao su của nước ta tính đến năm 2023 đã đứng thứ 3 trên toàn thế giới với tổng diện tích là 969.000 ha. Cây cao su thuộc họ Thầu Dầu, thích hợp với môi trường sống ở các vùng khí hậu nhiệt đới ẩm, mưa nhiều. Thân cao thẳng với chiều dài thân từ 15 đến 30 mét, to khoảng 0,5 đến 1 mét. Cao su là loài cây rễ cọc, rễ cắm sâu vào lòng đất để dễ hút nước và chất dinh dưỡng cung cấp cho các bộ phận của cây. Lá cây cao su là lá kép, màu xanh thẫm, cứ đến tháng 12 hàng năm cây sẽ thay lá một lần. Cây cao su là loài cây ra hoa. Hoa cao su không mọc thành khóm hay chùm mà mọc riêng lẻ. Sau khi hoa rụng sẽ kết quả. Quả cao su hình bầu dục hoặc hình cầu, màu xanh nhạt hơn lá một chút.

Hiện nay, người ta nhân giống vô tính cây cao su bằng cách ghép mắt chồi và trồng như một giống phổ biến khắp cả nước. Tùy vào khả năng chăm bón và điều kiện khí hậu, một cây cao su có thể mất 5 đến 6 năm để trưởng thành đến giai đoạn lấy mủ. Tuy thế, thời gian khai thác mủ của một cây cao su kéo dài rất lâu, từ 20 đến 25 năm. Sau khi khai thác triệt để mủ cao su, người ta có thể đem thân cây dùng như gỗ gia dụng hàng ngày. Có nghĩa là, suốt một vòng đời khoảng 30 năm của mình, cây cao su được tận dụng triệt để những công dụng của nó. Dù vẫn có thể được sử dụng với mục đích lấy gỗ với nhu cầu thị trường đang ngày một cao lên, nhưng mủ cao su mới là trọng tâm trong giá trị kinh tế của cây cao su. Mủ cao su được lấy bằng cách cắt nghiêng 32 độ trên vỏ cây, sản phẩm mủ sẽ được chuyển đến các nhà máy và được chế biến thành thành phẩm. Có rất nhiều mặt hàng được làm từ mủ cao su, từ găng tay y tế, băng chuyền đến lốp xe các loại… Chính bởi giá trị kinh tế cao của nó , cao su là loại cây được trồng rất nhiều trên diện tích lớn ở vùng núi nhằm xóa đói giảm nghèo cho người dân vùng sâu vùng xa nước ta. Bên cạnh lợi ích to lớn về kinh tế, việc khai thác cây cao su nói chung và khai thác mủ cao su nói riêng gây ra những ảnh hướng xấu vô cùng đến môi trường. Chất thải, khí thải trong quá trình khai thác và chế biến mủ cao su tác động xấu đến không khí và tầng ozone, thậm chí là chính sức khỏe của những người dân lao động kiếm sống nhờ loài cây này. Chính vấn đề này đòi hỏi chúng ta phải tìm ra giải pháp thích hợp để bảo vệ môi trường và sức khỏe của người dân lao động.

Cùng với tiềm năng kinh tế to lớn cần được khai thác của cây cao su, ta cần tìm ra những giải pháp khắc phục những mặt xấu trong quá trình chế biến chúng, chỉ có thế ta mới có thể biến cây cao su trở thành cây hoàn toàn có ích, không gây hại đến bất cứ phương diện nào của cuộc sống.

Thuyết minh về cây tre Dàn ý Thuyết minh về cây tre

I. Mở bài:

Giới thiệu khái quát về mối quan hệ và công dụng thiết thực của cây tre với người dân Việt Nam

II. Thân bài:

1. Nguồn gốc:

– Cây tre đã có từ lâu đời, gắn bó với người dân Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử.

– Tre xuất hiện cùng bản làng trên khắp đất Việt, đồng bằng hay miền núi…

2. Các loại tre:

– Tre có nhiều loại: tre Đồng Nai, nứa, mai, vầu Việt Bắc, trúc Lam Sơn, tre ngút ngàn rừng cả Điện Biên, và cả lũy tre thân thuộc đầu làng…

3. Đặc điểm:

– Tre không kén chọn đất đai, thời tiết, mọc thành từng lũy, khóm bụi

– Ban đầu, tre là một mầm măng nhỏ, yếu ớt; rồi trưởng thành theo thời gian và trở thành cây tre đích thực, cứng cáp, dẻo dai

– Thân tre gầy guộc, hình ống rỗng bên trong, màu xanh lục, đậm dần xuống gốc. Trên thân tre còn có nhiều gai nhọn.

– Lá tre mỏng manh một màu xanh non mơn mởn với những gân lá song song hình lưỡi mác.

– Cả đời cây tre chỉ ra hoa một lần và vòng đời của nó sẽ khép lại khi tre “bật ra hoa”…

4. Vai trò và ý nghĩa của cây tre đối với con người Việt Nam:

a. Trong lao động:

– Tre giúp người trăm công nghìn việc, là cánh tay của người nông dân.

– Làm công cụ sản xuất: cối xay tre nặng nề quay.

b. Trong sinh hoạt:

– Bóng tre dang rộng, ôm trọn và tỏa bóng mát cho bản làng, xóm thôn. Trong vòng tay tre, những ngôi nhà trở nên mát mẻ, những chú trâu mới có bóng râm để nhởn nhơ gặm cỏ, người nông dân say nồng giấc ngủ trưa dưới khóm tre xanh…

– Dưới bóng tre, con người giữ gìn nền văn hóa lâu đời, làm ăn, sinh cơ lập nghiệp.

– Tre ăn ở với người đời đời kiếp kiếp:

+ Khi chưa có gạch ngói, bê tông, tre được dùng để làm những ngôi nhà tre vững chãi che nắng che mưa, nuôi sống con người.

+ Tre làm ra những đồ dùng thân thuộc: từ đôi đũa, rổ rá, nong nia cho đến giường, chõng, tủ…

+ Tre gắn với tuổi già: điếu cày tre.

+ Đối với trẻ con ở miền thôn quê thì tre còn có thể làm nên những trò chơi thú vị, bổ ích: đánh chuyền với những que chắt bằng tre, chạy nhảy reo hò theo tiếng sáo vi vút trên chiếc diều cũng được làm bằng tre…

c. Trong chiến đấu:

– Tre là đồng chí…

– Gậy tre, chông tre chống lại sắt thép quân thù.

– Tre xung phong… giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh…

– Tre hi sinh để bảo vệ con người

III – Kết bài:

– Cây tre trở thành biểu tượng của dân tộc Việt Nam. Trong đời sống hiện đại ngày nay, chúng ta vẫn không thể rời xa tre.

Thuyết minh cây tre – Mẫu 1

Có lẽ đối với mỗi người Việt Nam, cây tre đã trở thành một phần của cuộc sống. Đặc biệt với mỗi con người ra đi từ làng quê thì hình ảnh những luỹ tre xanh đã ăn sâu vào tiềm thức, do vậy dù có đi đâu đến nơi đâu họ cũng đều nhớ về luỹ tre xanh như nhớ về kỉ niệm gắn bó, thân thương nhất. Và đó chính là niềm tự hào của họ hàng nhà tre chúng tôi.

Sự gắn bó, gần gũi của họ hàng nhà tre chúng tôi được thể hiện ở chỗ đi bất cứ nơi đâu, đồng bằng hay miền núi thì bạn cũng đều thấy chúng tôi nghiêng mình trên những con đường hay trong những cánh rừng bát ngát. Họ nhà tre chúng tôi rất đông đúc, nào là: Tre Đồng Nai, nứa, mai, vầu Việt Bắc, trúc Lam Sơn, tre ngút ngàn rừng cả Điện Biên, rồi dang, rồi hóp và cả luỹ tre thân thuộc đầu làng…

Khác với các loài cây khác, từ khi mới bắt đầu sinh ra, chúng tôi đã thể hiện sự ngay thẳng, điều đó các bạn có thể thấy ngay khi nhìn những mầm tre mọc thẳng tắp và dù trong bất cứ môi trường nào chúng tôi cũng vẫn vươn lên để sống mạnh mẽ và xanh tốt. Thân tôi gầy guộc hình ống rỗng bên trong,màu xanh lục, đậm dần xuống gốc. Tôi bền bỉ hiên ngang chẳng dễ gì bị ngã dưới các anh mưa chị gió. Vả lại trên thân tôi có rất nhiều rất nhiều gai nhọn như những chiếc kim giúp tôi tự vệ ,bảo vệ cuộc sống của mình trước những bàn tay ác quỷ dám chặt phá tôi một cách vô lí. Lá của tôi mỏng manh một màu xanh non mơn mởn với những hình gân song song trên lá như những chiếc thuyền nan rung rinh theo những cơn gió thoảng. Rễ tôi thuộc loại rễ chùm, gầy guộc và cằn cỗi nhưng bám rất chắc chắn vào đất giúp giữ mình không bị đổ trước những cơn gió dữ.

Vào những ngày khô hạn nóng nực vô cùng. Cả nhà chúng tôi đung đưa theo gió, dang những cành tre che mát cho đàn con – những đàn con thân yêu. Đến thời kì mưa gió bão bùng,chúng tôi kết thành lũy dày kiên cố ra sức chống gió cản mưa. Chính nhờ đặc điểm này mà chúng tôi sống được ở nhiều vùng khí hậu khác nhau, ở những nơi gần nước hay những nơi xa nước. Vì thế mà câu thơ này ra đời:

Trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc, chúng tôi luôn cùng con người đấu tranh cho độc lập, tự do. Chẳng thế mà từ lâu, người Việt đã ví chúng tôi với phẩm chất quật khởi của dân tộc ngàn đời.Những ngày đất nước Việt Nam còn sơ khai, chúng tôi đã giúp ông Gióng diệt lũ giặc Ân bạo tàn, đem lại hạnh phúc cho muôn dân. Rồi trong cuộc chiến chống quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, chính chúng tôi đã dìm chết bao tàu chiến của địch khiến cho chúng khiếp sợ phải thua cuộc. Thuở đất nước còn chưa có vũ khí hiện đại như bây giờ, chúng tôi là vũ khí mạnh nhất được dùng để tiêu diệt quân thù. Và trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mĩ, chúng tôi cũng tích cực tham gia kháng chiến bằng cách góp một phần bé nhỏ cơ thể mình để làm ra những cây chông nhọn hoắt sẵn sàng tiêu diệt kẻ thù. Bởi vững vàng trong chiến đấu mà họ mà tre tôi đã được phong danh hiệu anh hùng bất khuất.

Không chỉ trong đánh giặc giữ nước, loài tre nhà chúng tôi còn rất có ích trong cuộc sống hàng ngày. Mỗi khi về thăm một thôn xóm, một bản làng nào bạn cũng sẽ thấy vòng tay của chúng tôi dang rộng, ôm trọn và toả bóng mát cho cho cả dân làng. Trong vòng tay của chúng tôi, những ngôi nhà trở nên mát mẻ, những chú trâu mới có bóng râm để nhởn nhơ gặm cỏ. Những trưa hè, chúng tôi thật hạnh phúc khi được ngắm những khuôn mặt trẻ thơ say nồng giấc ngủ trong tiếng võng kẽo kẹt dưới khóm tre. Hơn thế chúng tôi còn là những vật liệu để bà con dựng nhà, những ngôi nhà được làm từ tre rất mát mẻ và sạch sẽ.

Dưới bóng chúng tôi là cả một nền văn hoá lâu đời đang từng ngày được nâng niu và gìn giữ. Trong đời sống sinh hoạt, chúng tôi còn làm ra những đồ dùng thân thuộc với mỗi người: đó là đôi đũa, là chiếc chõng tre, chiếc giường tre. Đối với mỗi gia đình nông dân, tre tôi là người bạn vô cùng thân thiết. Ngoài ra cây danh, nứa, một trong những họ nhà trẻ còn giúp con người chẻ lạt buộc nhà, nứa giúp cắm sào làm giàn cho bầu bí leo quấn quýt vào nhau. Tre còn gắn với tuổi già, cho họ chiếc ống điếu hút thuốc làm vui.

Đối với trẻ con ở miền thôn quê thì tre còn có thể làm nên những trò chơi thú vị, bổ ích. Dưới những bãi đất rộng, được chúng tôi che hết ánh nắng oi ả của mùa hè, các bạn tha hồ chơi đùa thoả thích. Các bạn nữ còn trò gì thú vị hơn ngồi đánh chuyền với những que chắt bằng tre. Còn các bạn nam lại chạy nhảy reo hò theo tiếng sáo vi vút trên chiếc diều cũng được làm ra từ tre. Những cánh diều đó sẽ đem ước mơ của các bạn về nơi xa.

Tre chúng tôi còn làm nên những tiếng nhạc réo rắt từ những cây sáo tre, sáo trúc, làm vơi đi bao nỗi vất vả nhọc nhằn của người nông dân chân lấm tay bùn.

Ngày nay loài tre của chúng tôi còn vươn xa hơn nữa. Có một giáo sư là Việt Kiều sống ở Pháp đã đưa anh em chúng tôi sang trồng thử trên đất Pháp. Thế mà ở xứ lạ, chúng tôi vẫn sống vững vàng. Ngày sau, dẫu nước mình có hiện đại hơn, loài tre chúng tôi cũng vẫn sẽ ngay thẳng, thuỷ chung và can đảm để tôn lên những đức tính của người hiền – đức tính Việt Nam.

Thuyết minh cây tre – Mẫu 2

Từ bao đời nay, cây tre là người bạn gắn bó và gần gũi với người dân Việt Nam. Tre đã cống hiến tất cả sự sống cho con người nên ta phải yêu quý và bảo vệ cây tre Việt Nam.

Tre là một loại cây khẳng khiu, có nhiều công dụng. Lá tre thường được người miền Nam lấy để gói bánh tro vào dịp lễ giết sâu bọ. Lạt tre dùng để cột bánh. Thân tre được dùng để làm đũa. Các thợ thủ công cũng đã tận dụng thân tre để đan thành giỏ tre, rổ tre. Nhân dân ta thường đong dầu, đong nước mắm khi mua bán bằng ống tre. Thời cách mạng, bộ đội Việt Nam dùng ống tre để đựng nước, nấu cơm. Trong quán ăn ở vùng nông thôn, người ta cũng chẻ thân tre để làm ống tăm cho khách sử dụng sau bữa ăn. Thân tre chẻ nhỏ để nhóm bếp rất đượm lửa.

Tre có một số loại thông dụng như: tre gai, tre xanh, tre ngà, tre rừng… Bên cạnh đó, nó còn có anh em bà con như: lồ ô, trúc, tầm vông… Tre xanh lúc còn sống có màu xanh mượt, đốt dài và bóng nhẵn, đường kính của thân tre trưởng thành khoảng từ 6 – 8 cm. Cao không đến 10 m. Tre gai kích thước ốm và thấp hơn, lá cũng mỏng manh hơn nhưng ở mỗi đốt tre mọc ra rất nhiều nhánh gai, sắc, nông dân thường trồng thành hàng rào chống trộm. Tre ngà là loại tre có thân sọc vàng xen lẫn với sọc xanh rất đẹp. Người ta thường trồng làm cảnh. Tre rừng, mọc hoang trong rừng nên thường không tươi tốt lắm.

Ngược lại, lồ ô là loại tre rừng khổng lồ, bề ngang và bề cao của nó gấp hai, ba lần tre xanh. Nó mọc thành từng bụi, từng hàng như rừng trong vùng đất hoang. Người ta đốn lấy gỗ làm nhà tranh, nhà sàn rất chắc chắn. Lồ ô to lớn bao nhiêu thì trúc lại mảnh mai, yếu ớt bấy nhiêu vì thân rỗng và kích thước nhỏ bé. Có hai loại trúc là trúc xanh và trúc vàng. Gần đây nước ta có nhập thêm một ít trúc kiểng gọi là trúc Nhật. Những cây kiểng này có hình dáng đặc biệt, thân màu vàng óng, lá xanh mượt mà rất được mọi người ưa chuộng, trồng làm cảnh và thường bày ở mái hiên, phòng khách.

Hình ảnh cây tre đã đi vào ca dao, thơ văn và ca từ. Chẳng hạn như:

(NGUYỄN DUY)

Ông bà ta có nhiều kinh nghiệm trong việc lựa chọn tre tốt:

Người ta còn sử dụng tre già hay tre non vào những việc khác nhau:

Người thợ mộc còn so sánh độ bền của tre như sau:

“Tre già là bà gỗ lim”

Ngoài ra, ông bà ta còn nhìn cây tre để nghe ngóng về thời tiết: “Lá tre trôi lộc, mùa rét xộc đến”. Và từ đó người xưa còn rút ra một quy luật sống của thiên nhiên và con người: “Tre già, măng mọc” tre chẻ ra làm nuộc lạt, trở thành, một thứ không thể thiếu ở nhiều chỗ: khi gói bánh, bó rau hoặc lợp nhà. Ca dao cũng nhắc đến nuộc lạt: “Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu”.

Ai từng đọc truyện Thánh Gióng hẳn không quên bụi tre Đằng Ngà khi Thánh Gióng nhổ tre đánh tan giặc ngoại xâm: “Chẻ tre nghe Gióng”.

Tre không những đi vào thơ văn mà măng tre còn là một thực phẩm chế biến đa dạng. Các món ăn từ măng tre: măng tươi, măng khô, bún măng vịt, măng xào thịt ba rọi, thịt kho măng, măng luộc chấm mắm tôm, măng chua… Bún măng vịt là món ăn được nấu với vịt non, béo, măng tươi hoặc khô đã được luộc và thay nước nhiều lần, khi ăn người ta cho bún, một ít hành răm và rau sống vào nữa, trở thành một món ăn vừa thơm vừa béo với nước dùng ngọt dịu. Măng tươi đã luộc kĩ, có màu vàng chanh, được sắt miếng xào chung với thịt ba rọi trở thành một món ăn dân dã và rất ngon nếu có thêm một vài lát ớt đỏ thì lại càng hấp dẫn. Thịt heo kho măng cũng là một món ăn “bắt mắt”, nấu nhanh và để được vài ngày, tiết kiệm được thời gian nấu nướng mà khi chan vào chén cơm nóng thì cũng rất ngon miệng. Măng luộc phải chọn măng trúc non, vào mùa mưa. Sau khi luộc nhiều lần, ta sắt mỏng rồi chấm với mắm tôm hoặc nước mắm ngon ăn kèm với cơm như một món rau. Nó sẽ có một vị vừa giòn vừa mát, kèm theo một vị ngọt dịu của măng tươi. Nói tóm lại thì cây tre luôn là người bạn đồng hành và nó đóng góp tất cả lợi ích của bản thân mình cho con người Việt Nam.

Hiện nay cuộc sống ngày càng hiện đại và có nhiều đồ dùng là bằng nhựa, inox xuất hiện. Nhưng người ta vẫn có khuynh hướng quay về với thiên nhiên. Bằng chứng là những bộ salon làm bằng mây và tre rất được ưa chuộng và trở thành một món hàng xuất khẩu đắt giá. Ngày nay, nhiều người đã bỏ trồng lúa hoặc cây khoai, đốn cây tre để có chỗ xây nhà lầu, nhưng nếu một lúc nào đó, nước ta không còn một bóng tre thì đời sống sẽ khó khăn và buồn tẻ biết mấy!

Thuyết minh cây tre – Mẫu 3

Một những loài cây có sự gắn bó lâu đời và mật thiết đời sống, văn hóa của dân tộc Việt Nam phải kể đến là cây tre. Khi nhắc đến cây tre, chúng ta không khỏi tư hào gọi là cây tre Việt Nam như sự thừa nhận, khẳng định cây tre là một phần không thể thiếu được của nước nhà.

Cấu tạo thì có vẻ đơn giản như vậy nhưng cây tre có rất nhiều công dụng, là một phần rất quan trọng trong đời sống của bà con nông dân. Dân ta xưa kia chưa thể xây nhà gạch, mái ngói, tre trở thành chất liệu lợp mái, lát vách che nắng che mưa cho bao gia đình. Tre còn được tận dụng trong nghề thủ công, đan lát, trở thành những chiếc rổ, chiếc rá xinh xắn, tiện dụng theo các cô, các chị ra chợ, ra đồng. Tre làm cán cuốc, cán cày một nắng hai sương với người nông dân để được những mùa gặt bội thu. Tre gắn bó trở thành những thứ đồ hàng cho tụi trẻ chăn trâu, trở thành cái điếu cày làm bạn tuổi già với các cụ già,… Không chỉ thế, các chị, các mẹ còn trở nên duyên dáng hơn nhiều trong chiếc guốc tre thoải mái. Tre đã trở thành người bạn thân thiết với nông dân ta từ xưa đến nay.

Khi thời bình, tre trở thành những vật dụng thường ngày của người nông dân nhưng vào lúc nước ta gặp nỗi gian truân, tre lại trở thành một vũ khí vô cùng lợi hại của dân ta. Ở đó, “tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín” (Thép Mới). Trong lúc mà dân ta chưa có vũ khí hiện đại, vũ khí sử dụng đều phụ thuộc cả vào thiên nhiên. Tre với tính chất dẻo dai mà cứng rắn đã trở thành một vũ khí vô cùng lợi hại của dân ta. Từ ngày còn bé ta đã được biết đến truyền thuyết về vị anh hùng Thánh Gióng, bẻ tre bên đường, đánh cho quân xâm lược không còn manh giáp. Hay sự kiện lịch sử quan trọng, Ngô Quyền dùng cọc tre và lợi dụng thủy triều đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng vào năm 938, chấm dứt một nghìn năm Bắc thuộc trong lịch sử Việt Nam, mở ra một thời kỳ độc lập tự chủ cho Việt Nam. Đó là minh chứng rất cụ thể cho vai trò to lớn của cây tre trong những trận chiến khốc liệt giành độc lập dân tộc.

Tre cũng mang trong mình những ý nghĩa biểu tượng rất đáng tự hào, tiêu biểu cho những đức tính tốt đẹp của dân tộc. Tre luôn mọc thành lũy, thành hàng chứ không bao giờ mọc một mình, đó là tinh thần đoàn kết, đồng lòng, là một truyền thống quý báu từ bao đời của cha ông. Tre mọc thẳng, mọc cao, không bao giờ mọc nghiêng, cùng sự dẻo dai dễ sống của cây là biểu hiện rõ nhất cho sự kiên cường, bất khuất, giống như những con người Việt Nam dù phải chịu bao nhiêu sương gió, nhọc nhằn hay bị áp bức vẫn không mất đi sự cao quý trong tâm hồn và sự kiên cường trong tính cách. Đó đều là những phẩm chất đáng quý của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam, nên mới nói, nhắc đến cây tre là nhắc đến con người Việt Nam. Bởi vậy, cả dân tộc đều gọi tre là cây tre Việt Nam.

Tre thật đẹp, thật có ích. Tre là biểu tượng không thể phai đổi, không thể mất đi, tre già măng mọc, thế hệ này sẽ tiếp nối nhựa sống của thế hệ kia, sẽ còn mãi đến mai sau. Dù là chiến tranh đã lùi xa, cuộc sống trở nên hiện đại hơn, nhiều loại vật liệu được sinh ra thay thế cho tre nhưng cây tre vẫn mãi giữ một vị trí quan trọng trong tâm hồn người Việt và mãi là tài sản vô giá của cả dân tộc.

Trên mảnh đất Việt Nam của cha ông, tre và người và đã gắn bó, cùng đồng cam cộng khổ, nâng đỡ nhau qua bao năm tháng lịch sử có giá trị to lớn và vĩnh hằng. Hình ảnh cây tre đã trở thành hình ảnh không thể thiếu trong những trang văn hóa bất diệt của dân tộc, là người bạn lớn đáng tôn vinh của cả dân tộc.

Thuyết minh về cây dừa Dàn ý thuyết minh cây dừa

I. Mở bài: Giới thiệu cây dừa

– Kìa vườn dừa cây cao cây thấp

– Gió quặt quà cành lá xác xơ

– Thương anh em vẫn đợi chờ

Không biết từ bao giờ mà cây dừa đã đi vào thơ ca rất đỗi thân thuộc và trìu mến, cây dừa là một loại cây rất quen thuộc và ý nghĩa đối với cuộc sống của người dân. Cây dừa gắn bó thủy chung son sắt với con người.

II. Thân bài:

1. Nơi phân bố

– Trên thế giới: Dừa thường phân bố ở vùng châu Á, Thái Bình Dương

– Ở Việt Nam: Dừa thường tập trung từ Quảng Ngãi đến Cà Mau nhưng nhiều nhất là ở Bình Định và Bến Tre.

2. Đặc điểm

a. Cấu tạo

– Thân dừa: Cây dừa cao khỏe, có màu nâu sậm, hình trụ và có những nốt vằn trên thân.

– Lá: Lá dài, xanh và có nhiều tàu

– Hoa: Trắng và nhỏ

– Quả: Phát triển từ hoa, bên ngoài màu xanh dày, bên trong có cơm và nước.

– Buồng dừa: Chứa các quả dừa, mỗi buồng thường có 15 quả.

b. Khả năng sinh sống

– Thường sống ở khí hậu nhiệt đới

– Phát triển trên đất pha cát và có khả năng chống chịu tốt

– Dừa cần độ ẩm cao (70–80%+) để có thể phát triển một cách tối ưu

– Phát triển trong khu vực khô cằn

3. Phân loại

– Dừa xiêm: Loại dừa này trái thường nhỏ, có màu xanh, nước dừa rất ngọt, thường dùng để uống.

– Dừa bị: Trái thường to, vỏ màu xanh đậm, thường được dùng trong chế biến thực phẩm

– Dừa nếp: Trái vàng xanh mơn mởn.

– Dừa lửa: Lá đỏ, quả vàng hồng.

– Dừa dâu: Trái rất nhỏ, thường có màu hơi đỏ.

– Dừa dứa: Trái nhỏ, màu xanh, nước ngọt, vì thơm mùi dứa nên gọi là dừa dứa.

– Dừa sáp: Cơm dừa vừa xốp, vừa mềm mại lại dẻo như bột đã được nhào sệt, đồng thời lại có màu vàng đục như sáp, chỉ có ở vùng Cầu Kè (Trà Vinh).

4. Công dụng

– Nước dừa: Thường được dùng làm nước uống, kho cá, nước chấm,….

– Cơm dừa: Làm kẹo, mứt hay làm nước cốt dừa

– Dầu dừa: Nấu ăn, thoa tóc, dưỡng da,….

– Xơ dừa: Dùng làm dây thừng

– Thân dừa: Làm cột nhà, làm cầu bắt qua sông,…

– Hoa dừa: Dùng để trang trí

– Gáo dừa: Dùng để nấu ăn hay vật dụng trong gia đình,….

– Rễ dừa có thể dùng làm thuốc nhuộm, thuốc sát trùng để súc miệng hay chữa trị bệnh lỵ.

– Làm đồ mỹ nghệ

– Dừa có thể một số bệnh như: Khản tiếng, lỵ, giải độc,….

5. Ý nghĩa của cây dừa

– Trong đời sống:

– Trong nghệ thuật:

+ văn học dân gian:

+ văn thơ hiện đại và cận hiện đại

+ âm nhạc

III. Kết bài

Dừa là một người bạn rất hữu ích với người dân quê Việt Nam. Dừa rất có ích cho cuộc sống và tinh thần của người dân.

Thuyết minh cây dừa – Mẫu 1

Dừa là loại cây dễ trồng ở nước ta. Xu hướng dùng hàng thủ công mĩ nghệ từ cây dừa ngày càng được ưa chuộng trên thế giới. Các sản phẩm từ dừa đang có tiềm năng xuất khẩu rất lớn, đem nhiều ngoại tệ về cho đất nước.

Dừa được trồng rải rác khắp các làng quê Nam Bộ, nhiều nhất là ở tỉnh Bến Tre, Bình Định. Tiềm năng sản xuất và xuất khẩu của cây dừa rất lớn, đã hình thành cả công nghệ chế biến: Ngâm tẩm chống mối, tạo dáng, đánh bóng, phủ lớp nhựa chống thấm lên bề mặt sản phẩm.

Xu hướng dùng hàng thủ công mỹ nghệ từ cây dừa: Giỏ xách, dĩa, chén, bình, tách, đũa, khay, hộp. Ở các nước phương Tây ngày càng được ưa chuộng.

Từ dừa có thể làm vô vàn thứ: cọng dừa tước bỏ lá, đan giỏ xách, làm chổi; gáo dừa làm than hoạt tính, làm chén, dĩa, tô, thân dừa lão làm đũa, làm cột nhà, vỏ dừa làm dây buộc. Mùa nắng nước dừa là một thứ giải khát tuyệt chiêu vừa sạch vừa bổ. Cơm dừa già làm nguyên liệu chế biến các món ăn và thức uống, nấu dầu dừa và chế biến xà phòng. Nước ta chê biến được nhiều sản phẩm như: bánh dừa, kẹo dừa, các loại mứt dừa và còn nhiều món ăn truyền thống dân tộc chế biến từ dừa: Bánh tét, chuối nướng.

Đặc biệt, nước dừa được tạo thành sản phẩm thông qua quy trình công nghệ sinh học. Nước dừa nuôi nấm men Saccharomyces tạo ra prô-tê-in đơn bào bổ sung nguồn đạm thực vật dùng cho người. Giấm ăn hoặc các sản phẩm nước uống lên men từ nước dừa như nước giải khát đóng chai, nước dừa có ga. Nước dừa còn chế biến thành rượu có hương vị đặc trưng. Nước cốt dừa tạo sữa dừa đóng hộp, sản phẩm chiết từ cơm dừa nạo chế biến sữa đặc có đường. Gần đây các nhà khoa học còn dùng vi khuẩn tạo ra thạch dừa.

Thạch dừa là đặc sản ăn vừa dai, vừa giòn, góp phần tăng cường các chất xơ giúp cơ thể bài tiết, kích thích tiêu hóa, gây cảm giác khoái khẩu.

Doanh nghiệp Trường Ngân ở Bến Tre đã thành công trong việc tìm được thị trường riêng cho sản phẩm của mình bằng hàng trăm mặt hàng gia dụng như: Giỏ xách đi chợ, giỏ đựng hoa (lẵng hoa) và đựng quà cáp, rổ rá, bình hoa, cùng nhiều chủng loại: Tách, chén, dĩa, khay trà và đồ dùng trang trí nội thất khác như: Voi khỉ, ngựa, gà, và các tranh treo tường.

Sản phẩm dừa của Trường Ngân đã có mặt tại một số cửa hàng lớn ở Đài Loan, Nhật, Mĩ, Ca-na-đa, từ những dụng cụ bếp núc, đồ gia dụng: Hộp đựng hành, tỏi, khay đựng trái cây, bộ bàn ghế nhỏ, đến những dụng cụ văn phòng: Hộp đựng viết, khay đựng giấy tờ, hộp đựng danh thiếp, kệ đựng sách báo, kệ đựng đĩa nhạc CD. Mỗi tháng cơ sở Trường Ngân xuất xưởng ít nhất là 30 sản phẩm từ cây dừa lão, chào hàng khách nước ngoài thu về một khoản tiền lớn.

Thuyết minh cây dừa – Mẫu 2

Dừa không chỉ một loại cây ăn quả, cây cảnh mà còn là loại cây quen thuộc của nhiều làng quê Việt Nam. Cây dừa đã gắn bó với đời sống của người Việt, và trở thành biểu tượng của làng quê, trong đó phải nói đến vùng đất dừa Bến Tre.

Có thể nói, bất kì ở vùng quê nào trên đất nước Việt ta đều thấy thấp thoáng những bóng dừa. Có 2 loại dừa: Dừa cao và dừa lùn. Dừa lùn thường trồng để làm cảnh, loại dừa cao được phân ra thành các loại dừa như: Dừa xiêm, dừa bị, dừa nếp, dừa lửa, dừa dâu, dừa dứa, dừa sáp.

Các bộ phận của cây dừa gồm: Thân, lá, hoa, buồng, trái. Thân dừa cao khoảng 20 – 25m, trên thân dừa có những đốt như hổ vằn, thường có màu nâu sậm, đường kính khoảng 45 cm. Với những loại dừa cảnh, thân dừa thường có màu xanh, nhiều đốt, đốt trên cùng là nơi xuất phát những phiến lá ôm lấy thân rồi tỏa ra. Lá dừa to, có màu xanh, gồm nhiều tàu, khi già lá sẽ vàng dần rồi héo và có màu hơi nâu. Hoa dừa có màu trắng, nhỏ, kết thành chùm.

Cây dừa ra hoa rồi kết trái, quả dừa có lớp vỏ dày bên ngoài. Bên trong mỗi lớp vỏ cứng là cùi dừa và nước dừa. Cây dừa có rất nhiều quả, quả của chúng kết thành buồng, mỗi cây có rất nhiều buồng và mỗi buồng dừa có nhiều quả, trung bình mỗi buồng từ 5 đến 10 trái dừa, có loại trên 20 trái.

Dừa không phải chỉ để ăn quả mà các bộ phận của nó được dùng vào rất nhiều việc. Nhiều người đã dùng thân dừa để bắc ngang con mương nhỏ làm cầu. Do thân dừa rất chắc nên người ta đã dùng nó làm cột, làm kèo xây nhà, hoặc sáng tạo ra các mặt hàng thủ công mỹ nghệ khác hoặc làm chén đũa. Bông dừa tươi được dùng làm vật trang trí rất đẹp mắt. Đọt dừa non có thể làm gỏi, lăn bột, xào rất thích hợp với người ăn chay. Có một món ăn đặc biệt mà nhiều người không biết đó là con sâu sống trên cây dừa (còn gọi là đuông dừa. Do ăn đọt dừa non nên đuông dừa béo múp míp nên được chế biến thành nhiều món ăn khoái khẩu và bổ dưỡng.

Trái dừa luôn được coi là phần giá trị nhất trên cây dừa. Trái dừa non được cắt ra lấy nước uống, là loại nước giải khát thơm ngon. Ngoài ra nước dừa dùng để kho cá, kho thịt, thắng nước màu. Phần cùi dừa dùng để làm mứt, cơm dừa dày được xay nhuyễn, vắt nước cốt làm kẹo dừa, nấu dầu dừa, làm xà phòng. Bã dừa dùng làm bánh dầu, để bón phân hoặc làm thức ăn cho gia súc. Phần vỏ cứng của trái dừa được sử dụng làm than hoạt tính, chất đốt hoặc làm các mặt hàng thủ công mỹ nghệ rất được ưa chuộng ở các nước phương Tây. Xơ dừa được đánh tơi ra dùng làm thảm, làm nệm, làm dép đặc trị cho những người bệnh thấp khớp hoặc bện làm dây thừng, lưới bọc các bờ kè chống sạt lở ven sông. Lá dừa có thể dùng để lợp nhà, làm phên liếp, chằm nón, mà còn là chất đốt thường dùng để đun nấu phổ biến ở thôn quê, lá dừa khô bó lại làm đuốc để đi trong đêm tối trời.

Có thể thấy cây dừa không chỉ mang lại cảnh đẹp cho cuộc sống thêm phần tươi đẹp, cho con người những món ăn thơm ngon bổ dưỡng mà nó còn có rất nhiều công dụng với đời sống của con người. Cây dừa cũng trở thành biểu tượng của người dân Việt Nam bởi sự kiên cường bất khuất, giám đối mặt với mọi gian nan để vươn cao, vươn xa hơn

Thuyết minh về cây bàng Dàn ý thuyết minh cây bàng

1. Mở bài

– Giới thiệu khái quát về cây bàng

2. Thân bài

– Nguồn gốc: có từ rất lâu đời

– Phân loại: Bàng đào và bàng thường

– Đặc điểm

+ Sống ở mọi nơi

+ Thân cây thường to

+ Vỏ cây xù xì, có màu nâu

+ Có rất nhiều càng. mỗi càng lại có từng tán lá

+ lá cây có các phiến để cung cấp chất dinh dưỡng

+ Rễ cây to, dài, ngoằn ngoèo

+ Quả bàng xanh, chín

– Tác dụng: che bóng mát

3. Kết bài

– Thái độ của bản thân

Thuyết minh cây bàng – Mẫu 1

Dù đã đi ngược về xuôi, vào Nam ra Bắc, nhưng tôi chưa từng nhìn thấy một cây bàng nào từng trải và to lớn như cây bàng phố tôi. Thân nó to, phải hai, ba vòng tay người lớn mới ôm xuể. Còn tán nó rộng, che kín cả một cái sân lớn diện tích cả trăm mét vuông. Sinh thời bác tôi bảo: Cây bàng lớn này dễ thương đã sống cả trăm năm, đáng được gọi là cây bàng cổ thụ.

Tuổi thơ tôi gắn bó với cây bàng cổ thụ. Tôi nhớ những lần trốn nắng, trú mưa trong sự chở che hào phóng của tán bàng, những lần thưởng thức mùi vị ngọt chát hấp dẫn của quả bàng chín, những lần nhấm nháp vị bùi bùi khó tả của nhân quả bàng và nhớ cả những lần đi bắt ve, những lần chơi trốn tìm hớ hênh quanh gốc bàng. Tất cả cho tôi hình dung về một khái niệm bàng của riêng đám trẻ phố tôi.

Nhưng đến bây giờ thì cây bàng cổ thụ ấy không còn nữa. Vì lấy đất dành cho sự mưu sinh, người ta đã triệt hạ nó. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về đứng trên mảnh đất từng gắn bó với cây bàng cổ thụ mà lòng không khỏi xót xa, tiếc nuối. Trong lòng tôi tự dưng thấy trống trải thiếu thốn…

Bây giờ, cứ mỗi khi nhìn thấy lá bàng đỏ rực lên sau khi hoàn tất chức phận của mình, để mà rụng về gốc, trong buổi giao mùa, tôi lại nao nao nhớ cây bàng cổ thụ. Cũng phải, vì nó là một phần kỷ niệm không thể thiếu trong khoảng trời thơ ấu và đáng nhớ của chúng tôi.

Thuyết minh cây bàng – Mẫu 2

Không biết tự bao giờ, cây bàng trước cửa lớp đã trở nên vô cùng thân thương đối với tôi. Tôi đã ngắm cây bàng ấy trong suốt cả bốn mùa. Mùa nào, bàng cũng có một vẻ đẹp riêng. Không biết có phải thế không hay do tình yêu tôi dành cho loài cây này mà tôi thấy bàng mùa nào cũng đẹp.

Khi những tiếng ve đầu tiên bắt đầu ngân lên báo hiệu mùa hè đến, cũng là lúc dòng nhựa chảy trong bàng mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Dòng nhựa ấy tiếp sức để những chiếc lá bàng mới ngày nào còn bé bỏng non nớt, giờ đã xanh ngắt xòe ra to. Thì ra, bàng đã phải làm việc siêng năng suốt ba mùa để bây giờ xòe tán xanh che mát cho chúng tôi. Bàng cũng thật hào phòng khi thỉnh thoảng nhờ chị gió gửi cho mấy chiếc lá để làm quạt. Cũng chính lúc này, bàng nở những chùm hoa trắng muốt, nhỏ li ti. Mỗi làn gió nhè nhẹ thoảng qua là có cả thảm hoa bàng lại trải đều quanh gốc, vương đầy trên mái tóc dài Óng ả của các nữ sinh. Bàng đẹp và bọn con gái chúng tôi hình như cũng đẹp hơn khi điểm hoa bàng trên tóc.

Sau ba tháng hè xa cách các bạn học sinh, bàng rạng rỡ hẳn lên khi thu về. Nắng thu vàng dịu ngọt xuyên qua từng mặt lá làm gương mặt bàng sáng bóng lên. Ai thấy mình đẹp mà chẳng vui, Bàng vui vì thấy mình đẹp. Mà hình như còn được nghe lại tiếng nói, tiếng cười xôn xao của các bạn học trò tinh nghịch, dễ thương. Bàng xôn xao cùng chúng tôi trong mỗi ngày học mới, bàng chia sẻ cùng chúng tôi bao buồn vui của tuổi học trò. Còn nhớ, một lần không làm bài tập, thầy giáo đã phạt tôi thật nặng. Tôi buồn quá, giờ chơi lân la đến gốc bàng. Bất ngờ, bàng gửi tặng tôi một trận mưa hoa. Cảm xúc trào dâng, tôi viết liền một bài thơ. Ai có ngờ đâu, bài thơ ấy trong cuộc thi sáng tác trẻ lại giành ,cho tôi giải A. Tôi lại thầm cảm ơn bàng. Nhờ có bàng mà tôi hiểu rằng cuộc sống thật là một chuỗi những buồn vui như thế!

Thu qua, đông lại. Mùa đông lá bàng chuyển màu sẫm nâu. Rồi một buổi sáng tôi thấy cây bàng rực lên màu đỏ như lửa. Ngọn lửa khổng lồ ấy cháy đỏ suốt mấy tuần. Tôi đứng dưới gốc bàng, thấy mình sưởi ấm. Có lẽ cây bàng đã tự đốt mình để chống lại giá rét mùa đông? Rồi gió bấc thổi qua, những chiếc lá màu lửa rụng xuống. Sau khi cởi bỏ tấm áo rực rỡ của mình, bàng chỉ còn lại tấm thân sần sùi với những cành khẳng khiu đứng trơ trọi giữa gió mưa. Bàng thu mình ngủ ngon lành trong tiếng ru của gió. Cây bàng cứ đứng vậy chống đỡ cả mùa đông. Để xuân về, bàng lại vươn mình bừng dậy…

Mùa xuân về, thời tiết trở nên ấm áp, và cây bàng nhú ra muôn vạn lộc non. Hầu như suốt mùa đông, cây bàng đã giấu trong nó tiềm tàng màu xanh non của sự sống. Cây bàng đón xuân nhiệt thành, say đắm. Có lẽ, nó hiểu rằng nó cũng phải góp chút ít tinh túy của mình để làm nên sức dào dạt của đất trời.

Tôi lặng đi khi nghĩ đến ngày mai phải chia tay mái trường, phải chia tay cả bàng nữa. Còn bây giờ, tôi và bàng vẫn cứ là bạn thân. Sớm nay, trời thật đẹp. Bàng vẫn đang giơ tay đón chào tôi đến lớp. Tôi yêu bàng nhiều lắm, nhiều lắm.

Thuyết minh về cây chuối Dàn ý Thuyết minh cây chuối

I. Mở bài: Giới thiệu về cây chuối

– Cây chuối là một loại cây rất phổ biến ở Việt Nam. Đi khắp vùng quê trên đất nước đều thấy chuối một loại cây mang lại một cảm giác thân thiện và dân dã.

II. Thân bài

1. Đặc điểm

a. Hình dạng

– Cây chuối thân mềm, hình trụ, tán lá dài mỏng, xanh và mượt.

– Gốc chuối tròn, rễ chùm ăn sâu dưới đất, và rễ lớn dần theo thời gian.

– Buồng chuối: Tùy theo mỗi cây mà buồng chuối to nhỏ khác nhau, có những cây chuối trăm quả, nghìn quả và có cả những buồng chuối dài đến tận gốc.

– Cây chuối rất ưa ẩm nên thường sống bên cạnh ao hồ, hay sông suối

– Chuối phát triển rất nhanh và mọc thành từng khóm, từng bụi chen chúc.

b. Nơi sinh sống

– Cây chuối từng sống nơi ẩm ướt, nên thường mọc bên sông, suối, ao hồ.

– Cây chuối thích nghi với môi trường nhiệt đới

– Chuối thường không bám chặt trên đất nên thường rất dễ ngã

2. Các loại chuối

– Chuối sứ: Chuối sứ to tròn, chín màu vàng tươi

– Chuối ngự: Chuối ngự to, thơm và ngon

– Chuối cau: Nhỏ như quả cau, vàng tươi khi chín

– Chuối tiêu: Nhỏ vừa, chín rất ngọt và thơm

– Chuối lùn: Quả to dài, thơm và ngon

– Chuối hột: Quả to, bên trong hạt chi chít như hạt tiêu

– Chuối kiểng: Là cây không trái

3. Công dụng

– Tất cả bộ phận của cây chuối có thể sử dụng được

+ Lá: Gói bánh, làm thức ăn cho thực vật,…

+ Thân: Thức ăn

+ Quả: Thức ăn

+ Gốc: Thức ăn

– Chuối góp phần tạo nên các món ăn ngon

– Quả chuối là một thực phẩm bổ dưỡng và bổ ích

– Chuối có thể chữa bệnh

– Làm mặt nạ dưỡng da

4. Ý nghĩa của cây chuối

– Trong thơ ca: Chuối đi vào thơ ca một cách thân thuộc và dân dã

– Trong thi ca: Trong các bức họa đồng quê bên cạnh các con sông luôn gắn với cây chuối

– Cây chuối rất hữu ích với người dân

III. Kết bài: Nêu cảm nghĩ về cây chuối

– Cây chuối là một loại cây thân thuộc và gắn bó với người dân Việt Nam. Bên cạnh tre, nứa thì chuối cũng một hình ảnh dân dã, thể hiện sự bất khuất của người dân.

Thuyết minh cây chuối – Mẫu 1

Nhắc đến Việt Nam là không thể không nhắc đến nhắc đến hình ảnh cây chuối. Chuối là một loài cây rất mực thân quen và gần gũi trong đời sống con người. Từ khắp mọi nẻo đường, đâu đâu ta cũng có thể bắt gặp hình ảnh tàu lá chuối xanh tốt. Cây chuối đóng góp một vai trò quan trọng trong đời sống nhân dân.

Cây chuối thuộc họ chuối, là một loại cây ăn trái vốn được thuần hóa từ lâu đời. Cây chuối có nguồn gốc từ Đông Nam Á. Đến nay, người ta ước tính có khoảng 300 giống chuối được trồng và sử dụng trên khắp thế giới. Cây chuối ở Việt Nam có nguồn gốc từ giống chuối hoang dại. Cây chuối được trồng nhiều ở nông thôn và rất ưa nước nên người ta thường trồng bên ao hồ, ở rừng, ở những khe suối hay thung lũng. Chuối được phân thành nhiều loại. Về cơ bản có chuối ăn quả, chuối lấy lá. Ở Việt Nam có một số loại chuối phổ biến như chuối tiêu, chuối tây, chuối ngự, chuối ngự, chuối sứ, chuối bom, chuối quạ,…Một số loại chuối nhập khẩu từ nước ngoài như chuối Laba (Pháp), chuối Dacca (Trung Mỹ)…

Chuối là loại cây có thân ngầm. Phần thân chính nằm dưới đất gọi là củ chuối. Phía trên chỉ là một thân giả mọc thẳng đứng và tròn, được tạo thành từ nhiều lớp bẹ xếp khít vào nhau, bên trong hơi xốp, bề mặt trơn bóng và nhẵn. Lá chuối mọc thành từng tàu, to bản. Ban đầu, những chiếc nõn chuối còn xanh non, sau đó lá xòe ra có màu xanh đậm hơn. Khi già, lá ngả dần về màu vàng đất, rũ xuống để nhường chỗ cho là tươi mới. Khi cây chuối trưởng thành, nó bắt đầu trổ buồng. Mỗi cây chuối đều có một buồng, mỗi buồng gồm nhiều nải mỗi nải có nhiều quả. Buồng chuối mọc từ hoa từ thân ra. Giữa tán lá xanh mát, hoa chuối như ngọn lửa hồng chiếu sáng cả vòm lá xanh. Nhiều hoa chuối có thể lên đến gần 20 nghìn cái. Hoa sắp thành hai hàng theo kiểu xoắn tạo thành nải chuối. Sau đó những chiếc bẹ rụng dần là lúc những nải chuối con xuất hiện. Khi chuối còn xanh thì có màu xanh đậm còn khi chín thì ngả sang màu vàng.

Trong đời sống nhân dân Việt Nam, chuối là một loại cây hữu dụng từ thân, lá đến hoa, quả. Quả chuối cung cấp hàm lượng đường cần thiết cho cơ thể hoạt động. Chuối ăn dễ tiêu hóa, vừa sáng mắt lại tốt cho da, làm cho làn da luôn sáng mịn. Thân chuối có thể làm thức ăn cho trâu, bò, lợn rất tốt. Thân chuối non cùng củ chuối có thể thái ra ăn kèm với ốc, lươn để khử tanh rất tốt, lại có thể làm cho món ăn thêm ngon, thêm đa dạng. Lá chuối có thể dùng để gói bánh, gói xôi,.. lá chuối khô có thể làm chất đốt. Người ta có thể dùng hoa chuối đã nở hết buồng để làm nộm hoặc để luộc. Chuối là thức quả để thắp hương trong các ngày lễ, tết. Trong ngày rằm hoặc mùng một, người ta dùng chuối chín. Chuối là loại quả không thể thiếu trong mâm ngũ quả ngày Tết.

Chuối là loại cây khá dễ sống ưa đất phù sa, đất bãi ven sông. Quá trình sinh trưởng của một cây chuối không dài khoảng một năm. Mỗi cây chuối chỉ một lần trổ buồng, sau khi thu hoạch người ta chặt cây đào gốc lên để cho cây con phát triển.một cây chuối mẹ có thể đẻ nhiều cây chuối con rồi đẻ nhiều cây chuối cháu,sinh trưởng rất nhanh. Vì dễ trồng lại nhanh cho quả nên chuối được người nông dân ưa chuộng. Nếu không may chuối bị sâu có thể cắt bỏ lá sâu, bắt sâu. Nếu chuối ra buồng cần phải chống cho cây khỏi đổ. Khi thu hoạch cần phải nhẹ nhàng tránh rơi gãy.

Bên cạnh những loại cây gần gũi như trầu, cau, dừa,… thì chuối còn tượng trưng cho sự bình dị, thanh bình của làng quê. Cây chuối có từ ngàn đời. Nó dâng hiến tất cả những gì đẹp đẽ nhất của mình cho con người. Cây chuối là nét đẹp thanh bình của thiên nhiên, của đất mẹ, của nông thôn Việt Nam.

Thuyết minh cây chuối – Mẫu 2

Thiên nhiên tạo hóa đã ưu ái ban tặng cho con người nhiều loại trái cây thơm ngon. Biết bao loại cây, mỗi loại lại có một dáng vẻ, một công dụng khác nhau. Chuối là một loài cây đã vô cùng quen thuộc, gần gũi với làng quê. Đi khắp đất nước Việt Nam, đâu đâu ta cũng có thể bắt gặp hình ảnh những cây chuối, bụi chuối xanh tốt vươn lên từ bờ ao, bờ sông.

Chuối là loại cây có quả được ăn rộng rãi nhất. Nguồn gốc của cây chuối là từ vùng nhiệt đới ở Đông Nam Á và Úc. Ngày nay, nó đã được trồng khắp vùng nhiệt đới. Chuối có mặt ở ít nhất 107 quốc gia. Quả của những cây chuối dại có nhiều hột lớn và cứng. Nhưng hầu hết loại chuối để ăn đều thiếu hột vì đã được thuần hóa lâu đời.

Chuối thường được trồng nhiều ở nông thôn và miền núi. Vì là loài ưa nước nên nó thường mọc ở bên bờ sông, bờ suối. Thân chuối thẳng, nhẵn bóng như cái cột nhà. Thân chuối do nhiều bẹ chuối ôm lấy nhau tạo thành. Bẹ ở ngoài thường có màu đậm hơn, bẹ nằm chính giữa thì có màu trắng. Thân chính này là một thân giả của chuối. Nõn chuối màu xanh non, có hình dạng giống cuốn thư thời xưa. Cây chuối có rất nhiều tàu lá, lá chuối to như tấm phản, gân lá to chạy dọc phiến lá. Lúc lá chuối còn tươi thì có màu xanh nhạt, lúc già thì rũ xuống thân cây, chuyển thành màu nâu. Hoa chuối lúc mới ra thì hướng thẳng lên trời, sau quay sang ngang rồi đâm xuống đất. Sau khi hoa chuối già, bẹ ở ngoài rụng hết thì bắt đầu phát triển thành quả. Một buồng chuối có nhiều nải chuối, thường là 10 nải. Những buồng chuối có khi dài từ đỉnh xuống tận gốc, trĩu nặng cả thân cây. Quả chuối màu xanh lúc còn non, khi chín chuyển thành vàng, trông như vầng trăng lưỡi liềm.

Chuối có rất nhiều công dụng, hầu như bộ phận nào của cây cũng không cần bỏ đi. Quả chuối chín thơm ngon, bổ dưỡng được nhiều người ưa chuộng. Ăn chuối còn có tác dụng làm đẹp cho da. Quả chuối xanh ăn kèm với thịt luộc và thường được nấu kèm với cá, ốc, trai…, vừa khử tanh vừa làm cho món ăn thêm đa dạng. Lá chuối tươi dùng để gói quà, gói bánh. Lá chuối khô có thể làm chất đốt hoặc dây buộc. Củ chuối, hoa chuối thì nấu canh hoặc làm món nộm, salad. Thân chuối thái nhỏ làm thức ăn cho gia súc, gia cầm. Hạt chuối có thể làm một vị thuốc tốt trong Đông y. Chuối có một vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống tâm linh, tín ngưỡng của người Việt. Vào ngày Tết, trên mâm ngũ quả của mỗi gia đình không thể thiếu một nải chuối để cúng tổ tiên. Chuối vốn dĩ chỉ trồng để ăn quả nhưng hiện nay nó còn được dùng để trang trí trong nhà. Tàu lá rộng, xanh mướt của chuối tạo cảnh quan đẹp mắt, mang lại cảm giác tươi mới, êm đềm, tin cậy tượng trưng cho tình yêu của mẹ thiên nhiên. Những năm tháng chiến tranh đói ăn, đói mặc, chuối là nguồn thực phẩm dồi dào đã cứu sống không biết bao nhiêu mạng người.

Chuối cũng khá phong phú, đa dạng về chủng loại. Một số loại chuối tiêu biểu như: chuối ta quả dài như lưỡi liềm, chuối tây quả tròn và ngắn hơn, chuối hột, chuối mật, chuối trứng cuốc. Chuối ngự quả ngắn nhưng ruột vàng và có vị rất thơm ngon. Khi xưa, chuối ngự là món ăn hoàng gia, chỉ có vua chúa mới được thưởng thức. Chuối ngự chính là đặc sản của cùng Hòa Hậu, Lí Nhân, Hà Nam

Trải qua bao nhiêu năm nữa, chuối vẫn sẽ có một ý nghĩa đặc biệt trong đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân Việt Nam.

Thuyết minh về cây vải ở quê em Dàn ý thuyết minh cây vải

1. Mở bài: Giới thiệu đối tượng cần thuyết minh (cây vải).

2. Thân bài:

– Nguồn gốc:

+ Là một loài thực vật có hoa thuộc họ Bồ hòn

+ Có nguồn gốc miền Nam Trung Quốc.

– Đặc điểm:

+ Cây cao khoảng 5-10 m.

+ Lá có hình lông chim mọc so le, không có lá chét.

+ Hoa màu trắng ánh xanh lục mộc thành các chùy.

+ Quả vải khi chín đỏ rực, thơm ngào ngạt.

+ Cùi vải dày, giòn và thơm, thường có nước mọng rất dễ ăn.

– Công dụng:

+ Vải dùng để ăn tráng miệng.

+ Làm chè, kẹo vải hay bánh có hương vải.

+ Vải khô dùng để xuất khẩu trong và ngoài nước.

– Cách chăm sóc:

Cần cung cấp đủ nước, nhiệt độ, ánh sáng và lượng phân đạm cần thiết.

3. Kết bài: Khẳng định vai trò cây vải.

Thuyết minh cây vải – Mẫu 1

Vải được trồng nhiều tại miền nam Trung Quốc cũng như ở khu vực Đông Nam Á, Ấn Độ, miền nam Nhật Bản và gần đây là tại Florida và Hawaii (Hoa Kỳ) cũng như các khu vực ẩm ướt thuộc miền đông Australia. Cây vải với người dân Việt ta là một trong những loại cây ăn quả được ưa chuộng rộng rãi và rất dễ phù hợp khẩu vị của đại đa số người tiêu dùng. Cây vải thường cao khoảng 5-10 m, có thể hơn tùy thuộc vào từng loại vải, từng giống cây và cách chăm bón khác nhau mà cho ra những cây có chất lượng không giống nhau. Thân cây vải màu nâu, xù xì và khá thô ráp. Lá vải giống lông chim, mọc so le với nhau, không có lá chét con. Hao vải màu trắng nhỏ li ti, mùi thơm nồng gần giống như hoa nhãn. Quả vải khi chín có màu đỏ sẫm ở vỏ, bên trong là lớp cùi dày, căng mọng đậm đà rất dễ làm mê đắm lòng người. Quả vải đã từng được Lê Quý Đôn khen ngợi: “Quả vải vừa ngon, vừa đẹp, cổ nhân đã ngợi khen: mã ngoài như lụa hồng, tơ tía, thịt vải như thủy tinh, như giáng tuyết. Bạch Lạc Thiên, Thái Quân Mô đều đã ngợi khen trong các sách đồ phả, tự ký. Nước Nam nhiều vải nhất, nhất là vải sản xuất ở xã An Nhân, huyện Đường Hào là thật ngon: vừa ngọt, vừa thơm, không thể nói hết được…”

Vải cần có khí hậu nóng vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới không có sương giá hoặc chỉ có mùa đông rét nhẹ với nhiệt độ không xuống dưới -4 °C và với mùa hè nóng bức, nhiều mưa và độ ẩm cao. Nó phát triển tốt trên các loại đất thoát nước tốt, hơi chua và giàu chất hữu cơ (mùn). Có nhiều giống cây trồng, với các giống chín sớm thích hợp với khí hậu nóng hơn còn các giống chín muộn thích hợp với khí hậu mát hơn. Ở một vài nơi người ta còn trồng vải làm cây cảnh. Giống vải được ưa chuộng nhất ở Việt Nam là vải thiều trồng tại khu vực huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Tuy nhiên, vải được trồng nhiều nhất ở huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Quả vải tại vùng Thanh Hà (Hải Dương) thông thường có hương vị thơm và ngọt hơn vải được trồng ở các khu vực khác (mặc dù cũng lấy giống từ đây). Một giống vải khác chín sớm hơn, có tên gọi dân gian là “vải tu hú”, có hạt to hơn và vị chua hơn so với vải thiều. Nguyên do có tên gọi như vậy có lẽ là vì gắn liền với sự trở lại của một loài chim di cư là chim tu hú. Vải ra hoa vào tháng 3 dương lịch và chín vào tháng 6. Thời điểm vải chín rộ thường bắt đầu từ giữa tháng 6 tới giữa tháng 7. Khoảng thời gian thu hoạch vải thiều thường ngắn, khoảng 2 tuần.

Cây vải có rất nhiều công dụng. vải tươi dùng để ăn trực tiếp, có thể làm món tráng miệng, làm các loại bánh kem, kẹo ngọt hay bánh tươi hương vải mùi vị rất thơm và ngọt. Ngoài ra, ngày càng phát triển, các sản phẩm đa dạng của vải cũng được ứng dụng nhiều trong sản xuất, phong phú hơn cho người tiêu dùng như vải sấy khô, ướp lạnh, tẩm gia vị rất hấp dẫn. Tuy nhiên giống vải thiều vẫn nổi tiếng nhất ở nước ta bởi chất lượng của nó, cùi dày chín mọng và ngọt lịm.

Cây vải đã trở thành loài cây thân thuộc và gần gũi với hương vị của nó vào mùa hè trong lòng mỗi người dân Việt Nam. Hi vọng rằng cây vải sẽ ngày càng được phát triển ở cả thị trường tiêu dùng trong và ngoài nước.

Thuyết minh cây vải – Mẫu 2

Nếu như đặc trưng của mùa xuân là mưa phùn se lạnh, hoa đào hoa mai khoe sắc, thì dấu ấn riêng của mùa hè lại là hương vị thơm mát ngọt lành của hoa trái. Đó là hoa phượng đỏ rực một góc trời, là bằng lăng tím bâng khuâng cùng tà áo trắng, là cái ngọt thanh của dưa hấu hay ngọt bùi của khoai lang. Mùa hè còn là mùa của vải thiều-thứ vải chín từ cái nắng chang chang của khí hậu nhiệt đới đã trở thành một thứ đặc sản không thể thiếu của mảnh đất Việt Nam.

Advertisement

Vải là thứ cây thân gỗ, thuộc họ Bồ Hòn, có nguồn gốc từ miền Nam của Trung Quốc. Du nhập về Việt Nam, vải được trồng nhiều ở huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương hay Huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang. Trung bình một cây vải cao từ 5 đến 10 mét. Tán vải xum xuê xanh mướt, bao phủ quanh gốc cây. Lá vải có hình lông chim, hai phiến lá hơi cụp lại từ gân chính, được xếp so le trên từng nhánh cành. Hoa vải có màu trắng xanh nhạt, mọc thành từng chùm, nổi bật giữa muôn vàn tán lá. Dưới cái nắng gay gắt, rực rỡ của mùa hạ, từng chùm hoa dần trở thành những chùm quả sai trĩu. Quả vải còn non có màu xanh lá mạ, vỏ sần. Khi vải chín thì chuyển dần sang đỏ thẫm, vỏ cũng trở nên nhẵn hơn. Hạt vải có màu đen tuyền, được bao phủ bởi một lớp cùi trắng mịn, mọng nước. Vải chín có vị ngọt rất riêng

Bởi vẻ thanh mát, ngọt lành, vải hấp dẫn từ cụ già đến em nhỏ. Sau mỗi bữa ăn, vải được dùng làm đồ tráng miệng. Vào những ngày hè oi ả, vải ướp lạnh như một thức quà để giải khát. Khi tách riêng hạt còn có thể kết hợp với hạt sen để nấu thành chè. Ở một vài nơi, cây vải còn được xem như một loại cây cảnh, góp phần làm nên màu xanh tươi mát cho ngôi nhà. Thế nhưng, thuộc tính của vải vốn nóng, khi ăn nhiều có thể gây mụn nhọt trên da hoặc loét miệng. Bởi vậy, khi ăn vải nên ăn vừa đủ để có thể thưởng thức vị ngon riêng của thứ quả này.

Vải chín vào đầu mùa hạ, nên một vụ vải thường bắt đầu vào mùa Xuân. Khoảng từ tháng 1 đến tháng 2, người ta đã chuẩn bị cho một vụ mới. Giữa tháng 3, vải đã bắt đầu ra hoa và dần kết quả. Thu hoạch vải thường vào cuối tháng 8 hoặc tháng 9. Đây là thời điểm quả vải chín hoàn toàn và có vị ngọt sắt.

Giống như các loại cây khác, vải cũng cần có cách chăm sóc riêng. Khi trồng cần bới sẵn một hố nhỏ, sâu tầm 20cm, đặt cây con vào chính giữa hố rồi lấp đất. Điều quan trọng nhất chính là phải dùng tay để lấp và chèn đất cho thật chặt. Sau đó rào cẩn thận xung quanh để các tác nhân bên ngoài không làm ảnh hưởng đến cây. Trong thời gian cây phát triển, cần chú ý tưới nước, bón phân, phun thuốc cho đúng thời điểm, liều lượng.

Ngày nay, khi Xã hội ngày một phát triển, vải nhanh chóng trở thành một trong những mặt hàng nông sản có thương hiệu, được bày bán rộng rãi trên khắp cả nước. Quả vải, mà nhất là giống vải thiều Thanh Hà nổi tiếng có giá trị không nhỏ về mặt kinh tế, giúp hàng loạt hộ gia đình thoát nghèo, đem lại lợi nhuận và danh tiếng cho Vùng Đồng bằng sông Hồng nói riêng, cho ngành nông sản Việt Nam nói chung. Bên cạnh đó, bằng sự cải tiến về Khoa học kĩ thuật, những giống vải chín mọng, hạt nhỏ, cùi dày, phòng trừ sâu bệnh tốt đã thu hút rất khách hàng quốc tế, đưa vải Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc, Pháp, và các nước trong khu vực Đông Nam Á.

Thật chẳng sai khi nói: Vải là thứ quả nổi bật trong bữa tiệc đầy hương thơm vị ngọt của mùa Hè. Cây vải đã trở thành loài cây thân thuộc và gần gũi, gắn bó mật thiết với cái nắng rực rỡ ở Việt Nam, là thứ quà mà mỗi người con xa xứ khi trở về đều làm quà biếu. Hi vọng rằng, trong thời đại Khoa học Kĩ thuật ngày một phát triển, con người sẽ lai tạo ra nhiều giống vải ngon hơn, ngọt hơn, hấp dẫn hơn, để quả vải được đến gần hơn với mọi người mọi nhà, và thương hiệu Vải Việt Nam sẽ lan truyền trên toàn thế giới.

Thuyết minh về cây xoài quê em Dàn ý thuyết minh cây xoài

I. Mở bài

– Dẫn dắt giới thiệu vấn đề mà đề bài yêu cầu: Thuyết minh về cây xoài.

II. Thân bài

* Nguồn gốc và xuất xứ của cây xoài

– Không ai rõ ràng thời gian cây xoài xuất hiện trên thế giới, có rất nhiều giả thuyết đặt ra về nguồn gốc của loại cây này.

– Người ta thống nhất cho rằng, cây xoài có nguồn gốc từ Nam và Đông Nam Á, gồm các nước Ấn Độ, Myanmar bởi người ta đã tìm ra các mẫu hóa thạch tại các nước này và xác định chúng nó niên đại khoảng 25 triệu đến 30 triệu năm trước.

* Hình dáng và các bộ phận của cây xoài

– Rễ cây: Là rễ cọc, ăn sâu vào lòng đất, đặc biệt là vùng đất cát. Rễ cọc giúp ăn sâu, khiến cây dễ dàng sống được ở những vùng có mạch nước sâu khiến cây dễ thích nghi.

– Thân cây: Thân gỗ rất cứng và chắc. Cây cao khoảng từ 10 đến 20m, thân cây màu nâu hơi xù xì, giống như nhiều loài cây ăn quả khác như vải, nhãn, mít.

– Lá cây: Màu xanh sẫm, gân lá nổi rõ ở mặt dưới. Lá hẹp và nhỏ, hình mũi mác. Mặt lá khá nhẵn và có mùi thơm nhẹ. Các lá xoài thường mọc so le nhau.

– Hoa xoài: Nhỏ li ti, mọc rất nhiều và mọc thành từng chùm. Hoa có màu vàng nhạt, các chùm mọc trên các cành nhỏ so le nhau. Hoa thường ra vào mùa xuân, có mùi thơm nhàn nhạt rất dễ chịu. Những chùm hoa xoài rất khó thấy, thường ẩn mình sau tán lá, bởi vậy phải nhìn thật kĩ mới có thể nhìn ra được.

– Quả xoài: Có hình bầu dục, phần đầu chỗ cuống hơi cong cong, còn phần đuôi hơi nhọn. Khi trái xoài còn non có màu xanh, khi chín có màu vàng sáng hoặc màu vàng sậm tùy theo từng loại xoài. Trên lớp vỏ có những chấm cát bé li ti. Bên trong lớp vỏ là phần thịt xoài, mềm hay cứng, chua hay ngọt tùy thuộc rất nhiều vào đất, thời tiết và giống cây. Bên trong nữa là phần hột xoài. Hột xoài rất cứng, nhỏ hay to tùy vào giống.

* Phân loại

– Xoài cát: Loại xoài ngon nhất. Trái rất nhỏ, thịt thơm và ngọt, màu vàng sẫm, các chấm cát li ti rõ ràng trên vỏ. Hạt dẹp và nhỏ.

– Xoài tứ quý: Trái nặng khoảng hơn 300g, vỏ rất mỏng và trơn láng. Thịt xoài ngọt, thơm, hạt nhỏ.

– Xoài xiêm: Thịt xoài vàng, hơi dẻo. Vỏ dày, mịn. Giống xoài này cho năng suất cao.

– Xoài tượng, xoài thanh ca: Xoài này không ăn chín mà được trồng để ăn lúc còn xanh. Ăn giòn và hơi chua.

* Giá trị của cây xoài

– Giá trị dinh dưỡng: Có nhiều chất dinh dưỡng cung cấp cho cơ thể con người. Vỏ xoài có tác dụng chữa đau răng, viêm lợi. Vỏ hoặc hột xoài được dùng để làm thuốc chữa một số bệnh dân gian. Thịt xoài được sử dụng rất nhiều trong việc làm bánh, sinh tố, đồ uống. Tuy nhiên, xoài có tính nóng nên không ăn quá nhiều.

– Giá trị kinh tế: Xoài đem lại nguồn lợi kinh tế cho người trồng, đồng thời là sản phẩm xuất nhập khẩu của nhiều nước trên thế giới. Hàng năm, lượng tiêu thụ xoài thường khá lớn.

* Cách chăm sóc và gieo trồng

– Yếu tố lựa chọn giống ban đầu, lựa chọn đất là rất quan trọng.

– Cần chú ý cung cấp nước và chất dinh dưỡng đầy đủ cho cây phát triển.

– Khi cây ra quả cần dùng túi bọc lại tránh bị sâu hay chim ăn làm hỏng.

III. Kết bài

– Nêu cảm nghĩ của bản thân về cây xoài cũng như về giá trị của loại cây này.

Thuyết minh cây xoài – Mẫu 1

Hoa quả là những món ăn rất tốt cho sức khỏe của chúng ta. Trên đất nước Việt Nam xinh tươi này, có vô vàn những loại quả tốt: mận, lê, táo, dưa hấu. Loại quả nào cũng tốt cho con người và những cây hoa quả như vậy đã thân thuộc với chúng ta từ lâu và đặc biệt phải kể đến một loại cây ăn quả đó là cây xoài.

Xoài là một loại cây ăn quả nhiệt đới, vẫn chưa biết chính xác nguồn gốc của loại cây này nhưng có tài liệu cho rằng đây là một loại cây xuất phát từ miền Đông Ấn Độ và các vùng giáp ranh như là Myanma, Việt Nam, Malaysia. Cây xoài có phần rễ mọc sâu, bám chắc, thường tập trung ở phần đất cách gốc khoảng hai mét và thích nghi với vùng đất cát ẩm ướt. Cây xoài là cây thân gỗ lớn, mọc khỏe, chắc, cao, màu nâu sẫm. Lá mọc đơn, nguyên, mọc so le, phiến lá xoài có hình thuôn mũi mác, thơm, có màu xanh tươi tốt. Xoài nở hoa rất đẹp, hoa hợp thành chùm kép ở ngọn cành, chùm hoa dài khoảng 30cm, có 200-400 hoa tủa ra trên cành xen vào những quả xoài chưa kịp chín. Mỗi chùm thường có 2 loại hoa: hoa lưỡng tính và hoa đực. Hoa xoài nhỏ li ti, có màu vàng với búp nụ màu xanh. Mỗi hoa có năm lá đài nhỏ, có lông ở mặt ngoài. Có lẽ, phần đáng được chú ý đến nhất ở cây xoài là quả xoài. Quả xoài có ba lớp, lớp vỏ mỏng bên ngoài khi ăn có thể gọt bỏ hoặc ăn không cần thiết vì phần này vẫn có thể ăn được, phần thịt bên trong dày và hạt trắng hình bầu dục ở trong cùng. Khi chưa chín, ở trên cây, xoài có màu xanh của lá cây, khi ăn có vị chua, chua nhiều hay chua ít tùy thuộc và mức độ sắp chín của trái xoài. Nhưng đến khi xoài đã chín, vỏ ngoài của xoài từ màu xanh đã chuyển thành màu vàng tươi bắt mắt, khi ăn không còn vị chua mà vừa ngọt vừa mát. Xoài một năm có thể ra độ ba đến bốn đợt tùy theo giống, tuổi thọ của cây, thời tiết và tình hình dinh dưỡng cũng như sự chăm sóc tưới tắm của con người. Xoài có rất nhiều loại giống: Xoài cát Chu, Xoài cát Hòa Lộc, Xoài Tứ Quý, Xoài Tượng, Xoài Thanh Ca, Xoài Tím(loại xoài có vỏ màu tím),…

Cây xoài trong đời sống con người đã trở nên gần gũi và không thể thiếu. Xoài xanh có thể làm xoài dầm, một món hoa quả ngon. Khi ăn xoài xanh cũng có tác dụng chữa viêm họng và đặc biệt đây là một thức quả mà phụ nữ thai nghén những tháng đầu rất ưa thích khi thèm của chua. Còn xoài chín được dùng nhiều hơn, có tác dụng bổ não, có lợi cho người làm việc trí óc, suy nhược thần kinh, giúp tăng cường sức đề kháng, chống viêm, phòng ngừa ung thư, giảm béo, cải thiện hệ tiêu hóa, giúp hạ cholesterol máu, hạ huyết áp, phòng bệnh mạch vành, nên các chị em phụ nữ vẫn thường chọn cho gia đình những trái xoài chín khi đi chợ. Vào mùa hè, khi dầm xoài chín ra làm sinh tố thì đúng là không còn gì ngon lanh bằng, vừa mát mẻ, vừa bổ dưỡng. Ta vẫn hay thấy quả xoài xuất hiện trong mâm ngũ quả ngày tết như một biểu tượng về sự đủ đầy no ấm. Ngoài ra vỏ thân cây xoài có thể dùng để chữa ho, sưng cổ họng, đau răng, tẩy giun sán, khử trùng, lá xoài có thể dùng để chữa viêm da, viêm họng.

Tuy là một loại quả tốt nhưng nếu sử dụng quả xoài quá nhiều cũng có một số những hạn chế nhất định ví dụ như là tiêu chảy, nổi nhọt, sưng mủ. Cần lưu ý rằng không ăn xoài, nhất là xoài xanh vào lúc đói, dễ bị cồn ruột, người bị sốt, có vết thương thì không nên ăn xoài chín sẽ gây nên những hậu quả đáng tiếc.

Cây xoài đã trở thành một loại cây rất quen thuộc với chúng ta, mang lại cho con người rất nhiều những lợi ích đáng kể. Trên đất nước mình không chỉ cây xoài mà còn rất nhiều những loại cây khác cũng rất có giá trị như vậy, biết được điều này, ta càng thấy tự hào vì non sông tươi đẹp.

Thuyết minh cây xoài – Mẫu 2

Mỗi người lại yêu thích một hương vị trái cây riêng. Có người thì thích vị béo, hương thơm đặc biệt của sầu riêng, có người lại thích vị ngọt mát của những trái táo, nhưng cũng có không ít người yêu thích hương vị của những quả xoài. Cây xoài cũng chính là một trong những loài cây gần gũi, thân thuộc với cuộc sống của mỗi chúng ta.

Xoài có nguồn gốc ở Nam Á và Đông Nam Á, từ đó nó đã được phân phối trên toàn thế giới để trở thành một trong những loại trái cây được trồng hầu hết ở vùng nhiệt đới. Ở Việt Nam, xoài được trồng nhiều nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long và một số khu vực miền Trung, Tây Bắc. Xoài cát Hòa Lộc là một trong những giống xoài nổi tiếng nhất ở đồng bằng Sông Cửu Long và là một trong những loại quả được ưa chuộng bởi màu sắc hấp dẫn, mùi vị thơm ngon và có giá trị dinh dưỡng cao.

Dạo bước trên mỗi cung đường, không khó để bắt gặp những hàng xoài đua nhau tỏa bóng xanh mát. Thân cây to, chắc khỏe, vươn cao đón những tia nắng mặt trời buổi sớm. Khoác lên mình chiếc áo nâu giản dị, đơn sơ nhưng thân xoài không hề sần sùi, xấu xí trái lại còn nhẵn nhụi. Dáng cây cao, thẳng, tỏa nhiều cảnh. Điểm ở đó là sắc xanh tươi, tràn trề sức sống của những chiếc lá xoài mọc so le nhau nhưng vẫn đủ sức tạo một khoảng râm mát. Điểm xuyết vào đó là những mầm lá non mới nhú. Dưới cái nắng ban mai, những mầm non vươn mình đón những tia nắng đầu tiên, óng ánh sắc tím hồng tươi tắn. Chỉ nay mai thôi những mầm non ấy sẽ từ từ hé mở để rồi xòe ra chiếc lá xanh thẫm mơn dáng rung rinh cùng gió cùng mây. Quen với những mùi hương nồng nàn của hoa hồng, hoa huệ, đôi khi hương hoa xoài dịu nhẹ, thoang thoảng lại làm lòng con người ta xao xuyến nhớ nhung. Hương vị nhẹ nhàng của những chùm hoa xoài li ti, trắng muốt như muốn báo hiệu một mùa xoài trĩu quả sắp ghé tới. Cây xoài sau tháng ngày phải còm cõi vì giá lạnh của mùa đông, thì giờ đây tựa như một nàng thiếu nữ xinh đẹp điểm tô lên mình cái sắc cái hương dịu dàng, duyên dáng.

Tuy nhiên, cây xoài có lẽ trong mắt mọi người hấp dẫn nhất là những ngày trĩu quả. Những chùm xoài căng mọng, mập mạp trĩu trịt chen nhau luồn lách ra ngoài những tán lá xanh dày. Cây xoài khi ấy dường như giống như một bà mẹ đôi lúc trĩu xuống nặng nề vì những đứa con béo mập. Quả xanh quả chín cứ thế mà đu mà chen khoe mình bóng mượt, ngon lành dưới ánh nắng lấp lánh. Những trái xoài ấy tràn ngập nơi mỗi nẻo đường, góc phố, căn nhà và thậm chí là cả những mảnh sân trường. Có lẽ vì vậy mà nó gắn liền với biết bao kỉ niệm, làm lòng người xuyến xao. Ai mà quên được khoảnh khắc cùng lũ bạn nghịch ngợm vặt trộm những trái xoài xanh. Hương vị chua chua ngòn ngọt hòa cùng chút cay mặn của muối ớt luôn là sự yêu thích, thèm thuồng của những lứa học trò tinh nghịch, láu lỉnh. Đâu chỉ làm lũ học sinh thèm muốn, mà trái xoài cũng làm người lớn phải say mê. Vị chua ngọt không thể thiếu trong những món nộm hay cái hương vị ngọt lịm của trái xoài chín vàng óng lên hấp dẫn bất cứ ai thưởng thức. Trái xoài còn chính là một loại quả không thể thiếu của những người dân Nam Bộ trong những ngày tết. Nó tượng trưng gửi gắm một ước nguyện cho năm mới “cầu vừa đủ xài sung”. Thế mới thấy cây xoài cũng thật quen thuộc, gần gũi, được mọi người dành nhiều tình cảm yêu mến, trân trọng.

Mỗi loài cây đều mang đến một vẻ đẹp, giá trị riêng cho cuộc sống con người và cây xoài cũng vậy. Câu xoài không chỉ mang giá trị vật chất mà trong nó còn chứa đựng cả giá trị tinh thần, gắn bó với kỉ niệm của mỗi chúng ta.

Thuyết Minh Về Con Trâu Lớp 9 ❤️️15 Bài Con Trâu Việt Nam Hay

Thuyết Minh Về Con Trâu Lớp 9 ❤️️ 15 Bài Con Trâu Việt Nam Hay ✅ Trọn Bộ Văn Mẫu Giới Thiệu Về Vai Trò, Ý Nghĩa Của Con Trâu Trong Đời Sống.

Mở bài: Giới thiệu về con trâu

Hình ảnh thôn quê, xóm làng gắn liền với những con vật quen thuộc, gần gũi

Con trâu mang lại nhiều giá trị với người nông dân và với nền nông nghiệp lúa nước Việt Nam.

Thân bài

2.1. Nguồn gốc

Tiến hóa từ trâu rừng

Được người dân thuần chủng trở thành trâu như ngày nay

Trâu Việt Nam thuộc nhóm trâu đầm lầy, phân bộ nhai lại, họ bò.

Theo truyện dân gian, trâu từng là vị thần trên trời do vô tình gây nên nạn đói nhân gian bị Thượng Đế phạt làm trâu.

2.2. Tập tính

Trâu thường sống theo bầy đàn

Khi ăn, chúng có thói quen nhai lại thức ăn.

Trâu thích đến các nơi đầm lầy, ao bùn.

Trâu mới sinh được gọi là nghé, chưa có sừng.

Nghé phát triển khá nhanh, sau 2 tuần sinh nghé có thể đứng, đi chập chững, sừng bắt đầu nhú.

Khoảng 2 – 3 tháng, nghé bước vào giai đoạn trâu trưởng thành và dần hoàn thiện các bộ phận trâu.

2.3. Chủng loại

Trâu Việt Nam phổ biến với hai loại trâu: Trâu trắng và trâu đen được phân loại dựa vào màu sắc lông

Trâu trắng: Bộ lông màu trắng, biểu tượng sự may mắn

Trâu đen: phổ biến nhất tại Việt Nam, lông màu đen

2.4. Đặc điểm

Trâu đực và trâu cái có những đặc điểm khác nhau nhất định

Lông trâu ngắn, có màu trắng hoặc xám đen.

Da trâu cứng cáp

Bốn chân thấp, guốc chẵn

Thân hình trâu chắc nịch, khỏe khoắn

Đuôi dài linh hoạt, phe phẩy đuổi ruồi muỗi.

Trên đầu có cặp sừng cong, dài và phát triển hơn so với bò.

Trâu không có hàm trên.

Sữa trâu lỏng, chứa ít dinh dưỡng

2.5. Giá trị

-Giá trị sử dụng:

Trâu ra đồng với người nông dân

Trâu chở đồ, kéo xe

Thịt trâu mang lại nguồn lợi kinh tế

Da trâu làm đồ thời trang, mỹ nghệ

-Giá trị tinh thần:

Trâu là người bạn gần gũi, thân thuộc với người nông dân, là người đồng hành cùng trải qua

những nắng mưa, vất vả, những trưa hè nắng gắt bên cánh đồng

Các lễ hội chọi trâu Đồ Sơn là nét văn hóa đẹp của người dân bản địa

Trâu trở thành biểu tượng thế vận hội Seagame lần thứ

Kết bài

Tương lai của con trâu

Hình tượng đẹp đẽ của con trâu trong đời sống hiện đại

Đọc nhiều hơn với 🔥 Thuyết Minh Về Một Giống Vật Nuôi, Con Vật Nuôi 🔥 20 Bài Hay

Khi viết đoạn văn thuyết minh về con trâu các em học sinh cần sử dụng các viết ngắn gọn súc tích. Tham khảo đoạn văn mẫu như sau:

Nhắc đến làng quê Việt Nam, nhắc đến những cánh đồng lúa trĩu hạt mùa trổ bông, chúng ta không thể không nhắc đến con trâu. Con trâu không chỉ gắn liền với đồng ruộng mênh mông mà còn gắn liền với những người nông dân cơ cực, chân lấm tay bùn. “Con trâu là đầu cơ nghiệp”, câu nói của các cụ thời xưa cho thấy hình ảnh con trâu gắn liền với sự nghiệp làm nông của người nông dân.

Chú trâu nào cũng có cái sừng dựng lên, người nông dân nhận biết sự lành dữ ở loài trâu một phần cũng nhờ đôi sừng trên đầu. Trâu có sừng dài, uốn cong lưỡi liềm, giúp trâu làm dáng thì ít mà tự vệ chống lại kẻ thù thì nhiều. Trâu có đặc điểm nổi bật là không có hàm trên, có thể vì vậy mà trâu phải nhai lại. Thêm một điểm khác biệt trâu có một kiểu ngủ rất đặc biệt.

Hai chân trước gập vào trong, đầu ghé lên để ngủ. Mặc dù nên công nghiệp hóa hiện đại hóa ngày càng phát triển nhưng con trâu vẫn là con vật không thể thiếu với người nông dân Việt Nam. Và hình ảnh con trâu cần cù, chung thủy mãi luôn in sâu trong mỗi người dân Việt Nam.

Gợi ý cho bạn ☀️ Tả Con Trâu Hay Nhất ☀️ 15 Bài Văn Mẫu Tả Điểm 10

Văn mẫu mở bài thuyết minh về con trâu sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích giúp các em học sinh luyện tập cách viết ấn tượng, hấp dẫn người đọc. Tham khảo phần mở bài về con trâu bằng cách diễn đạt gián tiếp sau đây:

Câu ca dao đã trở thành một lời ru quen thuộc, đi vào tiềm thức mỗi chúng ta từ ngày tấm bé. Hình ảnh gắn bó giữa người và trâu cũng từ đó mà mặc định không biến đổi. Đối với truyền thống nền văn minh lúa nước của nước ta, hình ảnh con trâu sớm đã trở thành biểu tượng của người nông dân Việt Nam.

Trâu có hai loại: trâu đực và trâu cái và là động vật nhai lại. Một đặc điểm khá dễ nhận ra của trâu, đó là nó không có hàm răng trên. Tấm thân của trâu rất chắc chắn, thân hình vạm vỡ nhưng thấp. Bụng to. Da của nó màu đen, rất dai nhưng được phủ bởi một lớp lông mềm bên ngoài nên có cảm giác rất mượt mà. Mũi trâu lớn, miệng trâu rộng, sừng có hình lưỡi liềm.

Cân nặng trung bình của trâu cái là từ 350-400 kg thì trâu đực nặng từ 400-450kg. Bước đi của trâu chậm chạp nhưng chắc chắn. Cái đuôi luôn phe phẩy mọi lúc như để đánh động những chú ruồi không mời mà tới. Vì thưởng làm việc liên tục trên ruộng nên trâu có thói quen ợ lên nhai lại. Khi chúng có thời gian ăn cỏ, chúng thường nhai qua loa để tích trữ càng nhiều thức ăn càng tốt cho những khi phải làm việc liên miên. Đó là lí do trâu có thể làm cả ngày mà không cần dừng lại nghỉ.

Với một ngoại hình như vậy, trâu là loài động vật rất khỏe và chịu khó. Xuất phát từ nền văn minh lúa nước, mảnh ruộng cày đã gắn chặt với đời sống bao nhiêu năm lao động của người dân Việt Nam. Công việc đồng áng vất vả kia tuy nặng nhọc, một nắng hai sương, vất vả vô cùng nhưng những người nông dân luôn có “người bạn cần mẫn” của mình là chú trâu luôn bên cạnh giúp đỡ, chăm chỉ cùng làm lụng. Dù ngày nắng hay ngày mưa, dù có gian lao vất vả, chỉ cần người cần đến, trâu sẵn sàng không quản ngại gian lao để cùng con người cầy cấy thửa ruộng, đem lại sự no ấm, yên tâm cho cả gia đình.

Nên nông dân ta vẫn luôn có câu: “Con trâu là đầu cơ nghiệp”. Còn trâu thì có cần gì ngoài được con người cho ít ngọn cỏ ngoài đồng cùng một nơi để trú ngụ qua đêm. Đó là những ngày bận rộn với công việc đồng áng, còn những ngày nông nhàn, trâu lại làm bạn với tiếng sáo, với cánh diều mộng mơ của trẻ mục đồng trên những bãi cỏ rộng ngập nắng và gió. Những chú bé vắt vẻo trên lưng trâu đùa nghịch mà tạo nên những kỉ niệm tuổi thơ với cuộc sống làng quê khó quên đến tận những năm tháng về sau.

Là một loài động vật có sức lao động và trâu cũng là một trong những nguồn cung cấp thực phẩm cho con người. Thịt trâu có hàm lượng đạm khá cao, hàm lượng chất béo thấp. Sữa trâu có tính năng cao trong việc cung cấp chất đạm, chất béo. Da trâu làm mặt trống, làm giày. Sừng trâu làm đồ mĩ nghệ như lược, tù và,..

Trâu còn gắn liền với những lễ hội đình đám như lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn – Hải Phòng. Những chú trâu đã được chăm sóc, luyện tập rất chu đáo từ lâu để chuẩn bị cho ngày hội hôm ấy. Con nào con nấy cũng vạm vỡ, sừng cong như hình vòng cung, nhọn hoắt, da bóng loáng, mắt trắng, tròng đỏ trông hùng dũng oai phong chỉ chờ vào sân đấu. Trong tiếng trống giục giã, trong tiếng hò reo cổ vũ của mọi người hai con trâu lao vào nhau mà húc, mà chọi.

Chắc hẳn mọi người vẫn còn nhớ rõ hình ảnh “trâu vàng” trong SEA GAMES 22, trâu không chỉ là giống vật nuôi quen thuộc của người nông dân Việt Nam mà đã trở thành hình ảnh thú vị đối với bạn bè quốc tế. Con trâu đã trở thành biểu tượng cho sự trung thực, cho sức mạnh và tinh thần thượng võ. Từ hình ảnh chú trâu vàng, các sản phẩm trâu tập võ, trâu chạy maratong, trâu đội nón… rất ngộ nghĩnh, độc đáo đã ra đời.

Tất cả đều chứng tỏ từ xa xưa đến nay, trâu vẫn gắn liền với đời sống của dân tộc trong mọi mặt kể từ cuộc sống đời thường đến lao động, văn hóa, phong tục, đã trở thành một phần không thể thiếu trong bản sắc dân tộc. Mang những giá trị to lớn về mọi mặt của đời sống nhân dân, con trâu đã trở thành một “nhân vật” không thể thiếu và xứng đáng để con người có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc và quý trọng chúng.

Cho dù trong cuộc sống hiện đại ngày nay, rất nhiều loại máy móc xuất hiện thay thế vai trò của trâu trong lao động, sản xuất nhưng hình ảnh và ý nghĩa của con trâu luôn là một phần nếp sống tinh thần không thể thiếu của mỗi người nông dân đất Việt.

Hướng Dẫn Cách Nhận 🌼 Thẻ Cào Miễn Phí 🌼 Nhận Thẻ Cào Free Mới Nhất

Bài văn thuyết minh về con trâu hay nhất sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các em học sinh trong quá trình làm bài.

Bao đời nay, hình ảnh con trâu đã trở nên gắn bó với người nông dân Việt Nam. Trâu Việt Nam là trâu rừng thuần hóa, thuộc nhóm trâu đầm lầy và thường sống ở miền khí hậu nhiệt đới. Thân hình vạm vỡ nhưng thấp và ngắn. Bụng to. Da dày có màu xám đen nhưng vẫn tạo cảm giác mượt mà bởi bên ngoài được phủ một lớp lông mềm. Điều đặc biệt ở trâu mà không thể không nhắc đến đó là trâu thuộc họ nhai lại.

Quanh năm suốt tháng, trâu cùng người chăm lo việc đồng áng vì vậy người nông dân coi trâu như người bạn thân thiết nhất của mình. Trâu to khỏe, vạm vỡ lại chăm chỉ cần cù chịu thương chịu khó nên thường gánh vác những công việc nặng nhọc của nhà nông. Từ sáng sớm tinh mơ. khi mặt trời còn ngái ngủ, trâu đã cùng người ở “trên đồng cạn” rồi lại xuống “dưới đồng sâu”, cho đến khi ông mặt trời mệt mỏi sau một ngày làm việc, chuẩn bị đi ngủ trâu vẫn miệt mài bên luống cày.

Trâu là nguồn cung cấp sức kéo quan trọng. Lực kéo trung bình của trâu trên đồng ruộng là 70 – 75kg, tương đương 0,36 – 0,1 mã lực. Trâu loại A một ngày cày được 3 – 4 sào Bắc Bộ, loại B khoảng 2 – 3 sào và loại C 1,5 – 2 sào. Trâu còn được dùng để kéo đồ, chở hàng; trên đường xấu tải trọng là 400 – 500kg, đường tốt là 700 – 800kg, còn trên đường nhựa với bánh xe hơi thì tải trọng có thể lên đến 1 tấn. Trên đường đồi núi, trâu kéo từ 0,5m khối gỗ trên quãng đường 3 – 5km. Khỏe như vậy nhưng bữa ăn của trâu rất giản dị, chỉ là rơm hoặc cỏ.

Trâu cũng là một trong những nguồn cung cấp thực phẩm cho con người. Thịt trâu có hàm lượng đạm khá cao, hàm lượng chất béo thấp. Sữa trâu có tính năng cao trong việc cung cấp chất đạm chất béo. Da trâu làm mặt trống, làm giày. Sừng trâu làm đồ mỹ nghệ như lược, tù…

Không chỉ góp phần quan trọng trong đời sống vật chất của người dân, trâu còn có mặt trong đời sống tinh thần của người dân Việt Nam. Từ xa xưa, trâu hay còn gọi là ngưu, sửu – có mặt trong 12 con giáp. Con trâu trở thành con vật gắn liền với tuổi tác của con người. Người mang tuổi trâu thường là những người chăm chỉ cần cù, thậm chí vất vả. Trong đời sống văn hóa tinh thần, trâu còn là con vật thiêng dùng để tế lễ thần linh trong ngày lễ hội cơm mới, lễ hội xuống đồng.

Hình ảnh con trâu còn in đậm trong kí ức của những đứa trẻ vùng quê. Chắc không ai quên Đinh Bộ Lĩnh, người làm nên kỳ tích thống lĩnh mười hai sứ quân, đã có một tuổi thơ gắn bó với chú trâu trong trò đánh trận giả hay trò đua trâu đầy kịch tính. Chắc mỗi chúng ta đều có lần bắt gặp những hình ảnh rất đặc trưng, rất nên thơ của làng quê Việt Nam, đó là hình ảnh chú bé mục đồng ngồi vắt vẻo trên lưng trâu đọc sách hay hình ảnh chú cũng đang ngồi trên lưng trâu nghiêng nghiêng cái đầu trái đào với cây sáo trúc… Những hình ảnh tuyệt vời đó đã trở thành nguồn cảm hứng cho những nghệ nhân làng tranh Đông Hồ và cũng là nguồn cảm hứng cho các tác giả dân gian:

Ngày nay, nhiều loại máy móc hiện đại đã xuất hiện trên cánh đồng làng Việt Nam nhưng con trâu vẫn là con vật không thể thiếu đối với người nông dân. Hình ảnh con trâu cần cù, chung thủy mãi mãi in sâu trong trái tim mỗi người dân Việt Nam.

Giới thiệu tuyển tập 🌹 Thuyết Minh Con Trâu Lớp 8 🌹 16 Bài Văn Ngắn Gọn Hay Nhất

Hình ảnh làng quê Việt Nam gắn liền với cánh cò bay lả bay la, với dòng sông vắt ngang qua mơ màng, với khói lam chiều từ ống bếp nhà ai đầy mờ ảo. Và có một biểu tượng quen thuộc cho nét thanh bình của vùng đất nông thôn. Đó chính là con trâu.

Trâu Việt Nam vốn có gốc gác từ loại trâu rừng, sống hoang dã, sau đó được con người thuần hóa và dần dần thân thiết như bây giờ và đa phần chúng đều thuộc nhóm trâu đầm lầy. Bởi vậy chúng ta vẫn hay bắt gặp chúng đằm mình thư thái trong các đầm hoặc những quãng sông nông. Trâu thuộc loài lớp thú, động vật có vú. Màu đặc trưng của nó là màu xám đen, khác hẳn với bò là màu vàng nâu dù cả hai là họ hàng với nhau.

Trâu có một thân hình vạm vỡ như một thanh niên trai tráng nhưng chiều cao lại thấp. Chiếc bụng của nó phình ra to hơn cả thân hình. Lúc nó đi cái bụng cứ ngúc nga ngúc nguẩy. Trên đầu của nó có một chiếc sừng ngắn, hình lưỡi liềm. Điều đặc biệt là trâu không có hàm răng trên. Nó gắn với câu chuyện của dân gian “Trí khôn của ta đây”, vì trâu mải lăn ra cười mà va phải tảng đá nên gãy hết răng.

Đó chỉ là cách lý giải vui nhộn còn theo sự nghiên cứu khoa học, hàm trên của trâu đã được thay bằng một tấm nệm để thuận tiện hơn trong quá trình xử lí thức ăn. Trâu cũng là loài động vật nhai lại và sức ăn cũng như sức chứa của nó khá là lớn. Trâu sinh sản không nhiều, hai năm mới có một đứa hoặc ba năm được hai đứa là nhiều bởi thời gian mang thai của nó rất dài thường rơi vào khoảng hơn ba trăm ngày.

Trâu đóng một vai trò rất quan trọng trong cuộc sống của người nông dân. Từ sáng sớm tinh mơ, nó đã cùng các chú các bác ra đồng làm việc. Trâu có sức kéo tốt nên thường phụ trách công việc cày bừa. Những đồng ruộng trở nên tơi xốp hơn dưới đường cày của trâu. Ngoài ra chúng còn giúp người dân kéo một số đồ dùng.

Thịt trâu cũng là một thực phẩm giàu chất dinh dưỡng, là nguyên liệu quan trọng của nhiều món ăn. Thịt trâu còn được coi là đặc sản với giá thành không hề rẻ. Trâu còn cung cấp da, sừng để làm đồ thủ công mỹ nghệ trưng bày trong nhà cửa. Chính vì những tác dụng của nó, trâu được coi là người bạn, là tài sản quý mà người nông dân dày công chăm sóc. Xét đến cùng, trâu đem đến cho gia đình ở vùng quê thôn dã những giá trị kinh tế để cải thiện đời sống.

Nhưng đâu chỉ có thế, trâu còn là người bạn của những đứa trẻ, của những chú mục đồng. Hình ảnh chú bé ngồi vắt vẻo trên lưng trâu thổi sáo đã đi vào trong bao bài thơ, câu ca, bức tranh, là nguồn cảm hứng khơi gợi cho văn chương nghệ thuật. Nhân dân còn tổ chức lễ hội chọi trâu thu hút rất nhiều khách du lịch. Trâu đi vào tâm linh, văn hóa của người Việt. Và trong lần đăng cai SEA Game 22, Việt Nam đã chọn con trâu vàng làm biểu tượng linh vật.

Để chăm sóc một con trâu vừa dễ cũng vừa khó. Thức ăn cho trâu đa số là cỏ nhưng chúng không phải loài động vật ngắn hạn như vịt gà mà nuôi một con trâu trung bình phải mất vài năm. Người dân cũng phải chú ý tiêm phòng đầy đủ, khi có dấu hiệu ốm phải gọi bác sĩ thú ý đến kiểm tra. Những mùa mưa rét, gió bão những người nông dân lại kiếm rơm rạ, dự trữ thức ăn để bảo vệ gia súc quý giá của mình.

Con trâu vẫn luôn là người bạn, một tài sản mà người nông dân Việt Nam luôn trân quý!

Mời bạn xem nhiều hơn 🌟 Bài Văn Tả Động Vật Hay 🌟 15 Bài Văn Tả Các Loài Vật

Bài văn thuyết minh về con trâu với tuổi thơ ở nông thôn sẽ mang đến cho các em học sinh những ý tưởng hay để thực hiện bài viết của mình.

Tuổi thơ tôi được lớn lên trong tiếng hát à ơi của bà, của mẹ. Những câu hát ru ngọt ngào ấy chứa tất cả hình ảnh thân thuộc của quê hương, đó là những cánh cò bay lả, những ruộng đồng bao la hay những con trâu chăm chỉ đều được kết thành lời hát ngọt ngào, đầy yêu thương. Nhưng để lại trong tôi nhiều cảm xúc nhất có lẽ là hình ảnh về con trâu – hình ảnh thân thuộc của mỗi làng quê Việt Nam.

Trâu không phải là loài động vật xa lạ với mỗi người nông dân. Trâu có nguồn gốc từ trâu rừng thuần hóa, thuộc giống trâu đầm lầy. Khoảng 5000 – 6000 năm trước, trâu được thuần hóa cùng với sự ra đời của nền văn minh lúa nước. Ông cha ta từ xa xưa đã biết săn bắt trâu và thuần hóa chúng để phục vụ cho công việc cày cấy cũng như trong sinh hoạt hàng ngày. Con trâu là động vật ở nhóm Thú có vú vì nó nuôi con bằng sữa mẹ. Và đây là loài động vật thuộc nhóm nhai lại, sức nhai của trâu rất bền. Khi có thời gian ăn, trâu thường ăn rất nhanh, qua loa để tích trữ được nhiều cho những khi phải làm việc liên miên. Vì vậy, trâu có thể làm việc cả ngày mà không cần nghỉ ngơi.

Những chú trâu đều sở hữu một thân hình vô cùng vạm vỡ. Trâu thuộc lớp thú có vú nên được sẽ có hai loại là trâu đực và trâu cái. Trâu đực thường to và cao hơn trâu cái, sừng to và dày hơn, đôi chân chắc nịch và chạy rất nhanh. Cân nặng trung bình của mỗi con trâu đực từ 400- 450 kg và trâu cái là từ 350- 400 kg.

Da trâu có màu đen, dày, dai và bóng loáng, phía bên ngoài sẽ được phủ lên một lớp lông mao màu đen nên có cảm giác rất mượt. Hai cái tai trâu to như hai cái quạt mo lúc nào cũng ve vẩy để đuổi ruồi. Trai trâu rất thính, giúp nó nghe rõ mọi hoạt động xung quanh. Miệng nó rất rộng, mũi to và thường ẩm ướt để người nông dân luồn dây qua mũi kéo đi cho dễ dàng, mắt to tròn như hai hòn bi ve.

Vì trâu thuộc nhóm động vật nhai lại nên miệng nó chỉ có hàm răng dưới mà không có hàm răng trên. Và việc trâu chỉ có một hàm cũng được dân gian lý giải qua câu chuyện hài “ Trí khôn của ta đây”. Trâu có cặp sừng dài và cong hình lưỡi liềm trông rất chắc chắn giúp nó tự vệ khi gặp kẻ thù.

Trâu có 4 chân rất chắc, ngắn, to. Hai chân trước cách xa nhau, thẳng còn hai đùi sau to dài. Đuôi trâu ngắn và có một túm lông ở cuối đuôi. Đôi lúc nhìn con trâu rất nặng nề bởi nó phải mang một cái bụng rất to được chống đỡ bởi bốn chân. Chắc bởi vậy nên chân nó phải rất khỏe mới đỡ được cả thân hình vạm vỡ ấy. Mỗi năm trâu chỉ đẻ từ 1-2 lứa, mỗi lứa một con. Trâu con mới sinh ra sẽ được gọi là nghé.

Xuất phát từ nền văn minh lúa nước nên hình ảnh con trâu gắn liền với người nông dân lam lũ trên cánh đồng không quản ngại nắng mưa. Công việc đồng áng vất vả, nặng nhọc nhưng người nông dân luôn có một “ người bạn cần mẫn” bên cạnh giúp đỡ, chăm chỉ cùng làm việc. Dù mưa hay nắng, ngày hay đêm thì những chú trâu vẫn cày cấy cùng người nông dân đem lại sự ấm no cho cuộc sống của người dân. Bên cạnh công việc cày cấy thì người ta còn dùng trâu làm sức kéo để kéo gỗ, chở đồ. Trâu còn được dùng là thực phẩm hàng ngày phục vụ nhu cầu ẩm thực của mọi người. Thịt trâu dai, thơm và có hàm lượng đạm trong thịt cao.

Trâu là người bạn cũng là tài sản đem lại thu nhập cao cho người dân. Ông cha ta có câu: “Con trâu là đầu cơ nghiệp” điều đó chứng tỏ được vai trò to lớn của trâu, ngày xưa hầu như mỗi gia đình đều sở hữu một con trâu. Không chỉ bắt gặp hình ảnh những con trâu chăm chỉ bên người nông dân mà chúng ta còn biết trâu còn gắn liền với tuổi thơ của những đứa trẻ nông thôn. Những buổi chiều chăn trâu thả diều hay ngồi vắt vẻo trên lưng trâu nằm đọc sách, thổi sáo sẽ luôn là kỉ niệm in sâu trong kí ức của tuổi thơ.

Ngoài ra, trâu còn xuất hiện ở trong các lễ hội truyền thống như hội chọi trâu Hải Phòng, lễ hội chọi trâu Đồ Sơn với những ý nghĩa tâm linh sâu sắc. Qua lễ hội người ta muốn tưởng nhớ đến công ơn các vị thần, duy trì kỷ cương làng xã và cầu nguyện cho một năm ấm no, bình yên, hạnh phúc.

Ngày nay, tuy có nhiều máy móc, công cụ hiện đại ra đời làm việc công suất hơn nhưng không thể thay thế được hình ảnh của những con trâu vạm vỡ trong lòng người dân Việt Nam. Trâu không chỉ mang lại giá trị vật chất mà còn là đời sống tinh thần của người nông dân. Đồng thời, hình ảnh của con trâu còn là biểu tượng cho những đức tính cao đẹp của con người Việt Nam: cần cù, chịu khó, hiền lành, chất phác. Chúng ta chăm sóc và bảo vệ trâu chính là giữ gìn biểu tượng văn hóa truyền thống cao đẹp của người Việt.

Chia sẻ cơ hội 🌟 Nạp Thẻ Ngay Miễn Phí 🌟 Tặng Card Nạp Tiền Ngay Free Mới

Với đề bài yêu cầu tm về con trâu, các em học sinh có thể tham khảo cách viết súc tích và giàu hình ảnh với bài văn mẫu thuyết minh về con trâu ngắn gọn như sau:

Trâu là loài động vật quen thuộc đối với làng quê, cánh đồng ruộng Việt Nam. Đặc biệt là đối với người nông dân, trâu là động vật không thể thiếu trong việc làm ruộng, cày bừa, vì thế trâu được nhắc đến trong câu thành ngữ Việt Nam xưa “Con trâu là đầu cơ nghiệp”.

Trâu xuất hiện từ rất lâu ở đồng quê Việt Nam, hình ảnh con trâu dường như không xa lạ đối với người dân ở đây. Trâu thuộc họ Bò, phân bộ nhai lại, nhóm sừng rỗng, bộ Guốc chẵn, là động vật ở nhóm Thú có vú vì nó nuôi con bằng sữa. Nó có nguồn gốc từ trâu rừng thuần hóa, thuộc giống trâu đầm lầy. Trâu to, khỏe, vạm vỡ, thấp ngắn, bụng to, mông dốc. Những điểm này rất thích hợp đối với công việc của chú trâu.

Nhắc đến con trâu là ai cũng nghĩ ngay đến một hình ảnh làm việc siêng năng, cần cù cùng với người nông dân, đó là chú trâu hiền lành cùng với việc cày bừa trân đồng ruộng đầy vất vả. Trâu xuất hiện trên đồng ruộng làng quê Việt Nam, nó cày bừa thật chăm chỉ. Khi lưỡi cày cắm xuống đất, nó nhanh nhẹn kéo cày thành từng luống đất đều đặn tăm tắp, khiến người nông dân rất hài lòng.

Trâu làm việc từ sáng đến tối, dường như không mệt nhiều. Khi người nông dân ra lệnh trâu về, nó hiểu ý chủ, liền nhanh nhẹn lên bờ. Như nhớ đường về nhà nên trâu đi rất nhanh và nó biết về đúng nơi mà được coi là “Thiên đường riêng” của mình, đó là cái chuồng trâu thật đẹp và sạch sẽ, với những thức ăn ngon mà người chủ đã chuẩn bị sẵn, đó là những ngọn cỏ thật tươi.

Con trâu còn gắn bó với tuổi thơ của những trẻ mục đồng. Hình ảnh với những buổi chiều nắng dịu, lũ trẻ ngồi trên lưng trâu thổi sáo, chơi cờ lao, thả diều đã là một hình ảnh đẹp, được các họa sĩ khắc lên những bức tranh sinh động, mộc mạc, tự nhiên, một bức tranh làng quê rất đẹp. Đặc biệt, lũ trẻ còn gắn bó thân thiết với chú trâu khi tắm sông. Chúng tắm và nô đùa với trâu dưới nước như những người bạn thân chứ không phải là một loài động vật nông nghiệp.

Thú vị hơn nữa, con trâu còn xuất hiện trong một số lễ hội, đình đám các Sea Game. Ở Đồ Sơn, có lễ hội Chọi Trâu, diễn ra vào mồng chín tháng tám hằng năm. Lễ hội diễn ra nhằm chọn ra những chú trâu khỏe ở các vùng. Ngoài ra, còn có hội đua trâu, đâm trâu ở Tây Nguyên. Lễ hội này thật có ý nghĩa. Những chú trâu được giết để lấy thị tế các vị thần linh trong bản, nhằm cầu phúc cho một năm an lành, trù phú.

Nói đến lợi ích của con trâu thì người ta nghĩ ngay đến sức mạnh của nó. Trâu có sức kéo trong cày bừa, làm ruộng, nó còn kéo xe, gỗ, giúp ít nhiều. Ngoài ra, nó còn cung cấp thịt cho ngành thực phẩm. Trâu còn cung cấp sữa, làm đồ mĩ nghệ như sừng, da,… Trâu có nhiều lợi ích về ngành kinh tế, trong nông nghiệp làm ruộng và nhiều ngành khác, nên chúng ta cần phải bảo vệ, chăm sóc tốt chúng. Cần có biện pháp ngăn chặn sự tuyệt chủng ở loài trâu để duy trì nòi giống họ Trâu giúp chúng ta luôn có được những lợi ích từ những chứ trâu mập mạp khỏe mạnh này.

Hiện nay, với sự phát triển của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nên có nhiều máy móc tân thời xuất hiện, hình ảnh chú trâu đã dần không còn xuất hiện trên làng quê Việt Nam. Nhưng trong tâm trí của người nông dân thì chú trâu vẫn là người bạn thân thuộc nhất, đối với lũ trẻ thì trâu lại là người bạn quen thuộc, gắn bó thân thiết trong kí ức tuổi thơ của chúng. Sự gắn bó, tâm sự của người nông dân Việt Nam còn thể hiện qua bài thơ vô cùng giản dị, đầy sinh động này:

Gửi đến bạn 🍃 Thuyết Minh Về Con Chó 🍃 15 Bài Mẫu Về Loài Chó Hay

Hình ảnh con trâu vốn không còn xa lạ gì nữa với mỗi người dân Việt Nam.

Trâu (miền Trung gọi là tru) là một loài động vật thuộc họ Trâu bò, phân bộ Nhai lại, nhóm Sừng rỗng, bộ Guốc chẵn, lớp thú có vú. Chúng thường sống hoang dã ở Nam Á, Đông Nam Á và miền bắc nước Úc. Còn ở Việt Nam, chúng thường được nuôi với số lượng rất lớn.

Trâu Việt Nam có nguồn gốc từ trâu rừng thuần hóa, thuộc nhóm trâu đầm lầy. Bộ lông của chúng có màu xám hoặc xám đen. Thân hình to khỏe và vạm vỡ. Bụng to, mông dóc, đuôi dài thường xuyên phe phẩy. Bầu vú nhỏ và đặc biệt là đôi sừng hình lưỡi liềm cứng và nhọn có thể trở thành một loại vũ khí tự vệ cho chúng khi gặp phải kẻ thù.

Chúng gồm hai loại phổ biến là trâu trắng và trâu đen. Việc phân loại này được dựa theo màu sắc của lông. Trâu trắng là loại trâu có lông màu trắng ngà. Người ta cho rằng trâu trắng thường mang lại may mắn. Nhưng loài trâu này rất hiếm gặp. Còn trâu đen thì có bộ lông màu đen xám, chiếm số lượng áp đảo hơn cả.

Về tập tính của loài trâu, có một điểm vô cùng nổi bật như: Trâu có tập tính nhai lại khi ăn, thức ăn được đưa vào dạ cỏ và dạ tổ ong, phần thức ăn không tan được đưa lại khoang miệng để trâu nhai lại, phần tan vào các dạ lá sách, dạ túi khế để tiêu hóa. Điều này thật thú vị! Chúng sẽ phải mất rất nhiều thời gian để tiêu hóa thức ăn nhưng lại không bao giờ cảm thấy đói. Ngoài ra, trâu là loài sống theo bầy đàn. Chúng thường sống thành một gia đình lớn tại các vùng đầm lầy, thung lũng.

Về sinh sản, hằng năm trâu đẻ hai lứa. Mỗi lứa chỉ cho ra đời một con con. Trâu con mới chào đời được gọi là nghé. Chúng chưa có sừng và thường nặng từ 22 – 25 kg. Một con nghé trưởng thành khá nhanh. Khoảng hai tuần thì biết đi và từ hai đến ba tháng thì có thể phát triển thành một con trâu trưởng thành. Các bộ phận khác cũng dần hoàn thiện trong quá trình phát triển.

Về đặc điểm, trâu có thân hình chắc nịch, khỏe khoắn, bộ lông có hai loại màu trắng ngà hoặc xám đen với các sợi lông ngắn tũn. Da của chúng rất dày và cứng cáp. Có lẽ, khi mùa đông đến, loài trâu không sợ lạnh cũng chính vì bộ da của chúng. Trâu có bốn chân ngắn với bộ guốc chẵn. Đuôi dài, linh hoạt và thường ve vẩy để đuổi ruồi, muỗi chứ không chịu nằm yên một chỗ.

Phần đầu trâu có hai cặp sừng dài. Ở một con trâu trưởng thành, cặp sừng này có thể rất dài. Đôi mắt của chúng to và trông lúc nào cũng lờ đờ như thiếu ngủ. Trong khoang miệng không có hàm trên. Hầu hết trâu đực có phần minh to hơn trâu cái, sức kéo cùng thịt trâu dai và chắc hơn trâu cái. Trâu cái có thể tiết sữa nhưng sữa trâu không có nhiều dinh dưỡng như sữa bò.

Về giá trị vật chất, loài trâu gắn với người nông dân từ bao đời nay. Ông cha ta có câu: “Con trâu là đầu cơ nghiệp”. Chúng chủ yếu cung cấp sức kéo cho con người: giúp kéo xe, kéo cày cho người nông dân khi ngoài đồng. Ngoài ra, ngày nay, thịt trâu cũng trở thành một món đặc sản khá nổi tiếng. Da trâu cũng có thể được dùng làm da các loại túi, ví, thời trang. Về giá trị tinh thần, con trâu chính là người bạn đồng hành với người nông dân trong công việc lao động vất vả. Một số nơi, còn tổ chức lễ hội mà con trâu chính là nhân vật chính như lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn, Hải Phòng. Con trâu cũng chính là một biểu tượng văn hóa của người nông dân Việt Nam.

Cho dù xã hội ngày càng hiện đại nhưng đối với những người nông dân Việt Nam, con trâu mãi là một người bạn gắn bó trong công việc lao động của họ.

Đừng bỏ qua 🔥 Tả Một Con Vật Nuôi Ở Vườn Thú 🔥 15 Bài Văn Tả Hay Nhất

Tham khảo bài văn thuyết minh kết hợp miêu tả con trâu sinh động với những ý văn hay và cách diễn đạt hấp dẫn.

Khắp các làng quê Việt Nam trong mỗi vụ mùa chúng ta lại thấy bóng dáng của những chú trâu chăm chỉ làm việc trên những cánh đồng. Những con trâu đã giúp cho công việc cấy cầy ở mỗi vụ mùa của các bác nông dân được dễ dàng hơn. Trâu không chỉ gánh vác một phần không nhỏ vào việc đồng áng mà trâu còn đem lại rất nhiều lợi ích về mặt vật chất và tinh thần cho người nông dân ở các làng quê Việt Nam.

Trâu Việt Nam có nguồn gốc từ trâu rừng thuần hoá thuộc nhóm trâu đầm lầy. Lông màu xám đen, thân hình vạm vỡ, thấp, ngắn, bụng to, bầu vú nhỏ, sừng hình lưỡi liềm. Có hai đai màu trắng dưới cổ và chỗ đầu xương ức. Trâu cái nặng trung bình 350 – 400 kg (300 – 600kg) trâu đực: 400 – 450kg (350 – 700kg)…. Vậy vị trí và vai trò của con trâu đã được coi là thứ hàng đầu của cơ nghiệp, hồi đó người ta chỉ cần xem nhà nào có nhiều trâu hay ít trâu là đủ để biết được gia cảnh của họ như thế nào. Đến tận bây giờ con trâu cũng vẫn được coi là thứ quý giá của người nông dân. Nó đem lại nhiều lợi ích về mặt vật chất.

Chúng sinh trưởng rất nhanh, trâu 3 tuổi có thể đẻ lứa đầu. Trong đàn trâu cái, trâu 4 tuổi đẻ lứa đầu chiếm 45 – 47%. Trâu đẻ có mùa vụ. Tỉ lệ đẻ hằng năm ở vùng núi là 40 – 45%, ở đồng bằng là 20 – 25%. Một đời trâu cái thường cho 5-6 nghé, nghé sơ sinh nặng 22 – 25kg. Đôi răng cửa giữa cố định bắt đầu mọc lúc 3 tuổi và trâu kết thúc sinh trưởng khi hết 6 tuổi (8 răng cửa). Do trâu sinh trưởng nhanh và nhiều nên đem lại một phần lợi về kinh tế không nhỏ cho người nông dân. Một con trâu trưởng thành khoảng 4-5 triệu đồng.

Trâu không chỉ để bán mà nó còn được nuôi để kéo cày: lực kéo trung bình trên ruộng 70 – 75 kg bằng 0,36 – 0,40 mã lực. Trâu loại A một ngày cày 3-4 sào; loại B: 2 – 3 sào và loại C: 1,5 – 2 sào bắc bộ, kéo xe ở đường xấu tải trọng 400 – 500 kg, đường đồi núi thường một trâu kéo 0,5 – l,3m3 với đoạn đường 3 – 5km. Bởi trâu có sức mạnh và rất chăm chỉ nên dùng trâu để chở hàng và chở gỗ cùng đem lại rất nhiều nguồn lợi về kinh tế.

Trâu còn có khả năng cho thịt rất cao: trâu cái có tỉ lệ xẻ thịt là 42%. Trâu thiến là 45% và trâu đực 2 tuổi là 48%. Khả năng cho sữa 400 – 500 lít sữa trong một chu kì vắt. Mỡ sữa 9 – 10%. Đem bán thịt trâu cũng giúp cho người nông dân một khoản thu lớn. Người nông dân thường trồng xen cả những cây ăn quả, thức bón tốt nhất cho cây là phân ủ xanh.

Trâu có khả năng cho phân cao: trong 24 giờ trâu 2 răng thải ra 10 kg phân, trâu 4 răng 12 kg và trâu trưởng thành 20 – 25kg. Chính vì khả năng cho phân cao như vậy nên người nông dân không phải mua phân bón và tiết kiệm được một số tiền không nhỏ. Trâu còn dùng cung cấp nguyên liệu làm đồ mĩ nghệ, thuộc da làm trống…

Con trâu gắn bó với đời sống tinh thần của người nông dân như thế nào? Ai đã từng sống ở nông thôn đều đã từng gắn bó một phần tuổi thơ của mình với những cánh đồng lộng gió, với những cánh diều cao vút và đặc biệt là với những con trâu. Tôi tuy là người sống ở thị xã nhưng mỗi khi về quê vừa đến đầu làng đi ngang qua cánh đồng tôi đã thấy những tiếng cười đùa vui vẻ của những đứa trẻ trong làng. Chúng tụ tập thành một hội cùng cưỡi trâu thả diều, những cánh diều bay lên tận trời cao.

Tuy cuộc sống của bọn trẻ có khó khăn nhưng nhờ những con trâu cánh đồng và những con diều cũng đủ làm chúng rất đỗi vui vẻ. Tuy cuộc sống của tôi có ổn định hơn những bạn trẻ ở làng quê nhưng hiếm khi tôi có được những giây phút vui vẻ đến như vậy. Cả tuổi thơ của trẻ em nông thôn gắn liền với những tình cảm yêu quý, gắn bó với những con trâu.

Không chỉ có gắn bó với tuổi thơ của trẻ em mà chúng còn không thể thiếu trong các lễ hội như lễ hội chọi trâu Đồ Sơn… Các làng quê vẫn còn những phong tục tập quán gắn với con trâu, ở các dân tộc miền núi vẫn còn phong tục đua trâu. Người và trâu chiến thắng sẽ được chức vô địch. Trâu rất vinh dự được làm biểu tượng cho SEA GAMES 22 tổ chức tại Việt Nam là ngày hội thể thao lớn của khu vực.

Con trâu gắn bó với người nông dân Việt Nam với các làng quê. Bấy nhiêu đã đủ để mọi người hiểu được tầm quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần của người nông dân Việt Nam của con trâu. Nó xứng đáng là biểu tượng tượng trưng cho làng quê Việt Nam và là niềm tự hào của một Việt Nam cường tráng

Tìm hiểu hướng dẫn 🔥 Kiếm Thẻ Cào Miễn Phí 🔥 Kiếm Tiền Online Kiếm Thẻ Cào

Để viết bài văn thuyết minh về trâu đạt điểm cao, các em học sinh cần trau dồi và luyện tập kỹ năng viết.

Trên những cánh đồng chúng ta bắt gặp hình ảnh con trâu cần mẫn kéo cày. Có thể nói con trâu gắn bó thân thiết với người nông dân Việt Nam: con trâu – là động vật nhai lai thuộc họ bò, phân bộ nhai lại, nhóm sừng rỗng, bộ guốc chẵn, lớp thú có vú – loài động vật này chủ yếu vào việc cày kéo.

Trâu Việt Nam có nguồn gốc từ trâu rừng thuần chủng, thuộc nhóm trâu đầm lầy. Lông màu xám hoặc xám đen, thân hình vạm vỡ, thấp ngắn bụng to, mông đốc, bầu vú nhơ, sừng có hình lưỡi liềm. Ngày xưa, người ta phân biệt trâu lành hay trâu dữ là một phần nhờ vào đôi sừng trên chỏm đầu: sừng dài, uốn cong hình lưỡi liềm cùng cặp mắt to dữ thì phải coi chừng và có biện pháp thuần phục. Nếu trâu cái trung bình từ 350-400 kg có tầm vóc từ vừa đến to, linh hoạt và hiền lành thì trâu đực nặng từ 400-450kg có tầm vóc lớn, cân đối, dài đòn trước cao sau thấp, tính khí hăng hái nhưng hiền lành.

Không chỉ có thế con trâu còn có 1 vị trí to lớn trong đời sống tinh thần của con người Việt Nam. Hình ảnh con trâu đi trước cái cày đi sau đã trở thành hình ảnh gần gũi bao đời nay. Chính vì vậy nó là 1 một phần không thể thiếu của người nông dân. Hình ảnh con trâu ung dung gặm cỏ non, xanh mát và trên trời là những cánh diều bay cao giữa không trung đã in sâu trong tâm trí người Việt Nam. Chăn trâu thả diều là một trong những trò chơi của trẻ em nông thôn, một thú vui đầy lý thú. Trên lưng trâu còn có bao nhiêu là trò như đọc sách, thổi sáo… Những đứa trẻ đó lớn dần lên, mỗi người mỗi khác nhưng sẽ không bao giờ quên được những ngày thơ ấu:

Ngoài ra trâu con gắn liền với những lễ hội truyền thống như chọi trâu đâm trâu. Lễ hội chọi trâu ở Hải Phòng là nổi tiếng nhất. Hải Phòng là vùng đất có truyền thống văn hoá với nhiều di tích lịch sử và danh thắng mang đặc trưng của miền biển. Trong những di sản văn hoá ấy, nổi bật là lễ hội chọi trâu Đồ Sơn – một lễ hội mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc.

Lễ hội nói chung là một sinh hoạt văn hoá, tôn giáo, nghệ thuật truyền thống phản ánh cuộc sống vật chất và tâm linh của một cộng đồng trong quá khứ. Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn được khôi phục lại hơn 10 năm nay và được Nhà nước xác định là 1 trong 15 lễ hội quốc gia, bởi lễ hội này không chỉ có giá trị văn hoá, tín ngưỡng, độc đáo mà còn là điểm du lịch hấp dẫn với mọi người.

Con trâu cũng có mặt trong lễ hội đình đám Việt Nam như tục chọi trâu ở Đồ Sơn (Hải Phòng), tục đâm trâu ở Tây Nguyên, nhưng từ lâu lắm rồi người Đồ Sơn đã lưu truyền câu ca dao cổ:

Cũng có nhiều ý kiến về nguồn gốc ra đời của lễ hội chọi trâu đưa ra những căn cứ giải thích khác nhau, nhưng ở Đồ Sơn vẫn có câu thành ngữ “Trống mọi làng cùng đánh, thánh mọi làng cùng thờ” để lập luận Hội chọi trâu ra đời cùng với việc trở thành hoàng làng. Không những thế để nói lên sự sung túc, thành công của nhà nông có câu: “Ruộng sâu, trâu nái”.

Tìm hiểu nguồn gốc ấy để thấy rằng lễ hội chọi trâu có một ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống người Đồ Sơn từ xưa tới nay. Ngoài nhu cầu vui chơi, tìm hiểu, qua lễ hội người ta tưởng nhớ đến công ơn của các vị thần, duy trì kỷ cương làng xã, để cầu nguyện cho “nhân khang, vật thịnh”. Chọi trâu không chỉ đơn thuần “hai con trâu chọi” mà nó đã trở thành tục lệ, tín ngưỡng độc đáo ở vùng biển Đồ Sơn.

Người dân đặt vào lễ hội niềm tin và hy vọng bởi những cặp trâu chọi sẽ quyết định thắng thua, thành bại cho phe giáp ngày trước, phường xã ngày nay. Người Đồ Sơn gắn lễ hội chọi trâu với việc thờ cúng thành hoàng làng với mong muốn những chuyến đi biển thuận buồm xuôi gió, cho nên ngày Hội càng trở nên thiêng liêng, trang trọng. Vào Hội, mọi người được dịp hoà mình vào cộng đồng để tình cảm kết nối bền chặt, gắn bó hơn. Vì thế mà tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng cũng được duy trì, khẳng định.

Con trâu được xem là một con vật linh thiêng bởi vì nó nằm trong mười hai con giáp mà người Việt Nam cũng như người phương Đông dùng để tính tuổi, tính năm. Ngoài ra, con trâu còn được đưa vào nhiều bức tranh của làng tranh Đông Hồ nổi tiếng như bức tranh “Trẻ em cưỡi trâu thổi sáo”. Và con trâu cũng đã được xem là biểu tượng của Seagames 22. Đông Nam Á tổ chức tại Việt Nam. Biểu tượng Trâu Vàng mặc quần áo cầu thủ đón các vận động viên của các nước bạn vào ngày 25/12/2002 là sự tôn vinh con trâu Việt Nam người dân Việt Nam.

Con vật thiêng này cũng là con vật đã in đậm vào kí ức tuổi thơ khi nhớ về làng quê. Nhà thơ Giang Nam đã ghi nhận kí ức tuổi thơ khi nhớ về quê hương:

Ngày nay, có rất nhiều máy móc hiện đại đã xuất hiện khắp nơi trên cánh đồng làng quê Việt Nam nhưng con trâu vẫn là con vật gắn bó thân thiết với người nông dân. Trâu luôn là con vật không thể thiếu ở làng quê Việt Nam – con vật linh thiêng trong sâu thẳm tâm hồn người dân Việt Nam. Con vật thiêng ấy sẽ mãi mãi in đậm trang kí ức của người dân Việt, nhất là những người xa xứ.

Mời bạn đón đọc 🌜 Thuyết Minh Về Con Mèo, Loài Mèo 🌜 15 Bài Văn Hay Nhất

Bài văn thuyết minh về một con trâu đặc sắc sẽ là một trong những tư liệu văn mẫu hay không thể bỏ qua đối với các em học sinh.

Con trâu là đầu cơ nghiệp. Đó là những suy nghĩ và tình cảm của người nông dân dành cho con trâu yêu quý của mình. Con trâu là cánh tay phải của người nông dân. Từ bao đời nay, con trâu đã trở thành quen thuộc và gần gũi với xóm làng, đồng ruộng. Trâu là bạn nhà nông, được người nông dân nâng niu, chăm sóc.

Trâu thuộc lớp thú có vú, nhóm sừng rỗng, bộ guốc chẵn. Trâu Việt Nam có nguồn gốc từ trâu rừng thuần hóa. Lông tơ màu sẫm hoặc đen, thỉnh thoảng có một số ít con màu trắng. Bộ lông tơ ấy dù mọc dày đến đâu chăng nữa thì vẫn bị thưa dần bởi ánh nắng và cái ách cày trên đồng ruộng, để rồi thấp thoáng trong lớp lông ấy là lớp da căng bóng, nhẵn lì.

Thân hình trâu vạm vỡ, chân to và ngắn, bụng to, mông dốc, đầu vú nhỏ, đuôi tựa cái chổi luôn ngoe nguẩy, mắt to và lồi, sừng trâu cong hình lưỡi liềm, cũng có con sừng dài và cong vút. Người ta thường phân biệt trâu lành hay trâu dữ nhờ đôi sừng và cặp mắt. Sừng dài và cong cùng cặp mắt đỏ ngầu ở khóe thì thường là trâu dữ, cần phải có biện pháp thuần phục. Trâu cái thường nặng từ 350 – 400 kg, trâu đực thường nặng từ 400 – 450 kg, có con lên đến 600 – 700 kg.

Trâu ba tuổi đã có thể đẻ lứa đầu, có con đến bốn tuổi mới đẻ được. Trâu đẻ có mùa vụ. Tỷ lệ đẻ hằng năm ở vùng núi là 40 – 45%, ở đồng bằng là 20 – 25%. Một đời trâu cái thường cho 5 – 6 nghé, nghé sơ sinh nặng 20 – 25kg. Đôi răng cửa giữa cố định bắt đầu mọc lúc 3 tuổi, trâu kết thúc sinh trưởng khi hết 6 tuổi. Lúc đó, trâu đã có 8 răng cửa. Đặc điểm nổi bật ở trâu là chỉ có một hàm răng, vì vậy trâu phải nhai lại thức ăn.

Trâu nuôi chủ yếu để kéo cày. Lực kéo trung bình trên ruộng từ 70 – 75kg, bằng 0,36 – 0,40 mã lực. Trâu loại A mỗi ngày cày 3 – 4 sào ruộng, trâu loại B mỗi ngày cày 2 – 3 sào, trâu loại c mỗi ngày cày độ 1,5 – 2 sào. Trâu không những giúp người nông dân kéo cày, kéo xe mà trâu còn cho thịt, cho sữa và cho phân. Trâu có thể cho 400 – 500kg sữa trong một chu kỳ vắt. Trong 24 giờ, trâu 2 răng cửa thải ra 10kg phân, trâu 4 răng cửa thải 12 – 15kg và trâu trưởng thành thải ra 20 – 25kg. Phân trâu là chất dinh dưỡng chủ yếu cho cây trồng.

Trâu thật có ích nên người nông dân luôn coi trâu là gia sản của mình. Chẳng phải nhà nông nói:

Hết mùa vụ trâu được nghỉ ngơi, được con người chăn dắt, được hưởng phút thanh nhàn sau những ngày lam lũ. Người tắm mát cho trâu, máng rơm, máng nước luôn chực sẵn mỗi ngày. Chuồng trại của trâu ngày nay cũng được khang trang, rộng rãi. Không những thế, trâu được người đưa đi dự hội hè, dự hội chọi trâu trong dịp tết đến xuân về.

Trâu là biểu tượng của SEA Games 22 được tổ chức tại Việt Nam. Biểu tượng “trâu vàng” mặc quần áo cầu thủ đón các vận động viên của các nước bạn đến Việt Nam là sự tôn vinh trâu Việt Nam, tôn vinh người nông dân Việt Nam. Trâu Việt Nam thật có ích, thật đáng yêu. Trâu còn là đề tài của thơ ca, nhạc họa:

Ngày nay, đất nước ta đang phát triển ngành trồng lúa, dẫu cho máy cày hay máy kéo hiện đại xuất hiện nhưng con trâu vẫn là con vật thiêng liêng trong sâu thẳm tâm hồn người nông dân Việt Nam.

Giới thiệu cùng bạn 🍀 Thuyết Minh Về Ô Nhiễm Môi Trường, Bảo Vệ Môi Trường 🍀 Các Bài Văn Ấn Tượng

Đến với mỗi làng quê Việt Nam là ta không thể không nhắc đến hình ảnh con trâu là biểu tượng rất gần gũi, thân thiết. Trâu là biểu tượng cho sự cần cù, chăm chỉ, chất phác của con người Việt.

Trâu là động vật nhai lại, thuộc họ bò, nhóm sừng rỗng, bộ guốc chẵn thuộc lớp thú có vú, loại động vật này được dùng phổ biến. Trâu Việt Nam có nguồn gốc từ trâu rừng thuần chủng thuộc nhóm trâu đầm lầy, lông màu đen, thân hình vạm vỡ, bụng to khỏe. Con trâu có cân nặng rất nặng. Nếu trâu cái trung bình từ 350- 450 kg thì linh hoạt và hiền lành thì trâu đực nặng từ 400-450kg có tầm vóc lớn, cân đối, dài đòn trước cao sau thấp. Trâu đực đầu dài và to, trâu cái đầu thanh và dài, da mặt trâu khô, nổi rõ các mạch máu, trán rộng phẳng hoặc hơi gồ.

Mắt trâu to, tròn, lông mi dài, mí mắt mỏng, mũi trâu to, màu đen lúc nào cũng bóng ướt, lỗ mũi to, có thể xỏ dây thừng qua để dắt đi dắt lại cho thuận tiện. Mồm trâu rộng, có răng đều, khít, không sứt mẻ, tai trâu to và phía trong có nhiều lông. Sừng trâu cưng cứng, có những con nghé con thì sừng nhỏ hơn và không cứng bằng trâu mẹ. Cổ trâu dài, ức sâu rộng. Lưng trâu dài, thẳng nhưng lúc nào cũng có con hơi cong. Các xương sườn to, tròn, cong đều. Mông trâu to, mông đốc, rộng, tròn, chắc.

Trâu có bốn chân thẳng, to gân guốc, vững chãi. Bàn chân thẳng, tròn trịa, vừa ngắn vừa to, các móng khít, tròn, đen bóng, chắc chắn. Chân đi không chạm khoeo, không quẹt móng, hai chân sau đi đúng dấu bàn chân trước nhưng hơi chồm về phía trước. Đầu trâu thon, dài chừng 60- 70 cm, phần cuối đuôi có lông dài lúc nào cũng ngoe nguẩy như để đuổi ruồi muỗi. Da trâu mỏng và bóng loáng, lông đen mướt thưa cứng và xát vào da. Trâu 3 tuổi có thể đẻ lứa đầu.

Một đời trâu có thể đẻ từ 5-6 nghé. Nghé sơ sinh nặng khoảng 20- 25 kg. Đôi răng cửa giữa cố định bắt đầu mọc lúc ba tuổi và trâu kết thúc sinh trưởng khi 6 tuổi và có 8 răng cửa. Ở Việt Nam có hai loại trâu chính là trâu rừng và trâu nhà. Trâu rừng là loại mãnh thú, dữ vì nó chưa được thuần hóa. Còn trâu nhà qua sự chăm sóc và thuầ phục nên nó trở nên rấ hiền lành và gắn bó thân thiết với con người. Trâu có ưu điểm hơn bò là khi rời nắng thì con trâu có thể đằm xuống nước để cho mát và đỡ nắng còn bò thì không.

Trâu rất khỏe, siêng năng, cần cù kéo cày giúp người nông dân từ sáng sớm đến tối khuya. Trâu chẳng bề hà trước. Chính vì thế mà người nông dân xưa coi con râu là đầu cơ nghiệp. Bên cạnh đó, thịt trâu được dùng để chế biến các món ăn rất ngon: thịt trâu xào rau muống, thịt trâu gác bếp. Con trâu có vị trí to lớn trong đời sống tinh thần của con người Việt. Người nông dân xưa coi con trâu như là người bạn thân thiết:

Hình ảnh con trâu đi trước, cái cày đi sau đã trở thành hình ảnh gần gũi. Chăn trâu thả diều cũng là thú vui của những chú bé mục đồng. Trâu cũng có khi rời đồng ruộng đi dự lễ hội, hay tục đâm trâu ở Tây Nguyên được tổ chức hàng năm để biểu dương cho sức mạnh của giống vật nuôi này. Con trâu được xem như là con vật linh thiêng bởi nó nằm trong 12 con giáp mà người phương Đông dùng để tính tuổi hay trâu còn gắn bó với kí ức tuổi thơ.

Để trâu có sức khỏe tốt cần có cách nuôi và chăm sóc khoa học. Trâu dễ nuôi, hay ăn chóng lớn. Hằng ngày cho trâu ăn đủ ba bữa, uống nước sạch đầy đủ. Sauk hi đi làm về cho trâu nghỉ ngơi, tắm rửa khoảng 30 phút sau cho trâu uống nước muối rồi mới cho ăn. Trong thời gian làm việc nếu thấy trâu có dấu hiệu mệt, sức khỏe giảm sút thì nên cho trâu nghỉ từ 4-5 ngày, bồi dưỡng bằng cỏ tươi, cám, cháo.Ngày nay có nhiều thiết bị, máy móc hiện đại ra đời, dần thay thế trâu. Nhưng con trâu vẫn mãi là biểu tượng cho người dân và vẫn xuất hiện trong các lễ hội đầu năm. Nhiều người đi xa nhớ về quê hương là nhớ về hình ảnh con trâu.

SCR.VN tặng bạn 💧 Nhận Thẻ Cào 50k Miễn Phí 💧 Kiếm Thẻ Cào Free

Bài văn thuyết minh về con trâu lớp 9 hay nhất sẽ mang đến cho các em học sinh những ý văn đặc sắc để làm bài viết của mình thêm ấn tượng.

Từ xa xưa, trâu đã là người bạn thân thiết, gắn bó với người nông dân. Ông cha ta thường nói: “Con trâu là đầu cơ nghiệp”, đủ hiểu trâu có vị trí như thế nào trong cuộc sống của con người.

Trâu Việt Nam là trâu rừng thuần hóa, thuộc nhóm trâu đầm lầy, phân bố rộng rãi khắp Việt Nam. Từ hàng ngàn năm trước, trâu đã gắn bó với con người cùng với sự ra đời của nền văn minh lúa nước. Người Việt cổ không những biết săn trâu mà còn thuần hóa trâu, lợi dụng sức khỏe của trâu để phụ giúp trong việc đồng áng.

Trâu là động vật thuộc lớp thú có vú. Thân hình của trâu trông vô cùng vạm vỡ. Lông trâu là lông mao, thường có màu đen. Da trâu rất dày và bóng loáng. Hai cái tai như hai cái lá đa, lúc nào cũng ve vẩy để đuổi ruồi, ngoài ra, tai trâu cũng rất thính, giúp trâu nghe ngóng được những tiếng động xung quanh. Mũi trâu ươn ướt, người ta thường luồn sợi dây vào mũi trâu để kéo đi cho dễ. Mắt trâu to tròn như hai hòn bi ve.

Trâu cũng giống như bò, thuộc nhóm động vật nhai lại và chỉ có một hàm răng. Việc trâu chỉ có một hàm răng được người xưa lí giải qua câu chuyện “Trí khôn của ta đây”: vì trâu mải cười con hổ bị người nông dân lừa buộc vào gốc cây nên ngã lăn xuống đất, răng đập vào đã, gãy mất một hàm. Đuôi trâu ngắn, có một túm lông ở cuối. Hai cái sừng trên đầu uốn cong hình lưỡi liềm, giúp trâu tự vệ chống lại sự tấn công của kẻ thù. Trâu mỗi năm chỉ đẻ từ 1-2 lứa, mỗi lứa một con. Trâu con mới sinh ra gọi là nghé.

Trâu có vị trí quan trọng trong cuộc sống của con người. Ngày trước chưa có máy cày, trâu thường phải làm việc nặng nhọc: “Con trâu đi trước, cái cày theo sau”. Trâu thức dậy từ sáng sớm tinh mơ khi chú gà trống báo thức, cùng người nông dân ra đồng làm việc. Trâu chăm chỉ, cần mẫn cày hết thửa ruộng này đến thửa ruộng khác, bất kể là sáng hay tối, nóng nực hay giá rét. Nhờ có trâu, người nông dân mới có thể thu được một mùa màng bội thu.

Đến ngày gặt, trâu lại chở lúa từ ruộng về nhà. Tuy công việc vất cả là vậy nhưng thức ăn của trâu rất giản dị, chỉ là cỏ hoặc rơm. Trâu thường được nuôi để lấy sức kéo, ở miền núi, ngoài công việc đồng ruộng, trâu còn chở hàng hoặc kéo xe, giúp con người vượt qua những con đường trắc trở, những ngọn núi xa xôi. Vì thế, trâu chở thành một gia sản quan trọng của người nông dân. Chẳng phải ca dao đã từng nói: “ Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà/ Trong ba việc ấy, thật khó lắm thay”.

Thịt trâu cũng là một loại thức ăn giàu dinh dưỡng vì có hàm lượng đạm khá cao, chất béo thấp. Sừng trâu dùng làm đồ mĩ nghệ, da trâu làm mặt trống, giày. Không chỉ trong đời sống vật chất, trâu còn gắn bó trong đời sống tinh thần của người dân Việt Nam. Trâu trở thành hình ảnh tượng trưng cho người nông dân hiền lành, chăm chỉ, chịu khó.

Ở nước ta hàng năm thường tổ chức lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn. Những chú trâu tham dự cuộc thi thường là những chú trâu to nhất, khỏe nhất, được chủ chăm sóc hết sức kĩ càng. Mỗi chú trâu phải chiến đấu với biết bao với đối thủ khác để đem lại vinh quang cho bản thân cũng như vinh dự cho chủ trâu. Ngoài chọi trâu ở Đồ Sơn, chúng ta còn có lễ hội đâm trâu ở Tây Nguyên. Tuổi thơ của mỗi người cũng đâu thể thiếu hình ảnh con trâu dưới lũy tre làng – những chú trâu góp phần làm nên nét bình yên của làng quê. Nhà thơ Giang Nam từng viết trong bài thơ “Quê hương”:

Nhớ làm sao những buổi chăn trâu trên cánh đồng, cánh diều no gió vút cao trên trời xanh. Nhớ những ngày hè nóng nực, người và trâu cùng hòa mình trong dòng nước mát. Nhớ tiếng thổi sáo của cậu bé mục đồng khi dắt trâu về nhà lúc chiều tối. Trâu không chỉ đi vào ca dao, văn thơ mà còn là biểu tượng của SEAGAMES 22 được tổ chức tại Việt Nam, là hình ảnh tượng trưng cho con người Việt Nam chất phác, hiền lành, đôn hậu. Để chú trâu được khỏe mạnh, người nông dân cần chú ý làm chuồng cho trâu, ấm vào mùa đông, mát về mùa hè, thường xuyên vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, tiêm vắc-xin phòng ngừa các loại bệnh cho trâu.

Ngày nay, cuộc sống đổi mới, nhiều máy móc hiện đại thay thế cho sức kéo của trâu. Tuy vậy, trâu vẫn là một báu vật quý giá với người nông dân. Mỗi khi nhìn thấy hình ảnh chú trâu trên cánh đồng bao la bát ngát, chúng ta sẽ bất giác nghĩ tới quê hương đầy thanh bình, yêu dấu.

Khám phá thêm 🍀 Thuyết Minh Về Ngôi Nhà Của Em 🍀 15 Bài Văn Mẫu Hay Nhất

Bài văn thuyết minh về con trâu lớp 9 ngắn gọn nhất sẽ giúp các em học sinh nhanh chóng ôn tập và chuẩn bị cho bài kiểm tra trên lớp.

Từ biết bao đời nay, hình ảnh con trâu kéo cày đã trở nên quá quen thuộc đối với mỗi chúng ta. Đặc biệt hơn nữa, con trâu được xem là con vật thiết yếu của người nông dân trong việc đồng áng, cày bừa. Ngày xưa, nhà nào có một con trâu được xem là giàu có, bởi lẽ “con trâu là đầu cơ nghiệp”, có trâu tức là có ruộng đất. Và chính vì thế cho nên việc tậu trâu cũng được xem là một trong ba việc lớn trong đời của người đàn ông.

Trâu đã xuất hiện từ lâu trong những làng quê Việt Nam. Về nguồn gốc xuất xứ của trâu tại Việt Nam thì hiện có rất nhiều tài liệu khác nhau, tuy nhiên đa phần các tài liệu đều cho rằng, trâu ở Việt Nam có nguồn gốc từ trâu rừng thuần hóa, thuộc giống trâu đầm lầy. Trâu là động vật nhai lại, thuộc họ Bò, có bộ Guốc chẵn và thuộc nhóm sừng rỗng. Loài trâu có đặc tính hiền lành và có phần chậm chạp. Mỗi con trâu trưởng thành có trọng lượng trung bình từ 200kg đến 500kg. Trâu không có hàm răng trên và có sức khỏe khá tốt, khá bền. Chính vì vậy mà trâu được dùng để kéo cày, chở củi hay chở lúa ngô vào mùa thu hoạch.

Không chỉ cung cấp sức kéo cho con người, trâu còn là một trong những nguồn thực phẩm tốt của con người. Thịt trâu có giá trị dinh dưỡng, bởi có chứa hàm lượng đạm cao gấp đôi so với thịt lợn, trong khi đó hàm lượng chất béo lại rất thấp. Chất đạm và chất béo có nhiều hơn cả trong sữa trâu. Người ta thường dùng da trâu để làm mặt trống, làm giày. Còn sừng trâu thì làm các đồ mĩ nghệ như lược, tù và…

Đối với người nông dân, trâu là một người bạn thân thiết. Từ kéo cày, kéo phân, chở hoa màu…đều do trâu đảm nhiệm. Trong khi đó, thức ăn của trâu rất giản dị. Cỏ là thức ăn chủ yếu và ngoài ra còn có cám, cây chuối thái nhỏ, rơm, rạ… Trong kí ức tuổi thơ của những đứa trẻ mục đồng thì con trâu cũng là một người bạn hết sức thân thiết. Hình ảnh những đứa trẻ hồn nhiên ngồi trên lưng trâu thổi sáo, thả diều, chơi cờ lau đã góp phần làm nên một vẻ đẹp bình dị và mộc mạc của những làng quê Việt Nam.

Không chỉ gắn bó với đời sống hiện thực của con người, con trâu còn gắn liền với với đời sống tinh thần của người dân Việt. Trâu là một trong 12 con giáp và gắn liền với tuổi tác của nhiều người. Ở nhiều nơi, trâu còn là con vật dùng để tế lễ thần linh trong ngày lễ hội như lễ hội xuống đồng, lễ hội cơm mới… Không những thế, những chú trâu còn tham gia vào các hoạt động văn hóa thể thao. Hội chọi trâu ở Đồ Sơn – Hải Phòng là một lê hội lớn, hàng năm thu hút rất nhiều người tham gia. Trong SEA Games 22, chúng ta cũng dùng đến hình ảnh chú trâu vàng để biểu tượng cho sự trung thực, cho sức mạnh và tinh thần thượng võ của con người Việt Nam.

Ngày nay, việc làm đồng áng và kéo chở hoa màu người ta dùng đến các loại máy móc hiện đại hơn. Tuy vậy, con trâu vẫn là người bạn thân thiết bao đời nay với người nông dân. Hình ảnh những chú trâu cần cù, chăm chỉ làm việc dưới lũy tre làng vẫn mãi in đậm trong kí ức của mỗi người dân Việt Nam.

Giới thiệu tuyển tập ☔ Tả Một Con Vật Em Chợt Gặp Trên Đường ☔ 15 Bài Văn Hay

Tham khảo bài văn lớp 9 thuyết minh về con trâu ngắn nhất với cách viết hàm súc và giàu ý nghĩa biểu đạt.

Nhắc đến hình ảnh làng quê Việt Nam thì chắc hẳn mỗi người đều có trong mình một hình dung. Đó có thể là một không gian thoáng đãng, thanh bình, yên ả với những cánh đồng xanh ngát trải đến tận chân trời, với dòng sông hiền hòa trở nặng phù sa, với mái đình rêu phong cổ kính. Và ở bất cứ nơi đâu ta cũng bắt gặp hình ảnh con trâu khi thì cần mẫn cày ruộng, khi thì thong thả nhai rơm. Hình ảnh đó đã trở nên quen thuộc và gần gũi với bao thế hệ người Việt.

Trâu Việt Nam có nguồn gốc từ trâu rừng, thuộc nhóm trâu đầm lầy nhưng trải qua quá trình thuần hóa mà trở thành như hiện tại. Trâu được phân bố khắp đất nước và đã trở thành người bạn đồng hành cùng dân tộc ta. Nó có thân hình thấp, ngắn và vạm vỡ, khỏe mạnh. Trâu thường có màu đen với vạch loang dưới cổ họng và phía trên ngực.

Da trâu dày, thô ráp với lớp lông cứng và khá mỏng được phủ lên toàn thân. Đầu của con trâu to, ngắn với đôi sừng màu đen, nhọn và cong về phía sau. Đôi tai trâu rất to, phải bằng hai bàn tay người lớn chụm lại. Trâu có cái bụng to tròn và cái lưng rộng hơi dốc về phía sau để làm chỗ ngồi lí tưởng cho con người. Ngoại hình như vậy rất phù hợp với việc kéo cày.

Được ba tuổi là trâu có thể đẻ lứa đầu. Trâu đẻ cũng có mùa vụ, mỗi năm chỉ đẻ từ một đến hai lứa. Một con trâu cái thường sinh từ năm đến sáu con nghé và nghe sơ sinh thì nặng khoảng từ 20 đến 25 kg. Trâu được phân theo giống đực và giống cái. Chúng thì khác nhau cơ bản về sức khỏe và ngoại hình.

Từ thưở xa xưa ông cha ta đã biết sử dụng trâu như một công cụ lao động hữu ích. Trâu được sủ dụng để kéo cày, để tiết kiệm thời gian và sức lao động cho người nông dân. Mỗi ngày trâu đực thường cày được khoảng từ ba đến bốn sào còn trâu cái là từ hai đến ba sào. Bên cạnh đó trâu còn được dùng để kéo xe với trọng lượng từ 400kg đến một tấn tùy thuộc vào loại xe và loại đường. Mùa màng có bội thu và đúng thời vụ hay không một phần là nhờ vào việc cày bừa của trâu Sức trâu rất bền, làm việc được trong một thời gian khá lâu mà không phải nghỉ ngơi nhiều.

Trâu còn có khả năng cung cấp thịt. Thịt trâu có chứa hàm lượng đạm cao mà chất béo lại thấp, ăn rất thơm và ngậy. Với giá thành dao động từ 200.000vdn đến 300.000 vnd thì trâu đã đem lại nguồn lợi kinh tế khá ổn định cho người nông dân, giúp họ cải thiện đời sống. Người ta cũng thường thu được lợi ích kinh tế từ sữa trâu. Mỗi chu kì vắt thì thường thu được từ 400 đến 500kg sữa. Da trâu rất dày nên thường được dùng làm trống. Còn sừng trâu được mài giũa trở thành đồ mĩ nghệ, trang trí cho nhà cửa rất đẹp và sang trọng.

Không biết tự bao giờ con trâu đã trở thành biểu tượng của làng cảnh Việt Nam và làm bạn với tất cả mọi người. Từ những đứa bé thì tuổi thơ của chúng cũng gắn bó với trâu, trở thành người bạn thân thiết. Mỗi buổi chiều khi gió thổi mát rượi, khi mặt trời đã lặn dần về phía lũy tre làng cũng là lúc bọn trẻ đồng quê dắt trâu ra đồng cho chúng ăn cỏ. Trên lưng trâu, chúng cùng cất lên tiếng hát trong trẻo, ngây thơ; cùng bắt đầu với những nét vẽ đầu đời khi coi lưng trâu là bảng. Không những vậy, chúng còn hò reo vui vẻ thả diều trên lưng trâu. Con diều bay cao cao mãi trên bầu trời đã mang theo bao nguyện ước ngày xanh.

Con trâu còn là biểu tượng đẹp cho phẩm chất và tính cách của người Việt Nam. Là một trong 12 con giáp, con trâu là hình ảnh của những con người chịu thương, chịu khó, cần cù và chăm chỉ làm việc. Không chỉ vậy, đó còn là những người hiền lành có nhẫn nại. Trâu đã trở thành một phần đời sống tinh thần của người Việt. Con trâu gắn liền với những lễ hội nổi tiếng như lễ hội chọi trâu đầy kịch tính ở Đồ Sơn- Hải Phòng hay lễ hội đâm trâu của một số dân tộc ở Tây Nguyên. Con trâu Việt Nam cũng là đề tài, là nguồn cảm hứng sáng tác cho nhiều tác giả từ bài ca dao “ Trâu ơi ta bảo trâu này” hay trong bài thơ “ quê hương” của Giang Nam.

Những năm gần đây con trâu còn vượt khỏi lũy tre xanh, trở thành biểu tượng của SEAGAMES 22 được tổ chức tại Việt Nam. Ngày nay tuy có nhiều phương tiện lao động hiện đại nhưng con trâu vẫn luôn có một vị trí quan trọng trong đời sống, làm bạn cùng dân tộc ta đến muôn đời.

Đừng bỏ lỡ cơ hội 🍀 Nhận Thẻ Cào 100k Miễn Phí 🍀 Card Viettel Mobifone

Bài văn thuyết minh về con trâu lớp 9 tự thuật sẽ là một trong những cách viết mới lạ và độc đáo để các em học sinh tham khảo.

Trong thế giới động vật rất đa dạng và phong phú, góp phần thiết thực cho cuộc sống con người. Loài nào cũng có lợi ích riêng. Trong đó, tôi – loài trâu, cũng rất gần gũi với người nông dân, gắn liền với hình ảnh nông thôn Việt Nam.

Mọi người thường gọi tôi là trâu nhưng ít ai biết rằng tôi là động vật thuộc họ Bò, phân bộ Nhai lại, nhóm Sừng rỗng, bộ Guốc chẵn, lớp Thú có vú. Ông tổ của chúng tôi có nguồn gốc từ những cánh rừng xa thuộc nhóm trâu đầm lầy và được con người đem về thuần hóa trở thành những con trâu quen thuộc của làng quê Việt Nam.

Họ hàng nhà trâu chúng tôi thường có lông màu xám hoặc màu xám đen. Trời cho nòi giống chúng tôi thân hình vạm vỡ, cơ bắp, chắc khỏe. Chúng tôi có bụng to, mông lại dốc. Tuy vậy chân chúng tôi thấp, ngắn càng làm tăng vẻ oai vệ. Chúng tôi thật tự hào với cặp sừng hình lưỡi liềm cứng và đẹp. Loài trâu đực chúng tôi, có cân nặng từ 400kg đến 450kg, cũng có thể lên đến từ 305kg đến 700kg. Còn loài trâu cái nặng trung bình 305kg đến 400 hoặc 300kg đến 600kg.

Đến 3 tuổi chúng tôi đã có thể đẻ lứa đầu. Trâu đẻ theo mùa. Trong một cuộc đời, trâu cái thường cho từ 6 đến 6 trâu con, mỗi chú cân nặng trung bình từ 22 đến 25kg. Ba tuổi cũng là lúc chúng tôi bắt đầu mọc đôi răng cửa giữa cố định. Chúng tôi kết thúc sinh trưởng khi đạt 6 tuổi, hay đã mọc đủ 8 răng cửa.

Đối với người nông dân thì “con trâu là đầu cơ nghiệp”, bởi chúng tôi có sức khỏe vô địch. Sự có mặt chúng tôi trên ruộng đồng chủ yếu để kéo cày. Về quê khi vào mùa, chắc chắn ai cũng sẽ thấy hình ảnh “con trâu đi trước cái cày theo sau”. Tôi thật may mắn khi được ông trời ban cho thân hình vạm vỡ và một sức khỏe phi thường. Lực kéo trung bình của chúng tôi trên ruộng vào khoảng từ 70 đến 75kg, tương đương từ 0,36 đến 0,6 mã lực. Một con trâu khỏe một ngày có thể cày được 3 đến tận 4 sào, trâu trung bình từ 2 đến 3 sào và trâu yếu là từ 1,5 đến 2 sào Bắc Bộ.

Mùa cày đi qua, người nông dân còn dùng chúng tôi để kéo xe. Xe của chúng tôi đặc biệt ở chỗ có thể đi trên ruộng, lẫn trên đường. Trên một con đường xấu nhiều ổ gà, chúng tôi có thể kéo một chiếc xe có tải trọng lên đến 500kg. Đường xấu đã như vậy, đường tốt khả năng của chúng tôi còn cao hơn, có thể lên tới từ 700 đến 800kg. Không những vậy, trên đường nhựa với bánh xe tải khối lượng ấy có thể lên đến hơn 1 tấn. Về nông thôn miền Trung, người ta còn bắt gặp những chú trâu như tôi kéo cây, kéo mía. Kéo xe đã tốt,kéo gỗ còn tốt hơn. Chúng tôi có thể kéo xe chưa từ 0,5 đến 1,3m3 gỗ và đi với một đoạn đường dài, lên đến 5 cây số.

Nòi trâu chúng tôi không chỉ góp phần nâng cao đời sống vật chất cho người nông dân mà còn phục vụ cho đời sống tinh thần của người dân Việt Nam. Tại Đồ Sơn, Hải Phòng hằng năm tổ chức lễ hội chọi trâu. Nhân dân nơi đây có câu hát:

Mỗi đội tham gia cố gắng tìm cho đội mình chú trâu to khỏe nhất. Con trâu vô địch sẽ được rước về đình để tế thần. Tất cả những con trâu tham gia cuộc thi dù thắng hay thua đều bị xẻ thịt để phân phát cho dân làng đây và cho rằng ăn thịt trâu chiến thắng sẽ có được may mắn, nhất là với những người đi biển. Tất cả đã thể hiện bản sắc văn hóa của dân tộc, một dân tộc có nền văn minh lúa nước. Rồi SEA GAMES 22 tổ chức tại Việt Nam đã chọn linh vật là chú trâu vàng, tượng trưng cho một dân tộc mạnh khỏe, siêng năng, chăm chỉ, cần cù.

Trâu chúng tôi còn gắn liền với kỷ niệm tuổi thơ của trẻ em ở làng quê:

Sau nhiều giờ hoạt động mệt nhọc, tôi được những chú bé mục đồng dắt ra đồng cho ăn cỏ, tắm mát.

Nhà thơ Giang Nam đã ghi nhận kí ức tuổi thơ khi nhớ về quê hương:

Những cậu bé chăn trâu thường hay tụ tập bày ra nhiều trò chơi, chiều tối các cậu cưỡi tôi về, ngồi trên lưng tôi đủng đỉnh, tay cầm lá chuối, lá khoai, tay cầm tiêu, ống sáo thổi vi vu. Hình ảnh này đã in dấu đậm trong tâm trí của người dân Việt Nam, tiêu biểu là làng tranh Đông Hồ đã tái hiện lại hình ảnh ngày bằng những bức tranh hết sức sống động và đẹp đẽ

Biết bao thế kỉ trôi qua có lẽ từ khi nền văn minh lúa nước của người Việt khởi nguồn thì con trâu cũng trở thành báu vật của người nông dân từ đó. Ngày nay dẫu máy cày kéo đã thay sức trâu rất nhiều nhưng nó vẫn mãi là vật yêu, vật thiêng trong sâu thẳm tâm hồn người dân Việt Nam.

Chia sẻ cùng bạn 🌹 Thuyết Minh Về Một Loài Cây Cối Em Yêu 🌹 15 Mẫu Hay Nhất

Trong tất cả các loài động vật, có thể nói chúng tôi là loài vật có ích nhất trong việc đồng áng, chúng tôi là “đầu cơ nghiệp” là biểu tượng của sự cần cù, chăm chỉ. Các bạn có biết tôi là ai không? Xin thưa, tôi là trâu đây – con trâu ở làng quê Việt Nam.

Tuy gọi là trâu nhưng tổ tiên tôi lại thuộc họ bò, sừng rỗng, thuộc bộ nhai lại, lớp thú có vú. Riêng tôi, tôi thuộc nhóm trâu Việt Nam, loài trâu rừng thuần hóa, thuộc nhóm trâu đầm lầy. Trâu cái nặng trung bình từ 350 – 400kg. Còn trâu đực thì khoảng 400 – 450kg.

Tôi có khuôn mặt tựa như hình thang ngược. Đôi mắt tôi to tròn, hiền dịu, mi mỏng. Mũi tôi lúc nào cũng ươn ướt như người bị sổ mũi. Cặp sừng hình lưỡi liềm tạo cho tôi một phong cách rất oai vệ. Tôi được tạo hóa khoác lên người một bộ lông màu xám hay màu xám đen. Thân hình tôi lực lưỡng, vạm vỡ để thích hợp với các công việc nặng nhọc. Tuy vậy nhưng tôi lại sở hữu một chiều cao có đôi chút khiêm tốn. Bụng thì không nhỏ chút nào, mông dốc, đầu vú nhỏ.

Người nông dân nuôi tôi chủ yếu để cày ruộng, kéo cày. Từ sáng sớm, lúc bạn gà vừa cất tiếng gáy, tôi đã theo các bác nông dân ra đồng. Tôi làm việc rất chăm chỉ. Trời nắng tôi cũng làm, trời mưa tôi cũng làm, không ngại khó khăn, gian khổ. Trâu tôi một ngày trung bình có thể cày từ 3 – 4 sào đất. Nhưng ở Tây Nguyên, tôi lại được nuôi chủ yếu để kéo gỗ, có thể từ 0,5 – 1,3m3 với đoạn đường từ 3 – 5km.

Trâu tôi không chỉ xuất hiện với việc đồng áng, mà tôi còn xuất hiện ở các lễ hội vì thế trong dân gian đã có câu ca dao:

Tôi xuất hiện ở lễ hội chọi trâu Đồ Sơn (Hải Phòng). Ở lễ hội này dù thắng hay thua, tôi vẫn bị xẻ thịt để chia cho mọi người gọi là lộc. Tôi còn là biểu tượng của SEAGAMES 22 Việt Nam vừa rồi đó các bạn ạ.

Không chỉ có hai hình ảnh thân quen trên, mà tôi còn xuất hiện với hình ảnh là người bạn đối với tuổi thơ nông thôn. Chiều chiều, sau mỗi ngày làm việc chăm chỉ ở ngoài đồng, tôi được các cậu bé dắt đi ăn cỏ, uống nước, tắm táp. Các cậu còn dắt tôi đi thả diều, các cậu ngồi chễm chệ trên lưng tôi. Dùng lưng tôi làm chỗ ngồi học bài, thổi sáo. Tiếng sáo của các cậu đã tạo nên bức tranh sống động thật thanh bình ở nông thôn.

Nói đến sức khỏe của loài trâu chúng tôi, dân gian hay có câu nói “khỏe như trâu” nhưng đôi lúc tôi cũng cần được dưỡng sức. Nếu không được chăm sóc kĩ lưỡng, tôi rất dễ mắc bệnh. Mỗi ngày, cứ 2 tiếng làm việc là phải cho tôi nghỉ 15 phút. Sau một tuần làm việc là phải cho tôi nghỉ xả hơi 1 ngày. Không nên cho tôi làm việc liên tục.

Sức trâu có hạn mà. Vào mùa hè, các bạn phải giữ chuồng trại của tôi sạch sẽ, thoáng mát, để muỗi không đốt tôi. Còn vào mùa đông, các bạn phải giữ ấm cho tôi bằng cách cho thêm rơm vào chỗ tôi nằm nếu không tôi bị cảm thì khốn.

Ngày nay, với đà công nghiệp ngày một phát triển hơn, nhiều loại máy móc được ra đời dần thay thế công việc của trâu tôi. Nhưng tôi mãi gắn bó với đời sống nông thôn dân dã, vẫn mãi là bạn của tuổi thơ nông thôn và của người nông dân Việt Nam.

Đọc nhiều hơn dành cho bạn ☀️ Thuyết Minh Về Một Loài Hoa Mà Em Yêu Thích ☀️ 15 Bài Hay Nhất

Thuyết Minh Về Cây Lúa – Loại Cây Lương Thực Chủ Yếu Ở Nước Ta

Cây lúa là một trong năm loại cây lương thực chủ yếu của thế giới. Bên cạnh đó cây lúa cũng rất thân thuộc với bao thế hệ người Việt Nam, khi mà từ bắc chí nam nơi đâu cũng có những cánh đồng lúa xanh bát ngát, đúng như câu ca dao:

Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn

Cây lúa đã đi vào lòng người Việt Nam bằng chính những câu ca dao như thế đó, giản dị và gần gũi nhưng lại không kém phần tự hào khi mà Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu lúa gạo lớn nhất thế giới.

1/ Đặc điểm của cây lúa:

Cây lúa có chiều cao từ 1m-1,8m, với các phiến lá mỏng, hẹp khoảng 2-2,5cm và dài 50-100cm. Màu sắc của cây lúa tùy thuộc vào thời kì tăng trưởng và phát triển, khi mới gieo trồng thì có màu xanh, đến khi chin và thu hoạch thì lúa ngả sang màu vàng, tính thời điểm gieo hạt đến lúc thu hoạch thì mất khoảng 90-180 ngày tùy theo các giống lúa.

2/ Gieo trồng cây lúa như thế nào là đúng?

Với kinh nghiệm hàng ngàn năm trồng lúa thì ông cha ta đã đúc kết được những kinh nghiệm quý báu, mà muốn được một vụ mùa bội thu chúng ta không thể bỏ qua đó là “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”.

Nhất nước: đó là điều hiển nhiên bởi vì không có một loại cây trồng nào sống mà không cần đến nước cả, đặc biệt là cây lúa, bởi vì cây lúa sống trong những đồng ruộng ngập nước cho nên để cây lúa phát triển tốt nhất thì khi gieo trồng cần phải chú ý đến mực nước trong ruộng.

Nhì phân: phân bón cũng là một trong những yếu tố quan trọng giúp cho cây lúa phát triển tốt hơn, tuy nhiên cũng phải bón đúng giai đoạn và đúng loại phân thì cây lúa mới hấp thu tốt được.

Tam cần: cần cù là một trong những đức tính làm nên một vụ mùa bội thu, người nông dân phải dậy từ rất sớm trải qua “một nắng, hai sương” suốt 3-6 tháng thì mới có thể thu hoạch được những hạt lúa tròn đều và chắc mẫm, tạo ra những hạt gạo đầy dinh dưỡng và thơm ngon.

Tứ giống: và điều quan trọng cuối cùng đó là giống, phải chọn được giống lúa tốt thì mới có thể cho được năng suất tốt.

Gieo trồng cây lúa không lúa không phải là chuyện dễ dàng, một năm nước ta trồng từ 2-3 vụ lúa tùy theo khu vực, việc gieo trồng lúa trải qua 3 giai đoạn chính:

Giai đoạn ươm hạt và cấy mạ: trước khi được gieo xuống đất hạt lúa phải được ngâm trong nước khoảng 72h và cứ mỗi 24h là thay nước một lần, sau đó được đãi sạch vỏ và được ủ thêm 20-30h nữa trước khi được gieo xuống đất. Giai đoạn mạ sẽ kéo dài trong 40-60 ngày tùy theo vụ mùa, khi đó người nông dân phải ra đồng cấy lại mạ cho thẳng và đều hàng để cây lúa có không gian phát triển tốt hơn.

Giai đoạn tăng trưởng và phát triển: đây cũng là giai đoạn vất vả nhất trong việc trồng lúa, lúc này người nông dân phải ra đồng làm lúa, chăm lo lượng nước trong ruộng, đồng thời phải bón phân, làm sạch cỏ dại và dọn những ổ sâu, chuột hại lúa nhằm tạo điều kiện cho cây lúa phát triển tốt hơn.

Giai đoạn gặt: đây là giai đoạn được mong chờ nhất trong suốt vụ mùa nhưng cũng không kém phần vất vả, khi những cánh đồng lúa lúa đã ngả sang màu vàng và các bông lúa đã trĩu nặng hạt, thì từng tốp người nông dân lại hăng hái ra đồng gặt lúa, và cũng phải gặt nhanh vì nếu lúa chín quá thì hạt lúa sẽ rụng xuống đất đấy.

Lúa sau khi gặt xong sẽ được bó lại từng bó và cho vào máy tuốt lúa và xay ra những hạt gạo trắng ngần. Đồng thời các bác nông dân cũng phải ra đồng cày bừa cho đất bằng phẳng để chuẩn bị cho vụ tiếp theo.

3/ Vai trò của cây lúa:

Tuy chăm sóc cây lúa vất vả như vậy nhưng cây lúa lại mang đến cho chúng ta rất nhiều công dụng.

Lúa nước thì được sử dụng vào những bữa cơm hằng ngày, hoặc được xay ra thành bột để làm các loại bánh như bánh xèo, bánh bèo, bánh chuối. Lúa nếp thì được sử dụng cho các loại bánh truyền thống như bánh chưng, bánh tét, bánh ú, và được xay ra để là các loại bánh khác như bánh dày, bánh ít.

Lúa non thì được sử dụng để làm cốm.

Ngay cả thân cây lúa sau khi được lấy hạt thì cũng có công dụng rất hiệu quả, rơm thường được phơi khô để dự trữ hoặc là nhóm lửa, làm thức ăn cho gia súc, và có thể được dùng làm ổ cho gia súc gia cầm.Ngày nay, chúng ta lại còn phải triển thêm những sản phẩm thủ công mỹ nghệ có giá trị kinh tế.

Cây lúa đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống của mỗi dân Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung, vừa là nguồn lương thực chủ yếu hàng ngày vừa góp mặt ở những món bánh truyền thống. Nhiều công dụng là thế tuy nhiên chăm sóc cây lúa là một chuyện không hề dễ dàng vì thế chúng ta nên trân trọng từng hạt lúa hạt gạo vì đó là biết bao mồ hôi và công sức của người nông dân.

Bài Liên Quan:

Điều hướng bài viết

Văn Mẫu Lớp 8: Thuyết Minh Về Chiếc Cặp Sách 6 Dàn Ý & 18 Bài Văn Thuyết Minh Lớp 8

Dàn ý thuyết minh về chiếc cặp sách (6 mẫu)

Thuyết minh về chiếc cặp sách của em

Thuyết minh về chiếc cặp sách ngắn gọn (6 mẫu)

Thuyết minh về chiếc cặp sách đầy đủ (10 mẫu)

Thuyết minh chiếc cặp sách học sinh

I. MỞ BÀI

Dẫn dắt và giới thiệu đến đối tượng mà đề bài yêu cầu: Chiếc cặp sách.

Những ngày tháng đến trường, tôi có sách vở làm bạn, có những vật dụng thân thương gắn bó. Bên cạnh ấy, có một người bạn thân thiết mỗi ngày đều giúp tôi mang theo sách vở, đó chính là chiếc cặp sách.

II. THÂN BÀI

Nguồn gốc, xuất xứ

Nếu nói chính xác chiếc cặp có từ bao giờ thì nó đã có xa xưa, từ rất lâu rồi. Nhưng khi ấy, con người ta làm cặp rất đơn giản, chỉ là một tấm vải lớn, để sách bên trọng mà buộc lại hai đầu đối diện nhau rồi đeo lên một bên vai. Hay sau này cặp sách là dạng hình hộp chữ nhật dọc, làm từ gỗ, tre nứa đan vào… Các sĩ tử đi thi thời xưa hay dùng những chiếc cặp sách đặc biệt như thế đấy.

Còn nếu nói đến chiếc cặp có hình dáng gần nhất so với những chiếc cặp thời nay thì chính là vào năm 1988. Chiếc cặp đầu tiên mang phong cách cổ điển đã ra đời vào thời gian này tại nước Mĩ. Từ đó, loại cặp này được sản xuất với số lượng lớn, sử dụng rộng rãi tại Mĩ và rồi lan rộng ra cả thế giới.

Đặc điểm

Hình dáng: Các loại cặp hiện nay chúng ta dùng thường có hình chữ nhật, hình thang cân hoặc là một nửa hình tròn ghép lại với một hình chữ nhật và hình vuông. → Có thể nói, hiện nay hình dáng của cặp sách khá đa dạng, để người đọc tự do chọn lựa.

Kích thước: Tuỳ theo mong muốn của người dùng mà cũng có nhiều kích thước khác nhau sao cho phù hợp.

Màu sắc: Thường có màu đen đối với cặp của học sinh cấp 2 đổ lên. Với cặp của học sinh tiểu học thì sẽ có màu sắc đa dạng hơn.

Chất liệu: Chủ yếu là được làm từ vải nilon hoặc cotton nên rất bền chắc. Có một số loại cặp được làm từ da thú, vải mềm hay polime dẻo… đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng.

Cấu tạo

Khung cặp: Đa số hiện nay, các loại cặp đều có khung cố định, chỉ trừ balo mà thôi. Thường thì khung cặp là yếu tố hình thành nên hình dáng của cặp. Khung hình chữ nhật thì cặp sẽ có hình chữ nhật, khung hình thang thì cặp sẽ có khung hình thang…

Quai cặp: Có 2 loại, gồm quai cặp để xách và quai để đeo. Quai cặp để đeo thường khá dài, dày và bên trong có bông để khi đeo lên vai không bị đau, ở phía sau cặp. Hai quai sẽ đối xứng với nhau ở hai bên. Ngoài ra, ta còn có thể chỉnh độ dài của quai đeo sao cho vừa với người. Còn quai để xách thì thường ở ngay phía trên cặp, được bọc bằng da mềm. Hiện nay, cặp sách đều đồng thời có 2 loại quai để người dùng linh hoạt sử dụng.

Khoá cặp: Thường được làm bằng nhựa, kim loại và ở phần ngoài cặp. Một số cặp như cặp tài liệu thì sẽ là khoá có số để có thể bảo mật.

Mặt trước, mặt sau: Tuỳ theo loại cặp mà mặt trước mặt sau sẽ có màu sắc, hình ảnh khác nhau. Cặp của học sinh tiểu học thường có màu sáng, mặt trước sẽ có những hình đáng yêu ngộ nghĩnh, của con trai là siêu nhân, con gái là công chúa… Còn cặp khác thì mặt trước sẽ có logo nhà sản xuất, mặt sau thường không có gì cả…

Ngăn cặp: Thường thì sẽ có từ 2 đến 6 ngăn to nhỏ khác nhau tuỳ theo loại cặp ra sao. Sẽ luôn có một ngăn lớn nhất để đựng sách, ngoài ra còn có các ngăn nhỏ hơn để đựng hộp bút hay quyển lịch, bùa bình an, khe để bút… Các ngăn cặp được đóng mở lại bởi dây kéo hoặc là khoá.

Phân loại

Cặp sách cấp 1: Đây là kiểu cặp sách hình chữ nhật, có khá nhiều màu sắc khác nhau, được trang trí đáng yêu và ngộ nghĩnh. Kiểu cặp này thường có quai đeo ở hai vai giúp học sinh đeo lên để không phải xách nặng. Một số cặp còn thiết kế thêm tay kéo với bánh xe, trông vô cùng thời thượng.

Cặp sách cấp 2, cấp 3: Loại cặp này được thiết kế chủ yếu là màu đen, có tay cầm và dây cặp đeo chéo người. Cặp có nhiều ngăn để có thể để được nhiều đồ sao cho gọn gàng ngăn nắp.

Balo: Loại cặp này không có khung, đa phần làm từ vải mềm, chỉ có 1 ngăn lớn duy nhất để sách cùng 1 ngăn bé để những vật dụng khác. Ngoài việc dùng để đựng sách, có thể đựng quần áo cùng rất nhiều thứ khác.

Cặp táp: Loại cặp này thường được dùng cho người lớn, để đựng tài liệu, đặc biệt là người làm công sở, văn phòng. Loại cặp này nhỏ gọn, dễ mang, lại có thêm ổ khoá số bảo mật nên được ưa dùng.

Công dụng

Trước hết, đây là đồ dùng để ta đựng sách vở, hộp bút, dụng cụ học tập và nhiều thứ khác mỗi khi đến trường. Nhờ vậy mà ta có thể mang được nhiều thứ thật dễ dàng. Nhiều loại cặp hiện nay có tác dụng chống nước giúp ta đi mưa mà không lo bị ướt sách bên trong.

Không chỉ vậy, cặp sách còn góp phần tăng thêm vẻ đẹp cho người dùng nhờ những kiểu mã, cách đeo của nó. Học sinh cấp 1 thêm phần nhí nhảnh đáng yêu khi đeo những chiếc cặp quai đầy sắc màu và hình ảnh vui nhộn. Sinh viên đại học trông thật năng động trẻ trung và tri thức khi đeo những chiếc balo tối màu…

Cách sử dụng và bảo vệ

Cách sử dụng: Cách dùng vô cùng đơn giản, chỉ cần đeo quai cặp lên vai là được. Hay chúng ta có thể đổi thành cầm cặp nhờ phần quai phía trên để cho đỡ mỏi vai. Các chuyên gia cho rằng chúng ta không nên đeo cặp có trọng lượng vượt quá 15% trọng lượng của cơ thể, đồng thời, những đồ nặng nên xếp sâu vào phía trong, tức phần gần sát lưng nhất. Đồ dùng, sách vở nên xếp sao cho cân đối, gọn gàng…

Các bảo quản: Thường xuyên vệ sinh cặp sạch sẽ, không nên ném cặp hay vì tò mò, nghịch ngợm mà phá cặp ra…

III. KẾT BÀI

Nêu tình cảm và suy nghĩ của bản thân đối với chiếc cặp sách.

Ví dụ: Chiếc cặp sách – người bạn thân thương đã đồng hành cùng ta suốt những năm tháng đến trường, giúp ta mang bao sách vở tri thức mỗi ngày. Mỗi người nên bảo vệ và giữ gìn cặp cẩn thận để nó được bền lâu.

1. Mở bài

Giới thiệu chiếc cặp sách: một trong những vật dụng quan trọng không thể thiếu, gắn bó với nhiều tầng lớp, thế hệ con người chính là chiếc cặp sách.

2. Thân bài

a. Khái quát chung

Lịch sử hình thành: Vào năm 1988, nước Mỹ lần đầu tiên sản xuất ra chiếc cặp sách mang phong cách cổ điển. Từ sau 1988, cặp sách đã được sử dụng phổ biến nhiều nơi ở Mỹ và sau đó lan rộng ra khắp thế giới.

b. Phân loại

Dựa vào hình dáng: balo, cặp đeo chéo, cặp khoác sau lưng, cặp cầm tay,…

Dựa vào công dụng: cặp đựng sách vở, cặp đựng tài liệu, cặp đựng đồ dùng,…

Với mỗi loại, chiếc cặp lại có hình dáng và kích cỡ khác nhau.

c. Thuyết minh chi tiết

Cấu tạo: gồm phần bên ngoài và bên trong.

Bên ngoài cặp được trang trí những họa tiết khác nhau bắt mắt phù hợp với nhiều loại đối tượng.

Bên trong: được chia thành nhiều ngăn, có thể có khóa kéo hoặc không, mỗi ngăn có kích cỡ to nhỏ khác nhau để người sử dụng dễ dàng phân chia vật dụng vào các ngăn.

Chất liệu: bằng da, vải hoặc nhựa dẻo,…

d. Sử dụng và bảo quản

Sử dụng: tùy vào tần suất sử dụng mà tuổi thọ của những chiếc cặp khác nhau. Nếu thường xuyên sử dụng và không biết giữ gìn thì cặp sẽ nhanh bị hỏng. Thường xuyên tiếp xúc với ánh nắng hoặc nước mưa cũng là nguyên nhân khiến cặp nhanh bị hư hại.

Bảo quản: thường xuyên làm vệ sinh cặp (giặt ướt hoặc giặt khô tùy vào chất liệu cặp); giữ cho cặp tránh va đập mạnh, hạn chế tiếp xúc nắng mưa; không bỏ quá nhiều đồ vào cặp để tránh cặp nhanh bị giãn hoặc nặng quá,…

3. Kết bài

Khái quát lại những vai trò của chiếc cặp.

I. Mở bài

Giới thiệu chiếc cặp sách là người bạn đồng hành lâu dài với lứa tuổi học trò trong suốt thời gian cắp sách đến trường.

II. Thân bài

1. Nguồn gốc, xuất xứ:

Xuất xứ: Vào năm 1988, nước Mỹ lần đầu tiên sản xuất ra chiếc cặp sách mang phong cách cổ điển.

Từ sau 1988, cặp sách đã được sử dụng phổ biến nhiều nơi ở Mỹ và sau đó lan rộng ra khắp thế giới.

2. Cấu tạo:

– Chiếc cặp có cấu tạo rất đơn giản.

Phía ngoài: Chỉ có mặt cặp, quai xách, nắp mở, một số cặp có quai đeo,.

Bên trong: Có nhiều ngăn để đựng sách vở, bút viết, một số cặp còn có ngăn để đựng áo mưa hoặc chai nước,.

3. Quy trình làm ra chiếc cặp:

Có nhiều loại cặp sách khác nhau như: Cặp táp, cặp da, balo. Với nhiều nhãn hiệu nổi tiếng như: Của Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc: Tian Ling, Ling Hao, mang những phong cách thiết kế riêng biệt. Tuy nhiên cách làm chúng đều có phần giống nhau.

Lựa chọn chất liệu: Vải nỉ, vải bố, da cá sấu, vải da,.

Xử lý: Tái chế lại chất liệu để sử dụng được lâu dài, bớt mùi nhưng vẫn giữ được nét đặc trưng của chất liệu đó.

Khâu may: Thông thường các xí nghiệp sử dụng máy may để may từng phần của chiếc cặp lại với nhau theo thiết kế.

Ghép nối: Ghép các phần đã được may thành một chiếc cặp hoàn chỉnh rồi được tung ra thị trường với những giá cả khác nhau.

4. Cách sử dụng:

– Tùy theo từng đối tượng mà con người có những cách sử dụng cặp khác nhau:

+ Học sinh nữ: Dùng tay xách cặp hoặc ôm cặp vào người.

+ Học sinh nam: Đeo chéo sang một bên

+ Học sinh tiểu học: Đeo sau lưng để dễ chạy nhảy, chơi đùa cùng đám bạn.

Các nhà doanh nhân: Sử dụng các loại cặp đắt tiền thường thì họ xách trên tay.

– Nhìn chung, khi mang cặp cần lưu ý không nên mang cặp quá nặng, thường xuyên thay đổi tay xách và vai đeo.

5. Cách bảo quản:

– Học sinh chúng ta thường khi đi học về thì quăng cặp lên trên cặp một cách vô lương tâm khiến cặp dễ bị rách hay hư hao. Nên bảo quản cặp bằng những phương pháp sau đây để giữ cho cặp bền tốt và sử dụng được lâu:

Thường xuyên lau chùi hoặc giặt cặp để giữ độ mới của cặp.

Không quăng cặp hay mạnh tay để tránh làm rách cặp hay hư hao.

Cứ khoảng 1 – 2 lần mỗi năm, hãy làm mới cặp bằng xi đánh giày không màu.

Để sửa chữa cặp khi bị rách, đừng nên mang đến hàng sửa giày hay giặt khô vì như vậy sẽ có nguy cơ bị hỏng do dùng sai công cụ. Hãy đưa đến thợ sửa cặp chuyên nghiệp.

Đừng bao giờ cất cặp da trong túi nilon, nó có thể làm khô túi hoặc bị chất dẻo dính vào da.

Đặt cặp trong túi nỉ của cửa hàng hoặc vỏ gối để giữ khả năng đứng thăng bằng của cặp.

6. Công dụng:

Cặp là vật để chúng ta đựng sách vở, bút viết mỗi khi đến trường.

Cặp cũng là vật để che nắng, che mưa cho sách vở. Một số bạn cũng sử dụng cặp để che mưa cho chính bản thân.

Cặp cũng là vật đã để lại không biết bao nhiêu kỷ niệm vui, buồn, đồng thời cũng tô lên nét đẹp của tuổi học trò – cái tuổi đẹp nhất trong cuộc đời của mỗi người chúng ta.

III. Kết bài

Cùng với những vật dụng tiện lợi khác, chiếc cặp sách đã trở thành một người bạn trung thành và luôn đồng hành với mỗi con người, đặc biệt là đối với những học sinh – chủ nhân tương lai của đất nước Việt Nam.

I. Mở bài

Cái cặp sách gắn bó với nhiều thế hệ học sinh từ tiểu học lên đến phổ thông trung học.

Đồ dùng học tập không thể thiếu với lứa tuổi học sinh.

II. Thân bài

a) Nguồn gốc

Ra đời vào năm 1988, nước Mỹ là nơi sử dụng chiếc cặp sách đầu tiên.

Từ sau đó, chiếc cặp sách được nhiều nơi sử dụng và phổ biến tại những nước lớn.

b) Cấu tạo chiếc cặp sách

Mặt ngoài gồm có quai xách, nắp mở, quai đeo, tùy theo cấp cấu tạo khác nhau.

Mặt trong gồm các ngăn đựng sách vở, dụng cụ, đồ dùng học tập.

c) Quy trình tạo ra cặp sách

Chất liệu làm nên cặp sách, có nhiều loại như bằng vải nỉ, vải da.

Công đoạn xử lý: qua các công đoạn xử lý, các loại vải giảm đi mùi hôi, bền, chắc hơn.

Công đoạn khâu may: mỗi phần trên chiếc cặp sẽ có một bộ phận thực hiện, sau khi khâu máy sẽ đến công đoạn ghép lại.

Ghép cặp: các phần khâu may sẽ được ghép lại thành chiếc cắp như thiết kế ban đầu.

d) Hướng dẫn sử dụng

Theo lứa tuổi:

Với các em mầm non, tiểu học thường mang sau lưng tiện lợi, gọn nhẹ.

Các bạn lớn tuổi hơn thường mang cặp sách chéo một bên.

Theo giới tính:

Các bạn nam thường có sở thích mang cặp chéo một bên thời trang, lịch sự.

Các bạn nữ chủ yếu xách cặp bằng tay.

e) Công dụng

Đồ dùng học tập quen thuộc chứa sách vở và các đồ dùng khi đến trường.

Chiếc cặp sách che nắng che mưa cho các dụng cụ học tập bên trong.

Ai trong thời học sinh cũng có những chiếc cặp sách thân thương và đầy kỉ niệm tuổi học trò.

f) Bảo quản

Đồ dùng học tập bảo quản tốt sẽ sử dụng bền lâu theo thời gian.

Không để cặp va đập mạnh gây rách.

Lau chùi sau khi sử dụng để cặp sách luôn mới và sử dụng lâu dài.

III. Kết bài

1. Mở bài

Giới thiệu về chiếc cặp sách

2. Thân bài

* Lịch sử ra đời:

Cặp sách được sản xuất và đưa vào sử dụng lần đầu tiên tại Mỹ vào năm 1988

Ngày nay cặp sách được sử dụng vô cùng phổ biến, đáp ứng nhu cầu sử dụng của nhiều đối tượng, đặc biệt là học sinh.

* Cấu tạo của chiếc cặp sách:

Bên ngoài: mặt cặp sách, quai đeo, dây đeo cặp, khóa mở cặp.

Bên trong: Các ngăn cặp

* Phân loại: Có nhiều loại khác nhau tùy vào đối tượng và mục đích sử dụng:

Ba lô

Túi xách

Cặp táp

* Một số lưu ý khi sử dụng:

Không nên xách cặp quá nặng để tránh mỏi tay và hư hỏng cặp sách vì quá tải

Không quăng hay ném cặp lung tung mà nên để cặp gọn gàng vào một góc bàn học hoặc bàn làm việc cho sạch sẽ

Định kỳ lau chùi và giặt cặp thật cẩn thận để giữ gìn cho cặp luôn sạch đẹp

* Vai trò của chiếc cặp:

Đựng đồ dùng học tập cho học sinh đến trường

Đựng giấy tờ, tài liệu

3. Kết bài

Khẳng định vai trò, giá trị của chiếc cặp

1. Mở bài:

Trong số những đồ dùng học tập của học sinh thì cái cặp là vật dụng gần gũi thân thương nhất.

2. Thân bài

1) Cái cặp thường có hình chữ nhật chiều dài là 40cm, chiều cao 30cm, độ rộng 15cm. Cặp táp của học sinh được làm bằng nhiều loại chất liệu khác nhau: vải bố, da, nhựa hoặc nhựa tổng hợp.

2) Cái cặp có ba phần: phần quai, phần nắp và phần thân cặp.

a. Phần quai cặp gồm 2 quai: quai xách tay nhỏ và vai đeo chéo ngực thì dài hơn, trên quai đeo dài có một móc sắt giúp thu ngắn hoặc làm cho quai dài ra.

b. Phần nắp cặp được may liền với thân sau của cặp, nắp cặp phủ qua thân trước của cặp, ở nắp cặp có hai chốt khóa bằng sắt hoặc bằng nhựa để đóng cặp lại. Trên nắp cặp người ta có thể trang trí hình vẽ hoa văn hay những con thú dễ thương.

c. Phần thân cặp có rất nhiều ngăn, thường có 3 hoặc 4 ngăn lớn và những ngăn nhỏ. Các ngăn lớn dùng để đựng tập và sách giáo khoa, các ngăn nhỏ để đựng khăn giấy, đựng bút, máy tính.

Dưới cùng của thân cặp cũng có 2 móc khóa khớp với móc khóa ở nắp cặp. Khi đóng móc khóa ta nghe một tiếng “cách cách” thật vui tai.

3) Cặp táp giúp ích rất nhiều cho người học sinh, hàng ngày cặp theo chân người trò nhỏ đến trường, giúp người học sinh đựng bao nhiêu đồ đạc cần mang theo khi đi học. Thử tưởng tượng nếu không có cặp táp thì sẽ bất tiện vô cùng. Nhờ có cặp mà người học sinh không bị ướt tập vở khi trời mưa.

4) Vì những lợi ích mà cặp đem lại cho người học sinh, nên chúng ta cần bảo quản cặp cẩn thận để sử dụng nó được lâu dài. Không quăng vất cặp bừa bãi, không lót cặp làm ghế ngồi, Thỉnh thoảng giặt cặp sạch sẽ để nó luôn được mới. Khi đi mưa phải dùng bao ni lông che cặp lại, không để cho cặp bị ẩm và cũng không nên bỏ thức ăn vào cặp sẽ dẫn đàn kiến đến cắn lủng cặp.

3. Kết bài

Có những bạn học sinh khi đi học thì dùng túi xách, ba lô nhưng rõ ràng những vật này không tiện dụng bằng cặp. Cặp táp là một vật dụng quan trọng của đời người.

Quãng đời học sinh là quãng thời gian vô cùng tươi đẹp. Đồng hành cùng tuổi học trò là những người bạn thân quen như sách vở, bút, thước,… Và còn một người bạn không thể thiếu nữa đó chính là cặp sách. Không một học sinh nào đến trường mà có thể thiếu được chiếc cặp sách của mình.

Chiếc cặp sách đầu tiên được ra đời tại nước Mỹ vào năm 1988. Gần như ngay lập tức, chiếc cặp sách đã trở thành vật dụng quen thuộc với người học sinh. Nó không chỉ phổ biến ở Mỹ mà còn lan rộng trên toàn thế giới và được hàng triệu học sinh yêu mến.

Cấu tạo của chiếc cặp sách không hề phức tạp mà ngược lại nó đơn giản nhưng rất đẹp. Ngoài cùng của cặp sách là mặt cặp, có nắp mở, phía trên có quai xách còn phía sau có quai đeo vào lưng. Ở bên trong của cặp người ta chia nó ra thành nhiều ngăn to nhỏ để đựng những món đồ dùng học tập khác như sách vở, bút thước. Sau này, thiết kế của cặp sách có nhiều cải tiến hơn với nhiều mẫu mã khác nhau. Có cặp sách còn được thiết kế thêm ngăn đựng áo mưa, ngăn đựng chai nước.

Tuy đơn giản nhưng việc làm ra một chiếc cặp sách lại khá kì công và đòi hỏi phải có sự chỉn chu trong từng khâu. Các khâu để làm nên một chiếc cặp sách là lựa chọn chất liệu, xử lí chất liệu, khâu may và ghép nối. Trong các khâu này, khâu lựa chọn chất liệu là vô cùng quan trọng. Có nhiều chất liệu có thể sử dụng để làm nên cặp sách như vải, nhựa, da,… Chính điều này đã làm nên sự đa dạng cho cặp sách. Tùy vào sở thích mà mỗi người học sinh sẽ còn cho mình những chiếc cặp sách có chất liệu khác nhau. Dẫu vậy, dù làm bằng chất liệu gì thì yêu cầu đầu tiên đối với một chiếc cặp sách đó là phải chắc chắn. Việc xử lí chất liệu cũng quan trọng để loại bỏ được mùi của chất liệu. Các phần của chiếc cặp thường được ghép lại với nhau bởi máy may cho đến khi tạo ra một chiếc cặp hoàn chỉnh. Hiện tại chiếc cặp sách có nhiều phiên bản khác nhau như ba lô, cặp da, cặp táp. Kích thước của cặp cũng có sự khác nhau để phù hợp với từng lứa tuổi học sinh. Tùy vào từng loại mà giá thành của chúng cũng khác nhau.

Tuổi thọ của một chiếc cặp sách tùy thuộc vào chất lượng của nó cũng như người sử dụng. Nếu giữ gìn và bảo quản tốt thì cặp sách có thể dùng được rất lâu. Muốn vậy, khi dùng cặp sách không nên quăng quật hay ném mạnh. Cũng không nên để cặp sách bị dính nước khi trời mưa. Nơi để cặp cần đủ rộng chứ không nên để ở những nơi quá chật hẹp có thể làm cặp bị chèn ép và biến dạng. Cặp tuy rộng nhưng cũng không nên đựng quá nhiều đồ sẽ làm sức chịu đựng của cặp bị quá tải. Đeo cặp quá nặng cũng không tốt cho người học sinh.

Trong quá trình học tập của người học sinh, chiếc cặp là một vật dụng không thể thiếu. Cho dù nhiều năm sau nữa, chiếc cặp sách vẫn sẽ là người bạn đồng hành của học sinh. Mỗi chúng ta hãy yêu thương và trân trọng chiếc cặp sách của chính mình.

Thuở học sinh ai cũng gắn bó với những đồ dùng học tập quen thuộc trong đó cặp sách như người anh cả to lớn và che chở cho những đồ dùng học tập. Chiếc cặp sách gắn bó thân thiết dù lúc này hay mưa.

Cặp sách dùng để chứa đồ vật và mang trên vai để di chuyển, đây là phát minh hữu ích của con người vào năm 1988, từ đó đến nay chiếc cặp sách đã được dùng phổ biến trên toàn thế giới.

Chiếc cặp có cấu tạo rất đơn giản bao gồm bên trong và bên ngoài, với bên ngoài có các bộ phận như bề mặt cặp, quai xách, nắp mở. Còn với bên trong sẽ có nhiều ngăn, độ rộng khác nhau dùng để chứa sách vở, bút, thước, rộng hơn là dùng để chứa áo đi mưa, nước uống.

Mặc dù có nhiều mẫu mã đa dạng những quy trình làm ra chiếc cặp sách đều giống nhau cần sự tỉ mỉ, chính xác. Trước tiên cần chọn chất liệu: vải bố, vải cá sấu, vải da, vải càng tốt giá tiền cặp sách sẽ càng cao. Sau khi chọn vải sẽ đến công đoạn tái chế lại chất liệu để sử dụng bền lâu. Khâu may công đoạn giúp những chiếc cặp bền chắc hơn và thông thường thực hiện bằng máy may. Cuối cùng là công đoạn ghép nối giúp nối những chiếc cặp hoàn chỉnh.

Chiếc cặp sách trên thị trường có sự đa dạng về màu sắc và kiểu dáng, có những cặp sách dành riêng cho nam và nữ. Nam thì cặp đeo chéo, nữ lại nhỏ gọn để các bạn dễ dàng di chuyển hơn.Cặp hai quai dành cho các học sinh tiểu học, khi sử dụng cần đeo hai vai để tránh cong vẹo cột sống. Riêng với các doanh nhân cặp sẽ nhỏ gọn và đắt tiền hơn phù hợp với công việc và môi trường.

Để cặp sách bền lâu khi sử dụng cần chú ý không để cặp nơi có nguồn nhiệt cao dễ bị biến dạng. Thường xuyên lau chùi bụi bẩn và nước. Nếu cặp bị bẩn phải giặt bằng tay và phơi ở những nơi có ánh sáng yếu. Một chiếc cặp sách nếu biết cách bảo quản có thể sử dụng từ 3-5 năm.

Chiếc cặp sách là đồ dùng học tập quen thuộc với học sinh giúp che nắng mưa và đồng hành với chúng ta đến trường. Hãy yêu cặp sách như một người bạn và chính nó sẽ giúp bạn đi đến tương lai tươi sáng hơn.

Suốt quãng đời đi học, người học sinh luôn có rất nhiều người bạn đồng hành như sách, vở, bút, thước. Đó là những người bạn tuy nhỏ bé nhưng lại không thể vắng mặt. Trong số những dụng cụ học tập thì chiếc cặp cũng là một vật dụng vô cùng gần gũi, gắn bó với người học sinh trong những năm tháng cắp sách đến trường.

Cặp sách chắc chắn là một trong những phát minh hữu ích nhất của loài người. Nước Mỹ là nước đầu tiên sản xuất ra chiếc cặp sách vào năm 1988. Từ đó, cặp sách đã được sử dụng phổ biến ở Mỹ và lan rộng ra toàn thế giới.

Chiếc cặp sách có cấu tạo rất đơn giản. Phía ngoài chỉ có mặt cặp, nắp mở, quai xách để cầm tay hoặc quai đeo để đeo trên lưng. Phía trong cặp được cấu tạo thành nhiều ngăn to nhỏ khác nhau để đựng sách vở, bút thước. Một số cặp còn có ngăn đựng áo mưa hoặc chai nước.

Để làm ra một chiếc cặp bao gồm những công đoạn chính như: lựa chọn chất liệu, xử lí chất liệu, khâu may, ghép nối. Chất liệu cặp cũng vô cùng phong phú, đa dạng, tùy thuộc vào nhu cầu và sở thích của người dùng. Cặp có thể làm từ vải nỉ, vải bố hoặc da. Dù làm bằng chất liệu gì thì yêu cầu quan trọng nhất là cặp phải chắc chắn vì nó dùng để chứa nhiều sách vở. Khâu xử lí để tái chế lại chất liệu, bớt mùi nhưng vẫn giữ được nét đặc trưng của chất liệu đó. Hiện nay, thông thường các xí nghiệp thường sử dụng máy may để may các phần của cặp lại với nhau theo thiết kế. Cuối cùng, các phần được ghép nối lại thành chiếc cặp hoàn chỉnh rồi tung ra thị trường. Các loại cặp hiện nay cũng vô cùng đa dạng với nhiều mẫu mã và giá tiền khác nhau phù hợp với người tiêu dùng. Có cặp táp, cặp da, balo. Một số thương hiệu nổi tiếng như Hồng Hà, Thủ đô vàng, cặp của Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan. Giá một chiếc cặp sách dao động khoảng vài trăm nghìn.

Mỗi đối tượng sẽ có cách sử dụng cặp khác nhau. Đối với học sinh nữ sẽ dùng tay xách cặp hoặc ôm cặp vào người để thể hiện sự dịu dàng, thùy mị, nữ tính. Còn học sinh nam có xu hướng đeo chéo cặp sang một bên trông rất tự tin, năng động. Học sinh tiểu học thì thường đeo cặp trên lưng để dễ chạy nhảy, chơi đùa cùng bạn bè.

Cặp sách dù tốt, dù bền như thế nào cũng sẽ hỏng nếu chúng ta không biết cách bảo quản và sử dụng. Như ông cha ta đã nói: “Của bền tại người”, để chiếc cặp sách được bền lâu, chúng ta cần thường xuyên lau chùi, vệ sinh để giữ độ mới của cặp. Không nên quăng cặp quá mạnh để tránh cặp bị rách. Khi trời mưa cần tránh để cặp không bị dính nước. Nếu để cặp ở những không gian hẹp như hộc tủ, hộc bàn sẽ gây chèn ép, làm cặp bị cong và vênh. Bên cạnh đó, một điểm cần lưu ý khác là không nên đựng khối lượng quá nặng so với sức chứa của cặp.

Một số lời khuyên để sử dụng cặp đúng cách: chiếc cặp khi đeo không nên vượt quá 15% trọng lượng cơ thể. Nên xếp những đồ vật nặng nhất ở phần tiếp giáp với lưng, sách vở và đồ dùng xếp sao cho không bị xô lệch. Để tránh bị cong vẹo người, hai quai nên được đeo một cách ngay ngắn, đối với loại cặp chỉ có một quai thì cần thay đổi vai đeo cho đỡ mỏi.

Chiếc cặp là một vật dụng rất hữu ích và cần thiết trong quá trình học tập và làm việc của con người. Hiện tại hay mai sau, chiếc cặp vẫn sẽ giữ nguyên vai trò và giá trị của nó, trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của chúng ta.

Trong tất cả các dụng cụ của học sinh, chúng tôi được xem như là anh cả, bởi lẽ chúng tôi có thân hình to lớn nhất. Các bạn có biết chúng tôi là ai không? Chúng tôi là những chiếc cặp xinh xinh giúp các bạn đựng đồ dùng học tập.

Họ hàng chúng tôi có tự bao giờ không rõ lắm, nhưng chắc chắn là từ rất xa xưa, khi con người có nhu cầu đi học. Cha ông chúng tôi trước kia được làm rất đơn giản, thân hình chỉ gồm những mảng da lớn được may lại, nắp cặp có khóa sắt hoặc có dây kéo để đóng mở cặp. Còn ngày nay, với công nghệ tiên tiến và hiện đại, chúng tôi được thiết kế với nhiều kiểu mẫu đẹp hơn, đa dạng hơn. Họ hàng chúng tôi có nhiều loại: Cặp đeo, cặp mang trên vai, cặp xách. Chất liệu để làm ra chúng tôi cũng phong phú hơn xưa. Có loại làm bằng da mềm, có loại làm bằng vải dù, vải jean, vải bố. Riêng tôi, tôi có một thân hình tương đối đẹp, được làm bằng một loại vải da tốt. Bên ngoài có trang trí nhiều hình vẽ và màu sắc nổi bật. Tôi thích nhất là hình chú chó Pikachu đáng yêu ở phía trước mặt cặp.

Bên trên là nắp cặp với một cái khóa bằng sắt bóng loáng để đóng, mở. Mỗi khi đóng, mở cặp, những âm thanh vang lên lách cách rất vui tai. Bên dưới nắp cặp là một cái túi phụ có dây kéo để các cô, cậu học trò đựng các đồ vật nhỏ cần thiết. Bên hông là một cái túi lưới để đựng những chai nước mà các cô, cậu thường hay mang đến lớp. Tôi không chỉ có quai đeo mà còn có một cái quai nhỏ để xách. Bên trong quai có lót xốp nên sử dụng rất êm. Quan trọng nhất là bên trong cơ thể tôi. Nơi ấy có ba ngăn chính dùng để đựng sách vở. Ngoài ba ngàn chính tôi còn có một ngăn phụ để đựng bút, thước, compa. Mỗi ngăn cặp được ngăn bởi một miếng vải mỏng và bền.

Tuy thân hình chúng tôi cấu tạo chỉ như thế nhưng chúng tôi rất có ích. Nhờ có chúng tôi, các cô, cậu chủ cảm thấy tiện lợi hơn, thoải mái hơn khi đến trường. Chúng tôi che nắng cho sách, vở. Và chúng tôi cũng lấy làm vinh dự với chức năng bảo vệ nguồn tri thức của các cô, cậu học trò. Có chúng tôi, nguồn tri thức ấy sẽ không bị mất đi, không bị mai một đi khi trải qua mọi sự thay đổi của thời tiết.

Để chúng tôi phát huy hết vai trò của mình thì cần phải có sự bảo quản của con người. Cách bảo quản chúng tôi cũng dễ thôi: Khi đi học về, các cô, cậu chủ nhỏ treo chúng tôi lên móc, để ở nơi sạch sẽ. Khi chúng tôi bị ướt, các cô, cậu chỉ cần dùng khăn lau khô rồi phơi lên. Chúng tôi cũng cần được giặt sạch rồi phơi khô để vải không bị mục hoặc mốc. Khi có bụi bám vào, cần lau chùi cho chúng tôi sạch sẽ, nhìn vào sẽ trông đẹp hơn, mới hơn. Đặc biệt, để dây kéo hoặc ổ khóa được bền thì cần sử dụng nhẹ nhàng, cẩn thận. Nếu không cẩn thận thì các bộ phận này dễ bị hỏng.

Chúng tôi cũng không tầm thường chút nào đấy chứ! Chúng tôi là những người bạn tốt của các bạn học sinh, luôn đồng hành cùng các bạn, giúp các bạn mang theo mình nhiều tri thức để sau này trở thành những người tài đức vẹn toàn, giúp ích cho đất nước và mở ra cho mình một tương lai mới.

Kỉ niệm về chiếc cặp mà em đựng sách vở đi học luôn mãi mãi ở trong tâm trí em. Đã một năm trôi qua rồi, thế mà mỗi lần nghĩ đến em vẫn còn cảm thấy nôn nao, bồn chồn đến lạ.

Hồi ấy, em đang còn sử dụng chiếc cặp của chị Hai lúc, chị học ở tiểu học. Chiếc cặp vẫn còn sử dụng tốt, chỉ nứt một số đường may ở trong các ngăn cặp và miệng cặp. Sách vở và đồ dùng học tập thường bỏ lẫn với nhau vì chỉ còn lại có một ngăn. Nhưng không phải vì thế mà em buồn. Trái lại em rất quý và rất yêu chiếc cặp vì nó là vật kỉ niệm của chị em. Chị Hai bây giờ là sinh viên năm thứ nhất khoa Quản trị Kinh doanh rồi. Em muốn nâng niu vật kỉ niệm ấy bên mình như thầm hứa với chị Hai sẽ noi theo gương chị. Do vậy mà em không đòi hỏi bố phải mua cặp mới cho em. Nhưng rồi vào một buổi học cuối học kỳ II năm lớp Ba, tan học, mưa tầm tã, sách vở và đồ dùng học tập ngày hôm ấy lại khá nặng. Tất cả đều dồn vào cặp. Nước mưa thấm vào làm đường chỉ khâu dưới đáy cặp bị bung ra. Và thế là bao nhiêu sách vở, đồ dùng học tập rơi xuống mặt đường. Em nhặt sách vở và đồ dùng học tập lên gói chung vào tấm ni lông tất tả chạy về nhà. Thấy em ôm chồng sách vở trên tay, vai đeo chiếc cặp không, bố hỏi: “Sao con không bỏ vào cặp?”. Em vừa cởi quai đeo vừa nói với bố: “Cặp hỏng rồi bố ạ!”. Bố nhìn em, nhìn chiếc cặp đã thủng đáy, rồi quay sang âu yếm nói: “Đừng buồn nghe con! Bố bận công chuyện quá không để ý đến chiếc cặp của con. Mẹ con lại đi học xa, chắc cũng không biết chuyện này, thông cảm cho bố mẹ. Chiều nay, bố đưa con ra chợ nhà lồng thị xã, mua chiếc khác”. Thế là em đành phải từ biệt chiếc cặp, để nó lên giá sách như lưu giữ lại một vật kỉ niệm của chị mình.

Chiếc cặp mà em có trong tay bây giờ là một chiếc cặp tuyệt đẹp! Có lẽ nó đẹp thuộc loại nhất, nhì trong lớp, bởi nó vừa mới lại vừa tốt, kiểu cặp trông rất xinh và rất tiện lợi. Chất liệu chiếc cặp được may bằng vải ni lông tông hợp màu xanh lá cây. Chiều dài độ ba mươi lăm xen-ti-mét, chiều rộng chừng hai mươi lăm xen-ti-mét. Phía trên có quai xách. Đằng sau có hai quai đeo làm bằng chỉ dù to bản, vừa chắc lại vừa êm vai. Phía trước cặp có hai khóa móc láng bóng được mạ kền. Chỉ cần bấm nhẹ vào hai cái nút nhô lên như hai đầu đũa, móc bật ra là em có thể mở cặp một cách nhanh chóng, thuận tiện. Phía trong nắp cặp là một đường dây kéo tạo thành một cánh cửa đóng kín ba ngăn cặp. Nắp cặp được làm bằng một miếng mê ca mỏng và được trang trí bằng một tấm hình chụp vị thuyền trưởng Sinbad trong bộ phim “Cuộc phiêu lưu của Sinbad” làm tăng thêm vẻ đẹp của chiếc cặp.

Chiếc cặp được cấu tạo ba ngăn. Ngăn giữa rộng hơn, em dùng để toàn bộ sách vở trong buổi học. Còn hai ngăn kia dùng để đồ dùng học tập và tấm vải mưa. Thật là tiện lợi. Đã gần một năm rồi mà chiếc cặp vẫn còn y như mới mua tuần trước. Đi học về, bao giờ em cũng dùng một miếng vải mỏng lau sạch bụi bặm hoặc nước mưa rồi mới để vào góc học tập của mình.

Chiếc cặp đã trở thành người bạn thân thiết của em từ dạo đó. Và bây giờ, ngày ngày cặp lại cùng em tung tăng đến trường, rồi lại cùng em trở về nhà trong niềm vui vì những điểm mười mà em đạt được.

Tuổi học trò có biết bao vật dụng thân thiết như bút, thước, sách vở. Và một trong những vật dụng không thể thiếu đó chính là chiếc cặp sách. Với mỗi học sinh, chiếc cặp không chỉ là một dụng cụ mà là người bạn thân thiết đầy gắn bó.

Không ai biết chính xác chiếc cặp sách ra đời từ bao giờ nhưng theo dõi trên phim ảnh ta thấy từ thời Pháp thuộc học sinh trường Bưởi, nữ sinh Đồng Khánh với bộ áo dài thướt tha cùng chiếc cặp bên hông vào dòng người nổi bật trên đường.

Trải qua thời gian và sự biến đổi không ngừng của xã hội, cho đến nay chiếc cặp sách vẫn giữ nguyên hình dạng ban đầu dù mẫu mã đã có sự thay đổi. Nó có hình chữ nhật, kích cỡ đa dạng để phù hợp với nhu cầu của người sử dụng. Cặp thường có bề dày từ 15 đến 20 cm, chia thành nhiều ngăn, mỗi ngăn có một chức năng. Những ngăn to dùng để sách giáo khoa, vở viết, tài liệu tham khảo còn các ngăn nhỏ để túi kiểm tra và các dụng cụ học tập khác như bút, thước. Để sách vở và các đồ dùng không bị rơi ra ngoài, miệng các ngăn thường có khóa kéo bằng nhựa. Với loại cặp như chiếc ví thì ngoài khóa kéo còn có khóa cài làm bằng thép để không bị rỉ.

Để tiện cho việc di chuyển, cặp thường có hai loại quai: quai xách và quai đeo. Quai xách được gắn cố định vào hai mặt trước sau còn quai đeo được mắc vào hai bên hông của cặp. Quai đeo dài để có thể quàng qua vai và có một miếng đệm để khi đeo không bị đau vai, có khóa để điều chỉnh độ dài ngắn tùy ý.

Cặp có nhiều màu sắc để đáp ứng nhu cầu của người sử dụng. Học sinh tiểu học thường chọn những gam màu sặc sỡ: đỏ, hồng, tím, xanh…với hình vẽ các nhân vật ngộ nghĩnh trên phim hoạt hình, truyện tranh. Học sinh trung học và cán bộ giáo viên thường dùng gam màu trầm, nhã nhặn như đen, nâu.

Hằng ngày phải tải một một khối lượng khá lớn và dãi dầu nắng mưa, hơn nữa để cặp luôn vuông vức người ta thường chọn những vật liệu cứng, có độ bền cao lại không dễ dàng bị ngấm nước như da, nhựa dẻo, vải dù để làm cặp. Bên trong cặp thường có một lớp lót bằng vải hoặc nilon để tăng độ cứng, bền của cặp. Chất liệu cứng và dày như vậy nên việc may cặp khá công phu, đòi hỏi người thợ phải có tay nghề cao và sử dụng loại máy chuyên dụng. Cặp được sử dụng khá phổ biến nên có nhiều hãng sản xuất và được bày bán khắp nơi trên thị trường.

Trông nhỏ bé và giản dị nhưng chiếc cặp có vai trò vô cùng quan trọng. Đó là vật bất li thân của người học sinh. Từ khi bước vào lớp một đến khi là sinh viên trên giảng đường đại học, chiếc cặp luôn bên ta, làm người bạn thân thiết không bao giờ rời xa. Bao nhiêu sách vở, dụng cụ học tập hằng ngày chỉ cần có chiếc cặp là tất cả đều gọn gàng, ngăn nắp và tất cả đều di chuyển dễ dàng. Lặng lẽ bên ta, cặp chia sẻ với ta những niềm vui nỗi buồn, những nhọc nhằn, vất vả của tuổi học sinh.

Ông cha ta thường dạy “của bền tại người”. Chiếc cặp hữu ích như vậy nên càng phải giữ gìn để thời gian sử dụng được lâu. Mỗi khi để sách vở, dụng cụ học tập hoặc di chuyển cặp phải nhẹ nhàng. Không nên để cặp ở nơi ẩm thấp, bụi bặm, không để nhiều thứ nặng làm tổn hại đến cặp. Ở nhà có giá để cặp, đến trường để cẩn thận vào ngăn bàn. Trời nắng, trời mưa phải có dụng cụ bảo vệ, che chắn cặp.

Hiện nay, công nghệ ngày càng tiên tiến, hiện đại thì càng có nhiều vật dụng ra đời có thể thay thế chiếc cặp nhưng ta không thể phủ nhận vai trò và vị trí của chiếc cặp sách nhất là đối với học sinh. Với giá cả phải chăng, lợi ích to lớn nó sẽ được các thế hệ học sinh, giáo viên yêu thích và sử dụng. Mỗi học sinh chúng ta hãy tâm niệm rằng giữ gìn, bảo vệ, nâng niu chiếc cặp sách là hành vi của người có văn hóa.

Bạn biết không trong thời học sinh của chúng ta muốn học tốt thì ngoài sách vở ra thì cần rất nhiều đồ dùng học tập. Và một trong những món đồ dùng học sinh có tác dụng chứa đựng tất cả các vận dụng khác thì không thể không nhắc đến chiếc cặp sách thân yêu được.

Chiếc cặp sách ra đời từ rất lâu rồi. Chiếc cặp sách ra đời để có thể đáp ứng được nhu cầu đi học của con người, bởi đi học cũng rất cần một vật dụng có thể chứa đựng tất cả những vật dụng sách vở, bút, bảng. Những chiếc cặp ngày trước được làm rất đơn giản, thân hình của chiếc cặp lúc đó cũng lại chỉ gồm những mảnh da lớn được may lại. Đặc biệt hơn chiếc nắp cặp có khóa sắt hoặc có chiếc dây kéo để đóng mở cặp đơn giản mà thôi. Còn ngược lại trong xã hội hiện đại ngày nay, khi đất nước ngày càng phát triển hơn, khi mà công nghệ tiên tiến và hiện đại thì đã cải tiến những chiếc cặp này vừa đa dạng về mẫu mã về kiểu dáng mà nó cũng lại được tối ưu hóa những công dụng phù hợp với từng người sử dụng.

Nói về chiếc cặp sách thì nó được phân biệt rất nhiều loại, và có rất nhiều mẫu mã, kiểu dáng như các chiếc cặp đeo, cặp mang trên vai, cặp xách. Và đáng chú ý ở đây đó cũng chính là chất liệu để làm ra chúng tôi cũng phong phú hơn xưa tha hồ cho người tiêu dùng có thể chọn lựa. Những chiếc cặp được bày bán có loại làm bằng da mềm, có loại làm bằng vải dù có bao chiếc cặp sách lại làm bằng vải jean, vải bố. Chiếc cặp sách có rất nhiều màu sắc đẹp đẽ nữa, có chiếc thì bên ngoài có trang trí nhiều hình vẽ và màu sắc nổi bật khác nhau. Các hình in đó có thể là hình những cô công chúa, những nhân vật hoạt hình, trang phong cảnh đáng yêu. Những bạn học sinh tiểu học và trung học luôn luôn chọn các mẫu cặp đáng yêu này, nhưng với các bạn học sinh cuối cấp lại ưa chọn kiểu dáng cặp thiêng về độ thuận tiện hơn là về mẫu mã.

Chiếc cặp sách ở bên trên là nắp cặp với một cái khóa bằng sắt bóng loáng để đóng, mở thật chắc chắn. Ngoài ra lại có các kiểu cặp được sử dụng khóa là chủ yếu. Chiếc cặp sách có rất nhiều ngăn khác nhau, loại bình thường nhất là có hai ngăn chính và ở phía hai bên hông cặp lại có thêm một ngăn lưới để có thể đựng những chai nước hay giẻ lau, thuận tiện nhất cho người đi học. Những ngăn chính trong chiếc cặp thì giúp cho học sinh có thể đựng sách vở và hộp bút ở đây. Nếu chọn những chiếc cặp có hình hộp học sinh đựng sách vở sẽ không bị quăn mép.

Chiếc cặp thực sự cũng rất có ích cho mỗi người học sinh. Thế rồi nhờ có chiếc cặp này mà học sinh có thể sắp xếp thật khoa học sách vở của mình. Không những thế còn là một cách như để bảo vệ sách vở và đồ dùng chứa bên trong. Khi trời nắng hay mưa nhỏ thì cũng không hề lo lắng sách vở bên trong bị hư hỏng.

Chiếc cặp sách cũng chính là những người bạn tốt của các bạn học sinh, luôn đồng hành cùng các bạn học sinh. Chiếc cặp sách cũng đã giúp các bạn mang theo mình nhiều tri thức để sau này trở thành những người tài đức vẹn toàn và có thể giúp ích cho đất nước.

Suốt quãng đời cắp sách tới trường, người học sinh luôn bầu bạn với sách, vở, bút, thước, và coi đó là những vật dụng không thể thiếu được. Trong số những dụng cụ học tập ấy thì vật dụng để đựng các thứ kể trên chính là chiếc cặp – một vật đã gắn bó với tôi nhiều năm và chắc trong tương lai sẽ còn hữu ích với tôi lắm!

Cặp sách được sử dụng nhiều trong quá trình học tập cũng như trong đời sống. Chắc chắn một điều rằng, cặp sách có thể được đưa vào danh sách hàng loạt những phát minh quan trọng của loài người. Việc phát minh ra cặp sách là do người Mỹ nghĩ ra vào năm 1988.

Về cấu tạo, bên ngoài, ta dễ thấy nhất: nắp cặp, quai xách, kẹp nắp cặp, một số cặp có quai đeo, một số khác có bánh xe nhỏ được dùng để kéo trên đường. Cấu tạo bên trong, có thể có một hoặc nhiều ngăn dùng để đựng tập sách, đồ dùng học tập, áo mưa, có thể có ngăn đựng ví tiền hay cả đồ ăn, nước uống nữa.

Về quy trình, cho dù quy trình làm ra chiếc cặp như thế nào đi nữa thì nó cũng chỉ có những công đoạn chính gồm: lựa chọn chất liệu, xử lý, khâu may, ráp nối. Chất liệu thì có rất nhiều loại cho phù hợp với yêu cầu của người dùng: vải nỉ, vải bố, da cá sấu, giả da. Dù làm bằng chất liệu gì thì cặp cũng phải chắc, vì nó phải khiêng vác rất nặng các tập sách. Kèm theo đó, kiểu dáng cặp cũng phải phù hợp, ví dụ như con trai thì thường đeo cặp có quai sang một bên cho có khí phách, năng động. Con gái mặc áo dài thì ôm cặp trước ngực để có vẻ dịu dàng, thùy mị. Con nít thì đeo cặp ra sau lưng để dễ dàng chạy nhảy, vui đùa. Cùng với màu sắc, hiện đang thịnh hành rất nhiều loại cặp với nhiều màu sắc, hình ảnh đa dạng, phong phú, bắt mắt phù hợp cho từng lứa tuổi.

Một số lời khuyên về việc sử dụng cặp cho đúng cách: chiếc cặp khi đeo không nên vượt quá 15% trọng lượng cơ thể của mình. Nên xếp những đồ vật nặng nhất vào phần trong của cặp (phần tiếp giáp với lưng). Xếp sách vở và đồ dùng học tập sao cho chúng không bị xô lệch. Chắc chắn rằng những vật dụng để trong cặp đều cần thiết cho các hoạt động trong ngày. Đối với cặp hai quai, chúng ta không nên đeo lủng lẳng một quai, dễ cong vẹo người. Đối với cặp chỉ có một quai, nên thay đổi vai đeo để tránh cong vẹo người. Khi mua cặp, nên chọn loại quai đeo có độn bông, mút hoặc vải.

Ngày nay, có rất nhiều nhãn hiệu nổi tiếng như Miti, Samsonite, Tian Ling, Ling Hao, phổ biến ở khắp mọi nơi như Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc. Nhưng cho dù chúng đẹp đến đâu, bền cỡ nào đi chăng nữa, cũng từ từ theo thời gian mà hỏng dần đi nếu như chúng ta không biết cách bảo quản nó, chẳng hạn như quăng chúng ình ình mỗi khi gặp chuyện bực mình hoặc ham vui mà quăng nó đi. Thế nên, chúng ta không nên quăng cặp bừa bãi, mạnh tay, thường xuyên lau chùi cặp cho sạch sẽ.

Nói tóm lại, cặp sách là một vật dụng rất cần thiết trong việc học tập và cả trong đời sống của chúng ta. Nếu chúng ta sử dụng đúng cách, nó sẽ mang lại cho chúng ta nhiều lợi ích và có thể được coi là người bạn luôn luôn đồng hành với mỗi chúng ta. Đặc biệt là đối với học sinh- chủ nhân tương lai của đất nước.

Trong suốt thời gian đi học bạn gắn bó với thứ gì nhất? Có người thì là chiếc bút, có người lại là quyển vở nhưng cũng không ít người nhớ nhung và yêu quý chiếc cặp sách thân thương.

Trên suốt chặng đường đi học không khi nào người ta thấy vắng bóng hình ảnh chiếc cặp sách. Vào năm 1988, nước Mỹ lần đầu tiên sản xuất ra chiếc cặp sách mang phong cách cổ điển. Từ sau 1988, cặp sách đã được sử dụng phổ biến nhiều nơi ở Mỹ và sau đó lan rộng ra khắp thế giới. Cặp sách thường có hình chữ nhật, vuông vức, gọn nhẹ phù hợp với người sử dụng. Cặp sách được thiết kế đa dạng về màu sắc với rất nhiều họa tiết trang trí. Đối với những bé gái chiếc cặp màu hồng in hình nàng công chúa barbie hay chú gấu xinh xắn, dễ thương luôn là một niềm mong ước. Còn các cậu bé trai thì ham mê chiếc cặp với những anh chàng siêu nhân trừ gian diệt ác đầy mạnh mẽ. Phía sau chiếc cặp là hai quai đeo ni lông bọc vải dày dặn, chắc chắn. Hai chiếc quai này không chỉ giúp các bạn học sinh đeo cặp dễ dàng, mà còn bảo vệ đôi vai non nớt có thể phát triển cân bằng. Chiếc cặp với sắc màu, hình thù rực rỡ kiểu cách đã trở thành kỉ niệm tuổi thơ của rất nhiều những cô cậu học trò. Và khi trên vai là chiếc cặp một màu tối giản thường là màu đen cũng là lúc đánh dấu trong lòng mỗi đứa trẻ đã và đang ngày một trưởng thành. Quai đeo giờ đây thay vì hai thì chỉ còn một chiếc hay được các bạn học sinh đeo chéo qua người. Tuy bề ngoài có khác nhưng kết cấu bên trong chiếc cặp không thay đổi là mấy. Chiếc cặp có hai ngăn chính rộng rãi đủ để hai hàng sách đều tăm tắp. Chiếc ngăn vừa nằm ở ngay trước cặp có thể đựng hộp bút, đôi ba tập giấy kiểm tra. Ở đó cũng không thiếu những chiếc ngăn nhỏ xinh nằm ở nhiều vị trí. Bên hông cặp thì có thể để chai nước giúp các bạn giải khát khi cần. Bên trong cặp, các ngăn nhỏ ấy lại có thể đựng vài chiếc kẹp tóc xinh xinh, vài ba món đồ chơi nho nhỏ như bi, súc sắc hay chiếc ô tô được trúng thưởng trong gói bim bim buổi sáng. Và có khi ở đó còn giấu một chút quà vặt để ăn cùng các bạn trong giờ nghỉ giải lao. Thế mới thấy chiếc cặp nhỏ vậy thôi nhưng lại có thể chứa đựng biết bao nhiêu là thứ đồ thú vị, hay ho.

Vì vậy có lẽ chiếc cặp sách không đơn giản chỉ có công dụng đeo đựng mà nó còn mang nhiều ý nghĩa hơn thế. Khi lần đầu tiên đeo cặp sách có đứa trẻ nào mà không vui mừng, nó đánh dấu một chặng đường tìm kiếm tri thức quan trọng, đầy ý nghĩa. Chiếc cặp bảo vệ sách vở, những món đồ bên trong khỏi mưa nắng, bụi bẩn. Đeo chiếc cặp trên vai dường như cũng chính là nhắc nhở bất cứ ai trách nhiệm đối với tri thức phải biết bảo vệ nâng niu và cả chính những kỉ niệm đi học của mình nữa. Và rồi thời gian trôi qua, rời xa phấn trắng bảng đen chiếc cặp sách ngày nào cũng phải để lại một nơi. Nhưng bên trong nó vẫn luôn chất chứa đủ những kỉ niệm vui vẻ tuổi học trò hồn nhiên, trong sáng mà ai cũng muốn một lần sống lại.

Với những ý nghĩa đối với học trò, nên chúng ta cần phải biết sử dụng, bảo quản đúng cách để chiếc cặp luôn song hành trên chặng đường đến với tri thức. Một số lời khuyên để sử dụng cặp đúng cách: chiếc cặp khi đeo không nên vượt quá 15% trọng lượng cơ thể. Nên xếp những đồ vật nặng nhất ở phần tiếp giáp với lưng, sách vở và đồ dùng xếp sao cho không bị xô lệch. Để tránh bị cong vẹo người, hai quai nên được đeo một cách ngay ngắn, đối với loại cặp chỉ có một quai thì cần thay đổi vai đeo cho đỡ mỏi. Ngoài ra cần thường xuyên lau chùi, vệ sinh để giữ độ mới của cặp. Không nên quăng cặp quá mạnh để tránh cặp bị rách. Khi trời mưa cần tránh để cặp không bị dính nước. Nếu để cặp ở những không gian hẹp như hộc tủ, hộc bàn sẽ gây chèn ép, làm cặp bị cong và vênh.

Chiếc cặp sách tưởng như bình thường, quen thuộc nhưng lại chính là một người bạn đồng hành thân thiết nhất trong cuộc đời đi học của mỗi con người. Vì vậy chúng ta hãy học cách nâng niu, trân trọng chiếc cặp sách của mình và cả những tháng ngày đồng hành bên nhau.

Học tập là một con đường đầy gian nan nhưng với cùng thú vị và đeo đẽ của cuộc đời mỗi con người. Trên con đường lĩnh hội tri thức ấy, không thể thiếu người bạn đồng hành là chiếc cặp sách thân thương.

Chiếc cặp sách của mặt trên thế giới lần đầu tiên là vào năm 1988, do nước Mỹ sản xuất ra. Chiếc cặp sách đầu tiên này mang phong cách cổ điển. Nó rất đơn giản, chỉ gồm một ngăn và đựng được một số tài liệu.Từ sau 1988, cặp sách đã được sử dụng phổ biến nhiều nơi ở Mỹ và sau đó lan rộng ra khắp thế giới. Đến đầu thế kỉ 21, cặp sách mới thật sự phổ biến ở nước ta và trở thành người bạn đồng hành trung thành với bất cứ học sinh, sinh viên nào. Cuối có rất nhiều loại và nhiều hãng. Tại nước ta, cặp của hãng Thủ Đô Vàng là được mọi người đánh giá cao và yêu thích nhất.

Chiếc cặp có cấu tạo rất đơn giản. Nó gồm hai phần là phía ngoài và phía trong cặp. Phía ngoài của nó chỉ có mặt cặp, quai xách, nắp mở, một số cặp có quai đeo,. Mặt cặp dành cho học sinh tiểu học thường có in các hình hoạt hình ngộ nghĩnh đáng yêu, màu sắc rực rỡ, bắt mắt. Còn cặp dành cho các học sinh lớn hơn và chi nhân viên công sở thường là mang một màu sắc, đơn giản và lịch sự. Nắp mở của cặp có thể là nút bấm hoặc khóa kéo. Nút bấm giúp người dùng dễ dàng mở và nắp lại hơn nhưng dễ bị hỏng, gãy. Khóa kéo giúp người dùng bảo quản đồ đạc tốt hơn nhưng trong quá trình sử dụng mất nhiều thời gian hơn.

Quai xách cặp làm bằng vải mềm, có may thêm một lớp bông đệm để bảo vệ da tay, tránh xây xát hay chai tay khi phải xách cặp nặng trong một thời gian dài. Cặp của học sinh tiểu học thường có quai đeo hai bên, bảo vệ sự phát triển tự nhiên cho hệ cơ và xương của trẻ em. Cặp dành cho người trưởng thành thường có dây đeo một bên, tạo sự trưởng thành, năng động. Bên trong có nhiều ngăn để đựng sách vở, bút viết, một số cặp còn có ngăn để đựng áo mưa hoặc chai nước. Các ngăn cặp được may thi mỉ, đường chỉ chắc chắn để có thể chứa được nhiều vật dụng. Thường có hai ngăn lớn và một ngăn nhỏ. Ngăn lớn dùng để đựng sách vở, laptop. Và ngăn nhỏ để đồ dùng học tập.

Có nhiều loại cặp sách khác nhau như: Cặp táp, cặp da, balo. Với nhiều nhãn hiệu nổi tiếng như: Của Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc: Tian Ling, Ling Hao, mang những phong cách thiết kế riêng biệt. Tuy nhiên cách làm chúng đều có phần giống nhau. Lựa chọn chất liệu làm cặp cũng rất đa dạng. Có thể là vải nỉ, vải bố, da cá, da nhân tạo, vải tổng hợp. Ngày nay, để hưởng ứng chiến dịch bảo vệ môi trường, cặp tái chế cũng đang rất phổ biến. Việc tái chế lại chất liệu có thể sử dụng được lâu dài, bớt mùi nhưng vẫn giữ được nét đặc trưng của chất liệu đó. Bởi vậy, cặp tái chế ngày nay được đánh giá cao và được mọi người hưởng ứng nhiệt tình. Quá trình khâu mau là quá trình vô cùng quan trọng. Thông thường các xí nghiệp sử dụng máy may để may từng phần của chiếc cặp lại với nhau theo thiết kế. Các công nhân may phải là người có kinh nghiệm lâu năm và là người con tinh thần trách nhiệm, nghiêm túc cao độ thì mới giảm thiểu sự sai sót tối đa. Cuối cùng là quá trình ghép nối các phần của cặp lại với nhau. Ghép các phần đã được may thành một chiếc cặp hoàn chỉnh rồi được tung ra thị trường với những giá cả khác nhau.

Tùy theo từng đối tượng mà con người có những cách sử dụng cặp khác nhau. Học sinh nữ thường dùng tay xách cặp hoặc ôm cặp vào người. Để thể hiện sự dịu dàng, thùy mị, nữ tính.Học sinh nam thường đeo chéo cặp sang một bên làm toát lên sự khí phách, hiên ngang, nam tính. Đeo cặp sang một bên còn thể hiện sự tự tin và năng động của các cậu thanh niên trẻ trung, nhiệt huyết. Học sinh tiểu học thường là đeo sau lưng để dễ chạy nhảy, chơi đùa cùng đám bạn. Nó phù hợp với sự nhí nhảnh, ngây thơ của lứa tuổi cấp 1. Còn các nhà doanh nhân sử dụng các loại cặp đắt tiền, xịn, thường thì họ xách trên tay. Thể hiện họ thật sự là những nhà doanh nhân thành đạt và có được nhiều thành công cũng như sự giúp ích của họ dành cho đất nước. Nhìn chung, khi mang cặp cần lưu ý không nên mang cặp quá nặng, thường xuyên thay đổi tay xách và vai đeo để đảm bảo sự phát triển cân đối của cơ thể.

Cặp là vật để chúng ta đựng sách vở, bút viết mỗi khi đến trường. Nó cũng là vật để che nắng, che mưa cho sách vở. Một số bạn cũng sử dụng cặp để che mưa cho chính bản thân. Cặp cũng là vật đã để lại không biết bao nhiêu kỷ niệm vui, buồn, đồng thời cũng tô lên nét đẹp của tuổi học trò – cái tuổi đẹp nhất trong cuộc đời của mỗi người chúng ta.

Cặp sách ngày càng được sáng tạo theo nhiều kiểu dáng mẫu mà mới để phục vụ thị hiếu của người tiêu dùng. Nó còn là vật mang theo bao kỉ niệm đẹp đẽ của tuổi học trò.

Tuổi học trò của chúng ta ghi dấu với những ngày cùng các bạn đến trường, cười nói và vui đùa với nhau. Nhưng không phải ai cũng biết chúng ta luôn có một người bạn âm thầm ở sau lưng theo dõi và giúp đỡ chúng ta ngày nắng cũng như ngày mưa. Đó là những chiếc cặp sách.

Quê hương của chiếc cặp ở một nơi rất xa xôi. Đó là nước Mỹ. Nó lần đầu tiên được sản xuất ở cường quốc này vào năm 1988 với phong cách cổ điển. Nhờ sự tiện lợi và công dụng tuyệt vời, nó trở nên phổ biến trên toàn thế giới. Mỗi loại cặp sẽ có cấu tạo khác nhau nhưng nhìn chung luôn đảm bảo hai phần. Thứ nhất là phần bên ngoài. Đó có thể là hai dây đeo hai bên, cũng có thể là tay cầm. Ngoài ra còn có nắp mở hoặc những chiếc khóa. Phần thứ hai là phần bên trong gồm các ngăn để đựng đồ, có ngăn to ngăn bé. Thậm chí trong một ngăn to còn có thêm một vài ngăn bé xíu để đựng các phụ kiện nhỏ. Một chiếc cặp có thể có ít hoặc nhiều ngăn, tùy vào nhu cầu của người sử dụng. Công đoạn để làm ra một chiếc cặp cũng đòi hỏi nhiều sự tỉ mỉ.

Các hãng cặp phải tự lên ý tưởng và thiết kế kiểu dáng mang dấu ấn thương hiệu mà vẫn phù hợp với tiêu chí khách hàng. Sau đó là sự lựa chọn chất liệu thường lại vải nỉ, vải bố, vải da. Đó là những loại vải bền và đẹp, chi phí lại phải chăng. Tuy nhiên chúng cần phải được qua một số khâu xử lí để loại bỏ mùi. Đến khâu quan trọng nhất là khâu may. Các bộ phận sẽ được may rời rồi ghép lại với nhau. Những người thợ may chăm chú vào từng đường chỉ, những chiếc máy hoạt động ngày đêm. Trước khi chiếc cặp được xuất ra thị trường sẽ được kiểm tra xem có lỗi không và đóng gói. Quy trình chung là như thế nhưng cũng sản xuất ra rất nhiều loại cặp như cặp táp, cặp da hay ba-lo. Một số hãng cặp nổi tiếng được yêu thích đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc, hay hãng Thủ Đô Vàng.

Nhắc đến cặp sách, người ta hay nghĩ ngay đến đối tượng sử dụng là học sinh. Nhưng trên thực tế chúng dành cho mọi đối tượng. Với các em nhỏ hay cấp một, cấp hai, những chiếc cặp còn được in hình công chúa siêu nhân với rực rỡ sắc màu. Cặp sách giúp đựng đồ dùng, sách vở tài liệu, tạo cho người dùng sự gọn gàng và chững chạc, tránh làm thất thoát đồ. Chưa kể với sự cải tiến không ngừng về kiểu dáng, những chiếc cặp sách giờ đây còn thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ của người dùng, có thể biến nó thành một phụ kiện giúp bạn nổi bật giữa đám đông. Với học sinh, những cô cậu học trò tinh nghịch còn chẳng ngại dùng cặp để che nắng che mưa. Nó cũng giúp bảo quản sách vơt khỏi các tác nhân bên ngoài. Và chiếc cặp là một kỉ vật thiêng liêng của quãng đời học sinh. Có những người vẫn giữ gìn và trân quý chiếc cặp một thuở đến trường dù nó đã sờn cũ theo năm tháng. Vì giờ đây chiếc cặp ấy đã hóa thành nơi lưu giữ ký ức.

Để chiếc cặp được bền lâu, chúng ta nên có ý thức giữ gìn. Không nên vứt cặp lung tung mà sau khi sử dụng thì nên treo gọn gàng. Thường xuyên đem ra vệ sinh giặt giũ để loại bỏ bụi bẩn, tránh mốc meo, trông chiếc cặp luôn tươi mới. Ngoài ra chúng ta nên mang đồ vừa đủ với trọng lượng mà chiếc cặp có thể chứa để tránh hỏng khóa hoặc đứt dây đeo.

Trong cuộc sống chúng ta rất cần sự trợ giúp của những chiếc cặp sách để công việc đơn giản hơn. Bởi vậy hãy yêu thương và trân trọng ngay cả những đồ vật thân quen vì chúng thực sự có giá trị với chúng ta.

Ai đã từng trải qua thời học sinh, chắc hẳn bên cạnh những vật dụng thân thương như bút, vở, sách, thước, thì chiếc cặp sách cũng là một phần không thể thiếu mỗi ngày. Chiếc cặp đã gắn bó với chúng ta trong rất nhiều năm học với rất nhiều công dụng hữu ích.

Có thể nói, trong số các vật dụng thì chiếc cặp có hình dạng to nhất. Chẳng biết tự bao giờ, chiếc cặp được ra đời nhằm đáp ứng những nhu cầu đựng các vật dụng cho con người. Từ thuở ông cha ta, hình dáng và chất liệu của chiếc cặp rất đơn giản, chỉ bao gồm những mảnh da hoặc miếng vải lớn được may nối lại với nhau, nắp cặp có khóa kéo hoặc dây kéo để đóng mở cặp. Việc phát minh ra chiếc cặp sách được ra đời vào năm 1988, trải qua nhiều năm, chiếc cặp đã có nhiều cải tiến. Tuy nhiên, những bộ phận quan trọng nhất của chiếc cặp vẫn bao gồm: nắp cặp, quai xách, khóa kéo, các ngăn khóa. Mỗi ngăn trong chiếc cặp sẽ có những công dụng khác nhau, như ngăn to dùng để đựng sách, bài kiểm tra để sách vở không bị nhăn nhúm, còn ngăn bé thì để đựng đồ dùng học tập, áo mưa, ví tiền và các vật dụng cá nhân khác.

Để sản xuất ra được một chiếc cặp, yêu cầu người làm phải rất tỉ mỉ, cẩn thận và trải qua nhiều công đoạn. Khâu lựa chọn chất liệu là quan trọng nhất, vì tùy thuộc vào yêu cầu và giá tiền mà có rất nhiều loại chất liệu được lựa chọn. Ví dụ như, đối với các bạn học sinh nhỏ tuổi thì cần lựa chọn loại vải nhẹ, mềm để không gây sức nặng trên đôi vai của các bạn. Đối với những bạn lớn hơn, thì thường là chất liệu da, vừa để chống thấm nước, vừa để phù hợp với lứa tuổi của các bạn. Đặc biệt hiện nay, cặp còn được làm chất liệu bằng nhựa nhẹ, phía dưới được lắp bánh xe để các bạn học sinh có thể kéo, thay vì phải đeo cặp cùng rất nhiều sách vở trên vai. Màu sắc của chiếc cặp cũng rất đa dạng và bắt mắt, với các hình ảnh và màu sắc sặc sỡ, thu hút các bạn học sinh.

Nhờ có chiếc cặp mà mỗi ngày đi học, chúng ta không cần lo lắng đến việc để sách vở bừa bộn, hay lo trời nắng mưa ảnh hưởng đến các đồ vật. Chiếc cặp còn dành được rất nhiều tình cảm của các bạn học sinh, khi tôi vẫn nhớ đến đầu tiên, được nhận món quà đầu tiên là chiếc cặp mới tinh màu hồng. Cảm xúc của lần ấy vẫn mãi in đậm trong tôi. Chiếc cặp đi theo những ngày đầu đến trường, chứng kiến các bạn học sinh miệt mài, chăm chỉ học tập.

Để bảo vệ độ bền của chiếc cặp, chúng ta cần sắp xếp hợp lý những vật dụng phía trong chiếc cặp để tránh bị đứt dây do quá nặng. Hơn nữa, nếu đeo chiếc cặp vượt quá 15% trọng lượng cơ thể của mình, sẽ gây ra các căn bệnh về vai và lưng, ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển xương của các bạn học sinh. Khi mua cặp, nên chọn loại quai đeo có độn bông, mút hoặc vải. Hiện nay, ở Nhật bản còn có loại cặp được sản xuất riêng cho học sinh tiểu học. Tuy giá thành hơi cao, nhưng về chất liệu và hình dáng thì vô cùng gọn nhẹ, phù hợp với nhu cầu và sức khỏe của các bạn. Chúng ta cần có ý thức giữ gìn chiếc cặp, lau khô khi chiếc cặp bị ướt bởi trời mưa, các dây kéo và ổ khóa thì cần được sử dụng nhẹ nhàng.

Tuy chiếc cặp chỉ là một đồ vật nhưng tầm quan trọng và mức độ thân thiết chẳng khác nào một người bạn với mỗi người học sinh. Chiếc cặp luôn đồng hành với chúng ta đến trường, giúp ta mang những nguồn tri thức mới.

Trên mọi nẻo đường của cuộc sống, nẻo đường nào cũng luôn có sự góp mặt của những đồ vật hữu ích. Nếu như với mỗi nhiếp ảnh gia, máy ảnh là vật bất ly thân thì với tất cả học sinh, chiếc cặp sách lại là thứ không thể không mang theo bên mình. Cặp sách là một trong những đồ dùng quen thuộc của lớp lớp học sinh.

Cặp sách ra đời theo nhu cầu chứa đựng đồ vật trên những quãng đường dài. Con người đã nghĩ đến một túi xách. Cặp sách sơ khai chỉ là một cái túi có buộc dây. Cuộc sống phát triển, người ta muốn đựng được nhiều đồ hơn nên cải tiến những chiếc túi đó. Cặp sách nhờ vậy cũng ra đời theo. Năm 1988 từ đó đến nay, hình thức và chức năng của chiếc cặp không ngừng được sáng tạo để phù hợp hơn với nhu cầu sử dụng và văn hóa của các quốc gia. Chắc chắn một điều rằng, chiếc cặp xách có thể được đưa vào danh sách hàng loạt những phát minh quan trọng của loài người. Năm 1988, nước Mỹ lần đầu tiên sản xuất ra chiếc cặp sách mang phong cách cổ điển. Sau đó, nó được sử dụng tại nhiều nơi ở ỹ và nhanh chóng phổ biến trên toàn thế giới. Học sinh sử dụng những chiếc cặp để đựng sách vở khi đến trường nên nó được gọi là cặp sách học sinh.

Do nhu cầu và thị hiếu người dùng, cặp sách được thiết kế phong phú đa dạng. Cặp sách mang hình dáng chung là hình chữ nhật hoặc hình thang cân, được thiết kế kích thước đựng vừa hoặc rộng hơn quyển sách chiều dài rộng, cao tùy thuộc nhu cầu và đối tượng sử dụng. Các em học sinh nhỏ tuổi hơn có thể dùng chiếc cặp sách nhỏ nhẹ vừa sức của mình. Trước đây, cặp sách chủ yếu được làm bằng vải nilon, cotton bền và chắc, da giả hoặc vải mềm. Sau này, người ta còn dùng nhựa dẻo và vải nhân tạo. Màu sắc của cặp sách rất đa dạng, học sinh cấp hai, cấp ba thường thích màu đơn giản là màu nâu, đen. Bắt mắt hơn thì sẽ là nhiều màu kết hợp, trang trí thêm hình vẽ yêu thích như hoạt hình, búp bê, siêu nhân với học sinh nhỏ tuổi.

Cặp sách là vật dụng đựng sách của học sinh nên có thiết kế chuẩn mực chung. Nó cấu tạo bởi khung, các ngăn chứa, quai xách, dây đeo, để kẹp, nắp đậy, dây kéo. Khung cặp làm bằng thép, nhựa cứng hoặc giấy cứng, được tạo ra để giữ cho cặp không bị biến dạng. Mỗi chiếc cặp thường có ít nhất ba ngăn được ngăn cách với nhau và đóng mở nhờ dây kéo hoặc nắp đậy. Dây kéo sử dụng khóa, nắp đậy có thể dùng nam châm hoặc chất dính. Trong các ngăn cặp sẽ có ngăn chính đựng sách, vở. Ngăn này rộng hơn các ngăn khác. Ngoài ra sẽ có ngăn nhỏ ở hai bên ngăn chính để đựng đồ dùng nhỏ hơn như bút, thước, chì, compa. Ngoài ra nhiều chiếc cặp còn có cả ngăn phụ ở hai bên, dạng lưới thuận tiện cho việc mang nước hoặc ô đi học. Học sinh có thể xách cặp nhờ quai xách hoặc đeo nó lên vai bằng dây đeo cân đối với chiều cao cơ thể.

Mỗi chiếc cặp lại có một logo, nhãn hiệu riêng dán bên ngoài cùng thông tin sản phẩm. Có nhiều thương hiệu đã trở nên nổi tiếng, nhận được sự tin dùng của nhiều thế hệ như Thủ đô vàng. Cặp sách bước vào cuộc sống và trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống ấy. Đặc biệt, nó chính là người bạn đồng hành của chúng ta trong suốt quãng đời học sinh. Cặp sách bảo vệ những cuốn sách, quyển vở, đồ dùng học tập khỏi nắng, khỏi mưa, tiếp sức cho con đường chiếm lĩnh tri thức. Suốt tháng năm học trò, nó chính là người chứng kiến bao buồn vui, ngây thơ và hồn nhiên của một thời hoa phượng đỏ. Ngày còn đi học, cô cậu học trò nào chẳng tung tăng cắp sách đến trường. Lớn lên rồi, trưởng thành, đi làm, bao người vẫn tin dùng cặp sách để đựng tài liệu, máy vi tính phục vụ cho sự nghiệp của mình.

Học tập là hành trình không dừng chân của tất cả chúng ta. Và chiếc cặp sách chính là người bạn đồng hành hữu ích. Nhiều loại túi xách hiện đại ra đời vẫn không làm mất đi ý nghĩa quan trọng của chiếc cặp sách – thứ mà mỗi khi nhắc tới ai cũng nghĩ ngay tới quãng đời học sinh.

Đời học sinh gắn liền với biết bao thứ đồ dùng học tập, nào bút, nào vở, nào thước và nhiều thứ khác nữa. Nhưng có lẽ gắn bó nhất vẫn là chiếc cặp sách, nó được ví như người anh cả trong những đồ dùng học tập của đám học trò chúng tôi, che chở, bảo vệ cho sách vở, bút thước khỏi rơi vãi, thất lạc.

Sơ lược về lịch sử, cặp sách được sản xuất và đưa vào sử dụng lần đầu tiên tại Mỹ vào năm 1988, với phong cách đậm chất cổ điển và kiểu dáng đơn giản. Sau đó với nhiều lợi ích trong quá trình sử dụng, trào lưu dùng cặp sách đã nhanh chóng lan rộng khắp Mỹ và sang nhiều nơi trên thế giới, trở thành một phụ kiện thiết yếu. Cặp sách có cấu tạo tương đối đơn giản, bên ngoài được che đậy bằng mặt cặp, phía trên thân cặp có gắn quai để xách, một số cặp có cả quai để đeo. Tùy vào loại cặp nhà sản xuất sẽ thiết kế nắp đóng hoặc khóa kéo để đóng mở cặp cho dễ dàng. Phía bên trong cặp được chia làm nhiều ngăn để đựng sách vở, bút, thước, và các vật dụng khác cho khỏi lẫn lộn vào nhau, thuận tiện cho việc tìm kiếm đồ dùng.

Về chủng loại, qua một thời gian dài phát triển, ngày nay cặp sách có rất nhiều mẫu mã đa dạng khác nhau, phù hợp với mục đích sử dụng của từng đối tượng khác nhau, với nhiều tên gọi như: Ba lô, túi xách, cặp táp, cặp da. Trên thị trường hiện nay có rất nhiều thương hiệu lớn chuyên sản xuất các loại cặp này phải kể đến như: Simplecarry, Herschel, Jansport, Tucano, Nike, The North Face các thương hiệu này chủ yếu đến từ Mỹ, Canada và Nhật Bản. Riêng ở Việt Nam thì có Sakos cũng khá được ưa chuộng. Tuy khác nhà sản xuất nhưng đại đa số chúng đều có chung một vài kiểu dáng và thiết kế nhất định.

Để sản xuất cặp sách các công ty may thường lựa chọn các chất liệu có độ bền cao, như vải nỉ, vải bò, vải bố, vải giả da. Với các loại cặp đắt tiền thì da động vật là lựa chọn số 1, đơn cử là da cá sấu, ngoài ra còn có nhiều chất liệu đặc biệt khác. Các nhà tạo mẫu sẽ tiến hành thiết kế mẫu, rồi gửi bản vẽ đến xưởng may để tiến hành cắt vải theo mẫu của từng bộ phận, sau đó ráp các phần lại với nhau bằng máy may công nghiệp. Thường thì cặp sách được sản xuất đại trà với một số lượng lớn theo dây chuyền có sẵn, nhằm giảm chi phí nhân công và nâng cao hiệu suất, giảm giá thành.

Với mỗi một nhãn hiệu, kiểu dáng cặp sách, nhà sản xuất sẽ đưa ra một mức giá khác nhau, mức giá bình dân trong tầm khoảng vài trăm ngàn là có một chiếc cặp xinh xắn, tuy nhiên cũng có những chiếc cặp cộp mác hàng hiệu với giá lên tới hàng chục triệu đồng. Vì thế tùy vào giới tính, độ tuổi và khả năng kinh tế thì mỗi người nên lựa chọn cho mình một chiếc cặp phù hợp, và cách sử dụng cặp của mỗi người cũng khác nhau. Các bạn học sinh nữ thì đeo cặp trên vai hoặc ôm cặp nhìn vừa dễ thương lại dịu dàng nữ tính, các bạn nam thì thích đeo cặp chéo hoặc mang ba lô thể hiện sự tự tin, mạnh mẽ. Đối với người đi làm nơi công sở, họ thường chọn cho mình chiếc cặp có giá trị cao, nam thì xách cặp da, nữ thì đeo túi xách thể hiện sự nghiêm túc, trưởng thành.

Tuy nhiên cho dù có là ai, dùng loại cặp sách nào thì cũng nên lưu ý cách sử dụng, không nên xách cặp quá nặng để tránh mỏi tay và hư hỏng cặp sách vì quá tải. Bất kỳ đồ dùng nào cũng vậy khi sử dụng chúng ta cũng cần phải bảo quản cẩn thận, đặc biệt là cặp sách, vật dụng luôn đi theo bên cạnh ta. Chúng ta không nên quăng hay ném cặp lung tung mà nên để cặp gọn gàng vào một góc bàn học hoặc bàn làm việc cho sạch sẽ. Định kỳ lau chùi và giặt cặp thật cẩn thận để giữ gìn cho cặp luôn sạch đẹp. Nếu chẳng may cặp bị rách hay sứt chỉ, hãy đem đi sửa, không nên bỏ đi để tránh lãng phí.

Công dụng chủ yếu của cặp sách là để đựng đồ dùng học tập cho học sinh khi đến trường, ngoài ra nó còn là nơi để tài liệu, giấy tờ hay các đồ dùng cá nhân khác. Cặp sách là người bạn thân thiết theo bước chân chúng ta tới trường mỗi ngày, chẳng quản ngại nắng mưa, ghi vào trong lòng mỗi học sinh biết bao kỷ niệm yêu dấu, chẳng phai nhòa.

Như những dụng cụ học tập khác, cặp sách đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong bước đường thành công của từng học sinh, như người hùng hy sinh thầm lặng, chẳng xung phong chiến đấu như anh bút, anh vở, mà lúc nào cũng âm thầm che chở, là hậu phương vững chắc. Vì thế chúng ta cần phải hết sức trân trọng chiếc cặp sách thân yêu của mình, bởi lẽ nếu quên cặp sách đồng nghĩa với việc quên hết tất cả bút, thước, sách vở.

Đã là một học sinh chăm ngoan cắp sách đến trường thì ai cũng phải có những đồ dùng học tập thân thiết. Trong số đó, gần gũi với ta nhất có lẽ là bạn cặp sách.

Cặp sách là phương tiện cần thiết dùng để đựng sách vở, đồ dùng… Có thể nhận thấy rằng kể từ khi con người có nhu cầu về lưu giữ và mang theo đồ vật bên mình thì cặp sách đã có chỗ đứng trong đời sống hằng ngày.

Theo một số nguồn đáng tin cậy thì vào năm 1988, chiếc cặp đầu tiên đã ra đời ở nước Mỹ. Lúc này, cặp còn mang phong cách cổ điển và ít được ưa chuộng. Nhưng sau năm 1988, nhờ quá trình tân trang và cải tiến, cặp dần trở nên phổ biến và kết bạn với bạn bè khắp thế giới.

Cặp gồm có nhiều loại như cặp da, ba-lô, cặp dây đeo… Họ hàng nhà này có phần gần gũi với túi xách, bóp ví,… Tuy mỗi loại đều có nét đẹp riêng song đều có cấu tạo khá giống nhau.

Hầu hết cặp sách thường được thiết kế gồm cấu tạo ba phần là mặt ngoài, phần lưng và mặt trong. Mặt ngoài gồm có mặt cặp, quai, nắp mở hay phéc-mơ-tuya… Mặt cặp thường được trang trí lộng lẫy bằng các anh siêu nhân mạnh mẽ hay các cô tiên duyên dáng nhưng đôi khi chỉ đơn giản khoác bộ áo một màu. Hầu như mặt cặp đều có màu tối để tránh bẩn. Quai cặp gồm có quai xách và quai đeo. Quai xách thường được gắn phía trên cùng của chiếc cặp, để người dùng xách cặp bằng tay. Quai đeo gồm có hai cái gắn sau lưng cặp, được thiết kế giúp giảm trọng lượng đồ vật mang theo, ngăn ngừa cong vẹo cột sống. Dựa theo nguyên tắc đòn bẩy, quai còn có khóa tăng giảm chiều dài giúp điều chỉnh linh hoạt theo vóc dáng người mang. Khóa thường làm bằng nhựa hoặc hợp kim, bẻ không gãy và đều không sử dụng chất độc hại. Khóa cặp đạt tiêu chuẩn nhất là khóa nhựa châu Âu. Song song với khóa nhựa còn có những hàng phéc-mơ-tuya xếp thành dải như những chiếc miệng mở ra rồi đóng lại. Những nhà sản xuất cũng rất am hiểu khách hàng khi họ may thêm cho chúng ta hai túi đựng nước, ép sát vào hai bên chiếc cặp.

Nối liền giữa mặt ngoài và mặt trong chiếc cặp là phần lưng cặp. Phần lưng thường đệm mút và có rãnh thoát khí giúp ta thấy êm và thoáng mát khi mang.

Mở cặp ra, ta sẽ thấy mặt trong của chiếc cặp. Phần này gồm nhiều ngăn được may nối tiếp nhau. Chúng là những chiếc khoang xinh xắn để ta đựng sách vở, bút thước, tài liệu… Thường trong một chiếc cặp có cắt ra một ngăn nhỏ hơn để đựng tiền hoặc những vật nhỏ. Tùy vào người dùng mà các ngăn, các túi được phân công nhiệm vụ rõ ràng giúp tìm kiếm nhanh và hiệu quả.

Trải qua nhiều năm, chiếc cặp vẫn nằm trên lưng cô cậu học sinh, sinh viên; cùng họ đến trường. Cặp đã không thể tách rời một giây phút nào khỏi người học trò. Ngày nay, rảo bước trên phố, ta luôn bắt gặp những hãng cặp uy tín và chất lượng: Miti, Bom, The North Face… Tuy khác nhau nơi mẫu mã, giá thành nhưng chúng đều giống nhau về phương tiện, cách thức sản xuất.

Để làm ra một chiếc cặp, người sản xuất phải trải qua một quá trình. Khâu đầu tiên là lựa chọn vật liệu, loại vải. Đa số nhà sản xuất chọn vải nilon tốt vì loại này chống thấm và ít độc hại. Bên cạnh đó, da cũng là nguyên liệu tốt vì tính bền và không thấm nước. Sau khi lựa chọn chất liệu, người ta chuyển sang xử lí. Ở giai đoạn này, chủ yếu là xử lí bề mặt như làm nhẵn, dát mỏng hay chỉnh sửa. Xong xuôi, vật liệu được chuyển về các xí nghiệp để tiến hành quá trình khâu may. Hiện nay, chủ yếu dùng máy may vì nó chính xác, đều và đẹp. Khi đã may xong từng phần, người ta đem nối ghép chúng lại. Và thế là một chiếc cặp ra đời! Nó sẽ rong chơi ở các cửa tiệm trong một thời gian ngắn rồi đến tay người tiêu dùng và thực hiện sứ mệnh cao cả của mình.

Cặp đẹp hay xấu, bền hay nhanh hư còn phụ thuộc vào các cô cậu chủ nhân đáng kính. Để cặp giữ được lâu, đầu tiên ta phải không được bắt nó mang vật quá nặng. Tiếp đó, ta không được quăng cặp mạnh tay vì sẽ làm đứt chỉ. Ta cũng phải lau chùi hoặc giặt cặp theo định kì để giữ cặp được mới, đẹp. Lưu ý, không dùng hóa chất tẩy rửa kẻo làm bay màu và không ủi vì sẽ gây biến dạng khuôn mặt xinh xắn của cặp. Hãy là một chủ nhân tốt!

Cặp có bền, có đẹp thì mới có thể đựng sách vở, bút thước,… Mới có thể che nắng, che mưa cho sách vở. Mới có thể che cho chủ nhân mình khỏi cái nắng, cơn mưa bất chợt!

Khi sử dụng, người mang thường có cách mang riêng. Phụ nữ thường ôm cặp vào người để thể hiện sự dịu dàng, thùy mị. Trong khi đó, đàn ông đeo chéo sang một bên hoặc xách trên tay để ra phong thái hiên ngang, đàng hoàng. Lứa tuổi học sinh thường đeo sau lưng để tay chân tự do, thoải mái chơi đùa, chạy nhảy.

Khi đeo cặp lâu ngày khiến cặp hư cũ, tôi mách bạn nên dùng xi đánh giày không màu đánh một lớp mỏng lên bề mặt cặp. Như phép màu, cặp sẽ bóng loáng và mới toanh trở lại!

Cặp là người bạn chí thân chí thiết của bao nhiêu người bởi công dụng mang đựng rất cần thiết của nó. Tôi vẫn luôn tự nhủ với mình rằng: “Cặp – người bạn tri kỉ của tôi”. Hãy yêu cặp và giữ gìn cặp cẩn thận để nó mãi mới, đẹp như thuở mới mua về.

Bước vào năm học mới, bố mua cho em một chiếc cặp sách ở quầy đồ dùng thiếu nhi. Từ buổi đầu khai giảng, chiếc cặp đã là người bạn nhỏ đáng yêu của em. Chiếc cặp của em hình chữ nhật, chiều dài của cặp khoảng hai gang tay người lớn, chiều ngang của cặp khoảng một gang rưỡi, đáy cặp rộng đến gần một gang tay của em. Cặp của em là loại cặp học sinh làm bằng giả da màu xanh da trời. Mỗi lần xoa tay lên mặt cặp mịn và láng bóng ấy, em cảm thấy mát và trơn, thích thú vô cùng. Đường khâu xung quanh cặp làm bằng chỉ dù màu đỏ, mũi khâu đều và thẳng. Các góc cặp lượn tròn có viền ni lông màu trắng tăng thêm vẻ duyên dáng cho chiếc cặp. Phía trên có một quai xách to bằng nửa cổ tay em, cong cong hình cầu vồng được đính chặt bằng hai chiếc đinh dẹp. Quai đeo ở sau lưng được may bằng vải ni lông to bản trơn như loại dây dù, rất chắc chắn. Em thử đeo chiếc cặp lên vai, đứng trước gương ngắm nghía, trông em thật chững chạc và khỏe mạnh. Mặt trước của cặp là một cái ngăn bằng tấm mê ca mỏng, phía trong là bức tranh hai chú gấu Misa đang dắt tay nhau đi trên hè phố tấp nập người qua lại. Em dùng tay ấn lên hai chiếc khóa bằng mạ kền sáng loáng như đôi mắt long lanh đang chăm chú nhìn em. “Tách! Tách!” Âm thanh phát ra từ ổ khóa nghe thật vui tai. Nắp cặp được mở, lộ ra hai ngăn được lót bằng những mảnh vải nỉ mềm, mỏng với những đường sọc vằn như những nét hoa văn trang nhã. Ngăn cặp thứ nhất, em đựng sách vở. Ngăn thứ hai, em đựng các đồ dùng học tập như: hộp bút, thước kẻ, eke đo độ, bảng con, bông bảng, tập giấy kiểm tra in sẵn…

Hàng ngày, cặp theo bước chân em tung tăng đến trường, đến lớp và ngồi yên lặng trong ngăn bàn theo dõi em học tập. Về đến nhà, em nâng niu chiếc cặp một lúc rồi mới để vào chỗ quy định. Em coi chiếc cặp như người bạn thân thiết của mình. Em giữ gìn chiếc cặp rất cẩn thận, không để bụi bẩn bám vào và thường xuyên lau chùi bằng một chiếc khăn mùi soa mềm để giữ cặp được bền.

Bước vào năm học mới, mẹ đưa em đi chợ để sắm đồ dùng học tập. Nào là sách vở, bút thước và một chiếc cặp sách rất đẹp. Chiếc cặp sách của em được làm bằng vải cứng, có dáng hình chữ nhật và có màu xanh trông rất bắt mắt. Bên ngoài có in hình hai hai con búp bê vì mẹ biết em rất thích chơi búp bê. Giữa phần nắp cặp và thân cặp được gắn với nhau bằng hai móc nhựa, rất tiện lợi cho việc mở và đóng. Đằng sau là hai dây đeo để em có thể đeo cặp trên lưng, chiếc cặp còn có một quai xách phụ để khi đeo mỏi lưng em có thể xách bằng tay. Bên trong chiếc cặp có rất nhiều ngăn. Em đếm được tất cả năm ngăn, trong đó có hai ngăn rộng, hai ngăn nhỏ hơn và một ngăn bé. Hai ngăn rộng em dùng để đựng sách vở, một ngăn đựng sách và một ngăn đựng vở.

Một ngăn nhỏ hơn được dùng để đựng các đồ dùng học tập khác như hộp bút, bảng, hộp phấn, một ngăn nhỏ nữa em dùng để để mũ ca nô và khăn quàng đỏ. Đặc biệt chiếc cặp còn có một ngăn bé xíu dùng để đựng một số đồ quan trọng như tiền mẹ cho em ăn sáng và có một cuốn sổ nhỏ. Vì chiếc cặp có nhiều ngăn nên rất tiện lợi cho việc để đồ dùng, mỗi đồ dùng đều có vị trí riêng, tránh lộn xộn như khăn đỏ và mũ ca nô để với hộp phấn thì sẽ rất bẩn, đồng thời khi muốn lấy đồ dùng gì thì chỉ cần nhớ đúng ngăn là lấy sẽ rất nhanh, tránh mất quá nhiều thời gian. Hơn thế nữa, mỗi ngăn đều có một cái khóa riêng rất cẩn thận giúp mọi đồ dùng bên trong không bị rơi ra ngoài.

Bạn học sinh nào cũng có một chiếc cặp như vậy, nhưng em thấy chiếc cặp của em là đẹp nhất không bởi vì kiểu dáng của nó đẹp mà đó là chiếc cặp mà mẹ mua cho em. Nó thể hiện sự yêu thương quan tâm mà mẹ dành cho em. Chính vì vậy em giữ gìn chiếc cặp rất cẩn thận, khi đến lớp cũng như về nhà em để chiếc cặp nhẹ nhàng lên bàn học chứ không tùy tiện vứt mọi nơi khi về nhà, đặc biệt những hôm trời mưa em cho chiếc cặp vào một chiếc túi bóng để tránh bị ướt sẽ nhanh hỏng. Em rất yêu quý chiếc cặp sách của mình. Em hứa sẽ giữ gìn nó cẩn thận để chiếc cặp được bền và theo em suốt năm học.

Chiếc cặp sách vốn rất phổ biến trong đời sống, được sử dụng rộng rãi, đặc biệt là đối với lứa tuổi học sinh. Suốt quãng đời cắp sách tới trường, người học sinh luôn bầu bạn với cặp, sách, vở, bút, thước,… và coi đó là những vật dụng không thể thiếu được.

Cặp là một vật dụng dùng để chứa đựng và di chuyển đồ dùng khi đi xa, đi làm hoặc đi học… Chiếc cặp học sinh dùng để chứa đựng sách vở khi đến trường nên thường được gọi là cặp sách

Để chứa đựng những vật nhỏ khi đi xa, từ xa xưa con người đã nghĩ đến một túi xách. Lúc ban đầu chỉ là một cái túi có buộc dây. Khi xã hội phát triển, do nhu cầu cần chứa đựng nhiều hơn và di chuyển gọn nhẹ người ta đã sáng tạo ra những túi xách tiện lợi. Chiếc cặp đã ra đời từ đó. Năm 1988, nhận thấy đây là một cơ hội lớn, người Mỹ đã thiết kế những mẫu cặp và sản xuất hàng loạt. Tuy nhiên, nó vẫn còn mang phong cách cổ điển.

Từ đó đến nay, hình thức và chức năng của chiếc cặp không ngừng được sáng tạo để phù hợp hơn với nhu cầu sử dụng và văn hóa của các quốc gia. Chắc chắn một điều rằng, chiếc cặp xách có thể được đưa vào danh sách hàng loạt những phát minh quan trọng của loài người.

Từ chiếc cặp xách ấy, con người sử dụng để chứa đựng sách vở của học sinh khi đến trường. Bởi thế nó thường được gọi là cặp sách học sinh.

Hầu hết các cặp đều có hình chữ nhật hoặc hình thang cân. Kích thước: thường có chiều dài 40 cm, chiều cao 30 cm, chiều ngang 16 cm. Màu sắc: Thường màu đen hoặc được trang trí nhiều màu phù hợp với thị hiếu người sử dụng. Tùy theo lứa tuổi và sở thích mà người ta sản xuất cặp có màu sắc khác nhau.

Chất liệu chủ yếu được làm bằng vải nilon, cotton rất bền chắc. Cũng có nhiều chiếc cặp được làm bằng vải mềm, da thú, polyme dẻo. Ngày nay, người ta còn sản xuất những chiếc cặp bằng nhựa cứng hoặc kim loại nhẹ rất bền để dùng trong những công việc đặc dụng.

Cặp của học sinh thường được gọi thành cặp sách bởi nó được dùng để mang sách vở đến trường. Cặp sách học sinh thường được thiết kế phù hợp với đối tượng học sinh tùy theo từng lứa tuổi hết sức đa dạng và tiện lợi.

Chiếc cặp có cấu tạo rất đơn giản gồm: khung, các ngăn chứa, quai xách, quai mang (hoặc quai đeo), đế cặp, nắp đậy, dây kéo. Để giữ cho cặp không bị biến dạng khi sử dụng, người ta thường tạo khung cho cặp. Khung cặp có thể được làm bằng thép, nhựa cứng hoặc giấy cứng.

Mỗi cặp thường có ít nhất 4 ngăn chứa, được đóng mở bởi dây kéo hoặc nắp đậy. Ngăn lớn của cặp dùng chứa đựng sách, vở. Các màng ngăn được may chắc chắn. Trong các ngăn chứa lớn thường có các ngăn chứa nhỏ để đựng các vật nhỏ như hộp bút, thước và các vật dụng nhỏ gọn khác.

Mỗi cặp thường có một quai xách và một quai đeo. Quai xách ngắn, được gắn ở trên cùng giữa cặp. Quai xách dùng để xách cặp. Quai đeo dài hơn, móc vào phía hai đầu cặp bằng bộ phận móc kim loại để chống xoắn. Quai đeo dùng để đeo cặp trên vai, hỗ trợ lực cho quai xách. Đối với cặp học sinh thường có quai mang trên lưng.

Người ta còn gắn một đế nhựa cho cặp để giữ cặp đứng vững khi đặt xuống. Cặp sách học sinh thường không có đế. Nắp cặp là bộ phận bảo vệ không cho các vật dụng rơi ra ngoài. Nếu dùng dây kéo thì người ta không làm nắp đậy.

Để tạo ra một chiếc cặp sách người ta phải trải qua nhiều công đoạn phức tạp. Đầu tiên là phải thiết kế mẫu mã. Người ta thường thiết kế nhiều mẫu mã cho từng loại cặp khác nhau. Ở mỗi loại cặp người ta còn chọn cách trang trí, phối màu hoặc tạo các hoa văn bắt mắt thu hút người sử dụng

Lựa chọn chất liệu để làm cặp là khâu rất quan trọng. Chất liệu sử dụng thường là vải nỉ, vải bố, vải cotton cứng, da cá sấu, vải da. Sau khi có chất liệu, người ta đem cắt theo khuôn khổ định sẵn.

Thông thường các xí nghiệp sử dụng máy may để may từng phần của chiếc cặp lại với nhau theo thiết kế. Ngoài sản xuất công nghiệp, có một vài loại cặp người ta may thủ công, tạo ra những mẫu mã bắt mắt, phù hợp với người sử dụng. Những loại cặp này thường rất đắt tiền, thường dành cho những người giàu có.

Dù làm bằng chất liệu gì thì cặp cũng phải chắc, vì nó phải chứa rất nhiều các tập sách mỗi khi đến lớp. Kèm theo đó, kiểu dáng cặp cũng phải phù hợp. Con trai thì thường đeo cặp có quai sang một bên cho có khí phách, năng động. Con gái mặc áo dài thì ôm cặp trước ngực để có vẻ dịu dàng, thùy mị. Học sinh tiểu học thì đeo cặp ra sau lưng để dễ dàng chạy nhảy, vui đùa. Cùng với màu sắc, hiện đang thịnh hành rất nhiều loại cặp với nhiều màu sắc, hình ảnh đa dạng, phong phú, bắt mắt phù hợp cho từng lứa tuổi.

Mỗi loại cặp có giá cả khác nhau. Với cặp học sinh khoảng từ vài chục đến vài trăm nghìn một chiếc. Cặp của các doanh nhân có giá từ vài trăm đến vài triệu một chiếc.

Chiếc cặp giúp con người chứa đựng và di chuyển thuận lợi những vật dụng mỗi khi đi xa. Cặp là vật để chúng ta đựng sách vở, bút viết mỗi khi đến trường. Cặp cũng là vật để che nắng, che mưa cho sách vở, bảo vệ những vật dụng chứa ở bên trong nó. Cặp cũng là vật đã để lại không biết bao nhiêu kỷ niệm vui, buồn, đồng thời cũng tô lên nét đẹp của tuổi học trò.

Tùy theo từng đối tượng mà con người có những cách sử dụng cặp khác nhau. Cặp học sinh: thường xách trên tay, đeo trên vai hoặc mang trên lưng. Các dây đeo được thiết kế có bộ phận rút siết dây giúp điều chỉnh dây phù hợp với mỗi người. Cặp quai đeo vai thể hiện sự chững chạc, nghiêm túc. Cặp quai mang trên lưng thể hiện sự năng động, người đeo có thể chạy nhảy vui đùa. Cặp đeo ngang hông thể hiện sự dịu dàng, hồn nhiên nữ tính. Các nhà doanh nhân thường sử dụng các loại cặp đắt tiền, thường thì họ xách trên tay, gọn nhẹ và phong cách sang trọng.

Chiếc cặp khi đeo không nên vượt quá 15% trọng lượng cơ thể của mình. Nên xếp những đồ vật nặng nhất vào phần trong của cặp (phần tiếp giáp với lưng). Xếp sách vở và đồ dùng học tập sao cho chúng không bị xô lệch. Chắc chắn rằng những vật dụng để trong cặp đều cần thiết cho các hoạt động trong ngày.

Đối với cặp hai quai, chúng ta không nên đeo lủng lẳng một quai, dễ cong vẹo người. Đối với cặp chỉ có một quai, nên thay đổi vai đeo để tránh cong vẹo người. Khi mua cặp, nên chọn loại quai đeo có độn bông, mút hoặc vải,…

Ngày nay, có rất nhiều nhãn hiệu nổi tiếng như: Miti, Samsonite, Tian Ling, Ling Hao,…… Nhưng cho dù chúng đẹp đến đâu, bền cỡ nào đi chăng nữa, cũng từ từ theo thời gian mà hỏng dần đi nếu như chúng ta không biết cách bảo quản nó.

Muốn sử cặp được bền lâu ta phải tuân thủ các yêu cầu sử dụng hiệu quả do nhà sản xuất khuyến cáo không được để cặp sách gần lửa bởi cặp rất dễ bị cháy hoặc bị biến dạng. Cũng không để cặp nơi ẩm ướt, nơi có nhiều bụi hoặc dưới ánh nắng mặt trời quá lâu ngày. Thường xuyên lau chùi hoặc giặt cặp để giữ độ mới của cặp. Không quăng cặp hay mạnh tay để tránh làm rách cặp hay hư hao.

Cùng với những vật dụng tiện lợi khác, chiếc cặp sách đã trở thành một người bạn trung thành và luôn đồng hành với mỗi con người, đặc biệt là đối với những học sinh. Từ khi chiếc cặp sách ra đời đến nay nó đã thực sự đem lại sự tiện dụng to lớn trong cuộc sống con người.

Cập nhật thông tin chi tiết về Thuyết Minh Về Cây Bút Bi Lớp 9 trên website Tdhj.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!