Xu Hướng 2/2024 # Soạn Bài Vào Phủ Chúa Trịnh Soạn Văn 11 Tập 1 Tuần 1 (Trang 3) # Top 8 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài Vào Phủ Chúa Trịnh Soạn Văn 11 Tập 1 Tuần 1 (Trang 3) được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Tdhj.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Soạn bài Vào phủ chúa Trịnh

Với bài Soạn văn 11: Vào phủ chúa Trịnh, vô cùng hữu ích dành cho học sinh khi tìm hiểu về tác phẩm này.

Soạn văn Vào phủ chúa Trịnh – Mẫu 1

Soạn bài Vào phủ chúa Trịnh chi tiết

I. Tác giả

– Lê Hữu Trác (1720? – 1791) hiệu là Hải Thượng Lãn Ông.

– Ông là người làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương (nay thuộc huyện Mỹ Yên, tỉnh Hưng Yên).

– Ông là một danh y, không chỉ chữa bệnh mà còn soạn sách và mở trường dạy nghề thuốc để truyền bá y học.

– Tác phẩm: Bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh gồm 66 quyển, là công trình nghiên cứu y học xuất sắc nhất trong thời trung đại Việt Nam. Tác phẩm cũng ghi lại những cảm xúc chân thật của tác giả trong lúc lặn lội đi chữa bệnh ở các miền quê, bộc lộ tâm huyết và đức độ của người thầy thuốc.

II. Tác phẩm

1. Xuất xứ

– Thượng kinh kí sự (Kí sự đến kinh đô) là tập kí sự bằng chữ Hán, hoàn thành năm 1783, được xếp ở cuối bộ Hải Thượng y tông tâm lĩnh như một quyển phụ lục.

– Tác phẩm t ả quang cảnh ở kinh đô, cuộc sống xa hoa trong phủ chúa Trịnh và quyền uy, thế lực của nhà chúa – những điều Lê Hữu Trác mắt thấy tai nghe trong chuyến đi từ Hương Sơn ra Thăng Long chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán và chúa Trịnh Sâm. Qua đó, người đọc thấy được thái độ coi thường danh lợi của tác giả.

– Đoạn trích “Vào phủ chúa Trịnh” trích trong “Thượng kinh kí sự” nói về việc Lê Hữu Trác lên tới kinh đô, được dẫn vào phủ chúa để bắt mạch, kê đơn cho Trịnh Cán.

2. Thể loại

Kí sự là một thể kí, ghi chép sự việc, câu chuyện có thật và tương đối hoàn chỉnh.

3. Bố cục

Gồm 2 phần:

Phần 1. Từ đầu đến “nay người rút lui vào màn để tôi xem mạch Đông cung cho thật kỹ”: Cuộc sống xa hoa trong phủ chúa.

Phần 2. Còn lại: Cảnh Lê Hữu Trác khám bệnh cho thái tử Trịnh Cán.

4. Tóm tắt

Mùng 1 tháng 2, tôi được lệnh vào phủ chúa. Tôi bèn sửa sang áo mũ chỉnh tề, lên cáng vào phủ. Người truyền mệnh dẫn tôi qua mấy lần cửa. Tôi ngẩng đầu lên thấy đâu đâu cũng là cây cối um tùm, chim hót líu lo, muôn hoa đua thắm. Qua hành lang phía Tây, đến một cái nhà lớn. Đồ đạc bên trong đều được sơn son thếp vàng. Thánh thượng đang ngự ở đấy, xung quanh có phi tần chầu trực nên không thể yết kiến. Tôi được thiết đãi toàn của ngon vật lạ. Ăn xong tôi được đưa đến Đông cung để khám bệnh cho thế tử Trịnh Cán. Trong lòng tôi rất mâu thuẫn, nửa sợ bị cuốn vào vòng danh lợi, nửa vì chịu ơn của nước. Cuối cùng, tôi vẫn dốc lòng kê đơn cho thế tử. Tôi từ giã, lên cán trở về Trung Kiến. Trong vòng mười ngày, bạn bè trong kinh đều đến thăm hỏi.

III. Đọc – hiểu văn bản

1. Cuộc sống xa hoa trong phủ chúa

a. Quang cảnh

– Đường vào phủ:

Đau đâu cũng cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió đưa thoang thoảng mùi hương.

Qua mấy lần cửa mới đến cái điếm, điếm làm bên cái hồ, có những cây kì lạ và những hòn đá kì lạ. Trong điếm cột và bao lơn lượn vòng, kiểu cách xinh đẹp.

Hành lang nào cũng có thị vệ, quân sĩ canh gác.

– Trong phủ: Nhà Đại Đường, Quyển bổng, Gác tía với đồ nghi trượng sơn son thếp vàng, sập thếp vàng, võng điều, bàn ghế, đồ đạc nhân gian chưa từng thấy. Mâm vàng chén bạc, toàn đồ ăn toàn của ngon vật lạ.

– Nội cung: 5 – 6 lần trướng gấm, trong phòng thắp nến, giữa phòng có một cái sập thếp vàng, ghế rồng, nệm gấm, đèn sáp, hương hoa ngào ngạt.

b. Cách sinh hoạt

– Đến phủ chúa phải có thánh chỉ, có thẻ mới được vào. Để dẫn người vào phủ có một tên đầy tớ chạy đằng trước hét đường, lính đem cáng đón người thì chạy như ngựa lồng khiến người ngồi trong cáng dù được đón khám bệnh mà như chịu cực hình bị xóc một mẻ khổ không nói hết.

– Người giữ cửa quyền báo rộn ràng, người có việc quan qua lại như mắc cửi, vệ sĩ canh giữ cửa cung, quan truyền chỉ chuyên việc truyền mệnh… Các danh y của sáu cung, hai viện được tiến cử từ mọi nơi ngồi chờ đợi, túc trực ở phòng trà, các phi tần chầu chực xung quanh thánh thượng, người hầu đứng xung quanh thế tử, trong màn là che ngang sân là các cung nhân đứng xúm xít.

– Những lời xưng hô, bẩm tấu đều phải rất kính cẩn, lễ phép. Trong phủ còn có lệ kỵ húy rất đặc biệt, kiêng nhắc đến từ thuốc….

– Khám bệnh cho thế tử phải tuân theo một loạt các phép tắc…

2. Thái độ và tâm trạng tác giả khi vào phủ chúa Trịnh

a. Thái độ trước cuộc sống xa hoa trong phủ chúa:

Ngạc nhiên trước vẻ đẹp cao sang quyền quý.

Thờ ơ, dửng dưng với những quyến rũ vật chất.

Thể hiện sự không đồng tình với cuộc sống no đủ nhưng thiếu khí trời và tự do

b. Thái độ khi kê đơn cho thế tử

– Hiểu rõ nguyên nhân căn bệnh của thế tử.

– Đấu tranh nội tâm:

Hiểu rõ căn bệnh của thế tử, nhưng băn khoăn nếu chữa khỏi bệnh sẽ bị giữ lại trong phủ.

Suy nghĩ đến phương thuốc hòa hoãn, nhưng lương tâm y đức không cho phép.

Tổng kết: 

Nội dung: Qua đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh, tác giả đã vẽ lại một bức tranh sinh động về cuộc sống xa hoa, quyền quý của chúa Trịnh, đồng thời bộc lộ thái độ coi thường danh lợi.

Nghệ thuật: ngòi bút ghi chép chi tiết, chân thực, sắc sảo…

Soạn bài Vào phủ chúa Trịnh ngắn gọn

I. Trả lời câu hỏi

Câu 1. Quang cảnh trong phủ chúa được miêu tả như thế nào? Cung cách sinh hoạt trong phủ chúa ra sao? Những quan sát, ghi nhận này nói lên cách nhìn, thái độ của Lê Hữu Trác đối với cuộc sống nơi phủ chúa như thế nào?

* Quang cảnh

– Đường vào phủ:

Đau đâu cũng cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió đưa thoang thoảng mùi hương.

Qua mấy lần cửa mới đến cái điếm, điếm làm bên cái hồ, có những cây kì lạ và những hòn đá kì lạ. Trong điếm cột và bao lơn lượn vòng, kiểu cách xinh đẹp.

Hành lang nào cũng có thị vệ, quân sĩ canh gác.

– Trong phủ: Nhà Đại Đường, Quyển bổng, Gác tía với đồ nghi trượng sơn son thếp vàng, sập thếp vàng, võng điều, bàn ghế, đồ đạc nhân gian chưa từng thấy. Mâm vàng chén bạc, toàn đồ ăn toàn của ngon vật lạ.

– Nội cung: 5 – 6 lần trướng gấm, trong phòng thắp nến, giữa phòng có một cái sập thếp vàng, ghế rồng, nệm gấm, đèn sáp, hương hoa ngào ngạt.

* Cách sinh hoạt

– Đến phủ chúa phải có thánh chỉ, có thẻ mới được vào. Để dẫn người vào phủ có một tên đầy tớ chạy đằng trước hét đường, lính đem cáng đón người thì chạy như ngựa lồng khiến người ngồi trong cáng dù được đón khám bệnh mà như chịu cực hình bị xóc một mẻ khổ không nói hết.

– Người giữ cửa quyền báo rộn ràng, người có việc quan qua lại như mắc cửi, vệ sĩ canh giữ cửa cung, quan truyền chỉ chuyên việc truyền mệnh… Các danh y của sáu cung, hai viện được tiến cử từ mọi nơi ngồi chờ đợi, túc trực ở phòng trà, các phi tần chầu chực xung quanh thánh thượng, người hầu đứng xung quanh thế tử, trong màn là che ngang sân là các cung nhân đứng xúm xít.

– Những lời xưng hô, bẩm tấu đều phải rất kính cẩn, lễ phép. Trong phủ còn có lệ kỵ húy rất đặc biệt, kiêng nhắc đến từ thuốc….

– Khám bệnh cho thế tử phải tuân theo một loạt các phép tắc…

* Thái độ của Hải Thượng Lãn Ông:

Thờ ơ trước cuộc sống giàu sang, phú quý trong phủ chúa.

Không đồng tình với cách sống trong phủ chúa, nhận rõ đó là nguyên nhân dẫn đến căn bệnh của thế tử.

Câu 2. Phân tích những chi tiết trong đoạn trích mà anh (chị) cho là “đắt”, có tác dụng làm nổi bật giá trị hiện thực của tác phẩm.

– Khi bước chân vào phủ chúa phải đi qua nhiều lần cửa, mỗi cửa đều có lính canh gác và có điếm “Hậu mã túc trực”. Trong phủ chúa, đâu đâu cũng là cây cối um tùm, tiếng chim kêu ríu rít, các loài hoa đua nhau khoe sắc thắm và gió đưa thoang thoảng mùi hương. Bên trong lại càng lộng lẫy hơn cả. Nào là những đồ đạc mà có lẽ giai nhân trong nhà chưa từng thấy hết, nào là các đồ đồ nghị trượng đều được sơn son thếp vàng. Sau trong nội cung của các thê tử phải qua năm sáu lần trướng gấm, các đồ đạc cùng đều được sơn son thếp vàng, trên bày nệm gấm và hương hoa thơm ngào ngạt. Có thể thấy, quang cảnh nơi phủ chúa vô cùng xa hoa, giàu sang và thâm nghiêm. Đây có lẽ là quang cảnh thường thấy trong lịch sử bởi vua chúa là những người đứng đầu cai trị đất nước.

Câu 3. Cách chẩn đoán và chữa bệnh của Lê Hữu Trác cùng những diễn biến tâm tư của ông khi kê đơn cho ta hiểu gì về người thầy thuốc này?

– Ông hiểu rõ căn bệnh của thế tử, nhưng băn khoăn nếu mình chữa khỏi bệnh sẽ bị giữ lại trong phủ.

– Suy nghĩ đến phương thuốc hòa hoãn, nhưng lương tâm y đức không cho phép.

Câu 4. Theo anh (chị), bút pháp kí sự của tác giả có gì đặc sắc? Phân tích những nét đặc sắc đó.

– Giọng điệu tự nhiên, có sự đan xen giữa lời kể và lời bình của tác giả.

– Ghi chép trung thực những sự việc đã xảy ra.

II. Luyện tập

So sánh đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh với một tác phẩm (hoặc đoạn trích) kí khác của văn học trung đại Việt Nam mà anh (chị) đã đọc và nêu nhận xét về nét đặc sắc của đoạn trích này.

Gợi ý: So sánh với Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh.

– Giống nhau: Cho thấy cuộc sống xa hoa trong phủ chúa.

– Khác nhau:

Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh: Kể lại những thú vui của chúa Trịnh Sâm. Ghi chép chân thực và tỉ mỉ, giọng điệu khách quan nhưng khéo léo.

Vào phủ chúa Trịnh: Kể lại việc vào phủ khám bệnh cho thế tử Trịnh Cán. Quan sát tỉ mỉ, ngòi bút tinh tế; đan xen giữa lời kể và lời bình.

Soạn văn Vào phủ chúa Trịnh – Mẫu 2

Câu 1. Quang cảnh trong phủ chúa được miêu tả như thế nào? Cung cách sinh hoạt trong phủ chúa ra sao? Những quan sát, ghi nhận này nói lên cách nhìn, thái độ của Lê Hữu Trác đối với cuộc sống nơi phủ chúa như thế nào?

* Quang cảnh

– Đường vào phủ: Đâu đâu cũng cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió đưa thoang thoảng mùi hương; Qua mấy lần cửa mới đến cái điếm, điếm làm bên cái hồ, có những cây kì lạ và những hòn đá kì lạ. Trong điếm cột và bao lơn lượn vòng, kiểu cách xinh đẹp; Hành lang nào cũng có thị vệ, quân sĩ canh gác.

– Trong phủ: Nhà Đại Đường, Quyển bổng, Gác tía với đồ nghi trượng sơn son thếp vàng, sập thếp vàng, võng điều, bàn ghế, đồ đạc nhân gian chưa từng thấy. Mâm vàng chén bạc, toàn đồ ăn toàn của ngon vật lạ.

– Nội cung: 5 – 6 lần trướng gấm, trong phòng thắp nến, giữa phòng có một cái sập thếp vàng, ghế rồng, nệm gấm, đèn sáp, hương hoa ngào ngạt.

* Cách sinh hoạt

– Đến phủ chúa phải có thánh chỉ, có thẻ mới được vào. Để dẫn người vào phủ có một tên đầy tớ chạy đằng trước hét đường, lính đem cáng đón người thì chạy như ngựa lồng khiến người ngồi trong cáng dù được đón khám bệnh mà như chịu cực hình bị xóc một mẻ khổ không nói hết.

– Người giữ cửa quyền báo rộn ràng, người có việc quan qua lại như mắc cửi, vệ sĩ canh giữ cửa cung, quan truyền chỉ chuyên việc truyền mệnh… Các danh y của sáu cung, hai viện được tiến cử từ mọi nơi ngồi chờ đợi, túc trực ở phòng trà, các phi tần chầu chực xung quanh thánh thượng, người hầu đứng xung quanh thế tử, trong màn là che ngang sân là các cung nhân đứng xúm xít.

Advertisement

– Những lời xưng hô, bẩm tấu đều phải rất kính cẩn, lễ phép. Trong phủ còn có lệ kỵ húy rất đặc biệt, kiêng nhắc đến từ thuốc…

– Thế tử ốm và lúc nào cũng có tới bảy tám thầy thuốc túc trực, có người hầu cận hai bên. Tuy mới chỉ được năm, sáu tuổi nhưng khi vào xem mạch lẫn khi ra, người thầy thuốc phải cúi lạy cung kính.

* Thái độ của Hải Thượng Lãn Ông: Thờ ơ trước cuộc sống giàu sang, phú quý trong phủ chúa; Không đồng tình với cách sống trong phủ chúa, nhận rõ đó là nguyên nhân dẫn đến căn bệnh của thế tử.

Câu 2. Phân tích những chi tiết trong đoạn trích mà anh (chị) cho là “đắt”, có tác dụng làm nổi bật giá trị hiện thực của tác phẩm.

– Khi bước chân vào phủ chúa phải đi qua nhiều lần cửa, mỗi cửa đều có lính canh gác và có điếm “Hậu mã túc trực”. Trong phủ chúa, đâu đâu cũng là cây cối um tùm, tiếng chim kêu ríu rít, các loài hoa đua nhau khoe sắc thắm và gió đưa thoang thoảng mùi hương. Bên trong lại càng lộng lẫy hơn cả. Nào là những đồ đạc mà có lẽ giai nhân trong nhà chưa từng thấy hết, nào là các đồ đồ nghị trượng đều được sơn son thếp vàng. Sau trong nội cung của các thê tử phải qua năm sáu lần trướng gấm, các đồ đạc cùng đều được sơn son thếp vàng, trên bày nệm gấm và hương hoa thơm ngào ngạt. Có thể thấy, quang cảnh nơi phủ chúa vô cùng xa hoa, giàu sang và thâm nghiêm. Đây có lẽ là quang cảnh thường thấy trong lịch sử bởi vua chúa là những người đứng đầu cai trị đất nước.

Câu 3. Cách chẩn đoán và chữa bệnh của Lê Hữu Trác cùng những diễn biến tâm tư của ông khi kê đơn cho ta hiểu gì về người thầy thuốc này?

– Ông hiểu rõ căn bệnh của thế tử, nhưng băn khoăn nếu mình chữa khỏi bệnh sẽ bị giữ lại trong phủ.

– Suy nghĩ đến phương thuốc hòa hoãn, nhưng lương tâm y đức không cho phép.

Câu 4. Theo anh (chị), bút pháp kí sự của tác giả có gì đặc sắc? Phân tích những nét đặc sắc đó.

Giọng điệu tự nhiên, có sự đan xen giữa lời kể và lời bình của tác giả.

Ghi chép trung thực những sự việc đã xảy ra.

Soạn Bài Hai Đứa Trẻ Soạn Văn 11 Tập 1 Tuần 10 (Trang 94)

Soạn bài Hai đứa trẻ

Hôm nay, chúng tôi sẽ cung cấp tài liệu Soạn văn 11: Hai đứa trẻ. Mời bạn đọc tham khảo nội dung chi tiết được giới thiệu sau đây.

I. Tác giả

– Thạch Lam (1910 – 1942) tên khai sinh là Nguyễn Tường Vinh (sau đổi thành Nguyễn Tường Lân) sinh tại Hà Nội, trong một gia đình công chức gốc quan lại.

– Ông là em ruột của Nhất Linh và Hoàng Đạo, cả ba đều là thành viên của nhóm Tự lực văn đoàn.

– Khi còn nhỏ, Thạch Lan sống ở quê là phố huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Sau đó ông theo cha chuyển sang tỉnh Thái Bình.

– Ông học ở Hà Nội, sau khi thi đỗ tú tài phần thứ nhất thì ra làm báo viết văn.

– Thạch Lam thường viết “những truyện không có chuyện”, chủ yếu là khai thác thế giới nội tâm của nhân vật với những cảm xúc mong manh, mơ hồ trong cuộc sống thường ngày.

– Văn của ông trong sáng, giản dị mà thâm trầm sâu lắng.

– Một số tác phẩm:

Truyện ngắn: Gió lạnh đầu mùa (1937), Nắng trong vườn (1938), Sợi tóc (1942)

Tiểu thuyết: Ngày mới (1939)

Tùy bút: Hà Nội băm sáu phố phường (1943)…

II. Tác phẩm

1. Hoàn cảnh sáng tác

Truyện được in trong tập “Nắng trong vườn” (1938) là một trong những truyện ngắn đặc sắc nhất của Thạch Lam.

2. Tóm tắt

Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” xoay quanh số phận những con người nơi phố huyện nghèo qua lời kể của nhân vật Liên. Liên và An sống tại một phố huyện nghèo, được mẹ giao nhiệm vụ trông coi một cửa hàng tạp hóa nhỏ. Trước đây gia đình Liên sống ở Hà Nội, nhưng bố bị mất việc nên phải chuyển về quê sống. Mẹ con chị Tí bán hàng nước , gánh phở của Bác Siêu, sập hát của bác Xẩm… đều là những kiếp người nhỏ bé, nghèo khổ nơi phố huyện nghèo. Liên cũng như bao người dân sống ở đây, ngày ngày họ đều trông ngóng để được ngắm chuyến tàu chạy qua phố huyện. Hình ảnh chuyến tàu ấy đi qua mang theo những âm thanh và ánh sáng gợi lên trong nhân vật Liên những ngày ở Hà Nội và những khát vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn.

3. Bố cục

Gồm 3 phần:

Phần 1: Từ đầu đến “tiếng cười khanh khách nhỏ dần về phía làng”. Cảnh phố huyện khi chiều xuống.

Phần 2. Tiếp theo đến “Tâm hồn Liên yên tĩnh hẳn, có những cảm giác mơ hồ không hiểu”. Cảnh phố huyện khi về đêm.

Phần 3. Còn lại. Cảnh đợi tàu của những người dân phố huyện.

III. Đọc – hiểu văn bản

1. Cảnh phố huyện khi chiều xuống

a. Bức tranh thiên nhiên nơi phố huyện:

Điểm nhìn: Toàn bộ cảnh vật được cảm nhận qua cái nhìn của Liên.

Âm thanh: Tiếng trống thu không gọi chiều về, tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng, tiếng muỗi vo ve.

Hình ảnh, màu sắc: “Phương tây đỏ rực như lửa cháy”, “Những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn”.

Đường nét: Dãy tre làng cắt hình rõ rệt trên nền trời.

b. Cảnh chợ tàn và những kiếp người nơi phố huyện

– Cảnh chợ tàn:

Chợ đã vãn từ lâu, người về hết và tiếng ồn ào cũng mất.

Chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và lá mía.

– Con người:

Mấy đứa trẻ con nhà nghèo tìm tòi, nhặt nhạnh những thứ còn sót lại ở chợ.

Mẹ con chị Tí: với cái hàng nước đơn sơ, vắng khách.

Bà cụ Thi: hơi điên đến mua rượu lúc đêm tối rồi đi lần vào bóng tối.

Bác Siêu với gánh hàng phở – một thứ quà xa xỉ.

Gia đình bác xẩm mù sống bằng lời ca tiếng đàn và lòng hảo tâm của khách qua đường.

c. Tâm trạng của Liên

Ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen, đôi mắt bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ.

Lòng buồn man mát trước cái giờ khắc của ngày tàn.

Thương những đứa trẻ nhà nghèo nhưng không có tiền mà cho chúng.

Xót thương mẹ con chị Tí: ngày mò cua bắt tép, tối dọn cái hàng nước chè tươi chả kiếm được bao nhiêu, xót thương bà cụ Thi điên

2. Cảnh phố huyện khi về đêm

a. Sự đối lập giữa “bóng tối” và “ánh sáng”

– Phố huyện ngập chìm trong bóng tối:

“Đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối”.

“Tối hết con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng càng sẫm đen hơn nữa”.

– Ánh sáng chỉ còn leo lét ở một vài nơi:Đèn treo trong nhà bác phở Mĩ, đền hoa kì leo lét trong nhà ông Cửu, đàn dây sáng xanh trong hiệu khách, ngọn đèn trong cửa hiệu của Liên…

b. Cuộc sống của những kiếp người nghèo khổ

– Những công việc hằng ngày lặp đi lặp lại:

Chị Tí dọn hàng nước.

Bác Siêu hàng phở thổi lửa.

Gia đình Xẩm “ngồi trên manh chiếu rách, cái thau sắt để trước mặt”, “Góp chuyện bằng mấy tiếng đàn bầu bật trong im lặng”.

Liên, An trông coi cửa hàng tạp hoá nhỏ xíu.

– Những suy nghĩ cũng lặp đi lặp lại hằng ngày: Chị Tí “mong những người phu gạo, phu xe, mấy chú lính lệ vào hàng uống bát chè tươi và hút điếu thuốc lào”. Mơ ước: “Chừng ấy người trong bóng tối đang mong đợi một cái gì tươi sáng cho cuộc sống nghèo khổ hàng ngày của họ”.

3. Cảnh đợi tàu của những người dân phố huyện

– Lí do đợi tàu của Liên và An:

Để bán hàng theo lời mẹ dặn.

Để được nhìn chuyến tàu đêm đi qua hoạt động cuối cùng của đêm khuya.

– Hình ảnh đoàn tàu xuất hiện với dấu hiệu đầu tiên:

Liên trông thấy “ngọn lửa xanh biếc”…

Hai chị em nghe thấy tiếng dồn dập, tiếng xe rít mạnh vào ghi.

– Khi tàu đến:

Các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống đường.

Những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh, và các cửa kính sáng.

Liên mơ về Hà Nội trong kí ức đầy ánh sáng.

– Khi tàu đi:

Để lại những đốm than đỏ bay tung trên đường sắt.

Chiếc đèn xanh treo trên toa sau cùng, xa xa mãi rồi khuất sau rặng tre.

Cả phố huyện bây giờ mới thật hết náo động, chỉ còn đêm khuya, tiếng trống cầm canh và tiếng chó cắn.

Chị Tí sửa soạn chuẩn bị ra về, bác Siêu gánh hàng vào trong làng, vợ chồng bác xẩm ngủ trên manh chiếu từ bao giờ…

Tất cả chìm trong màn đêm với ngọn đèn tù mù chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ đi vào giấc ngủ chập chờn của Liên.

Tổng kết: 

Nội dung: Truyện ngắn Hai đứa trẻ đã thể hiện niềm xót thương đối với những kiếp người sống cơ cực, quanh quẩn, tăm tối ở phố huyện nghèo trước Cách mạng. Đồng thời, ông cũng thể hiện sự trân trọng trước ước mơ mong đổi đời tuy còn mơ hồ của họ.

Nghệ thuật: Cốt truyện đơn giản, hình ảnh giàu tính biểu tượng, giọng văn nhẹ nhàng…

I. Trả lời câu hỏi

Câu 1. Cảnh vật trong truyện được miêu tả trong thời gian và không gian như thế nào?

Thời gian: chiều tà, thời điểm kết thúc của một ngày.

Không gian: phố huyện nghèo với những hình ảnh quen thuộc như tiếng trống thu không, dãy tre làng…

Câu 2. Thạch Lam miêu tả cuộc sống và hình ảnh những người dân phố huyện ra sao?

– Cảnh ngày tàn: tiếng trống, tiếng côn trùng, tiếng muỗi vo ve với bóng tối bắt đầu tràn ngập trong con mắt Liên.

– Cảnh chợ tàn: chợ họp giữa phố đã vãn từ lâu; người về hết và tiếng ồn ào cũng mất; trên đất chỉ còn rác rưởi vỏ bưởi, lá nhãn và lá mía; mùi ẩm mốc quen thuộc…

– Hình ảnh người dân phố huyện:

Mấy đứa trẻ con nhà nghèo tìm tòi, nhặt nhạnh những thứ còn sót lại ở chợ.

Chị Tí mò cua bắt tép, tối đến dọn hàng nước dưới gốc bàng; dọn hàng từ chập tối cho đến đêm “chả kiếm được bao nhiêu”. Thằng cu bé con chị Tí xách điếu đóm và khiêng hai cái ghế trên lưng ở trong ngõ đi ra trông thật tội nghiệp.

Bà cụ Thi hơi điên, cười khanh khách, ngửa cổ ra đằng sau, uống một hơi cạn sạch cút rượu, lảo đảo lần vào bóng tối.

Vợ chồng bác xẩm “tiếng đàn bầu bần bật”, “thằng con bò ra đất”…

Bác phở Siêu gánh hàng đi trong đêm, tiếng đòn gánh kĩu kịt, bóng bác mênh mang… Phở của bác là món quà xa xỉ mà chị em Liên không bao giờ mua được.

Câu 3. Phân tích tâm trạng Liên, An trước khung cảnh thiên nhiên và bức tranh đời sống phố huyện.

– Ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen, đôi mắt bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ. Lòng buồn man mát trước cái giờ khắc của ngày tàn.

– Liên cảm thấy cái “mùi âm ẩm bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn với mùi cát bụi quen thuộc” là “cái mùi riêng của đất, của quê hương này”.

– Liên lặng lẽ quan sát những gì đang diễn ra ở phố huyện với một cảm giác buồn mênh mang. Thương mấy đứa trẻ nghèo nhưng không có tiền mà cho chúng…

Câu 4. Hình ảnh đoàn tàu trong truyện đã được miêu tả như thế nào? Vì sao chị em Liên và An cố thức để được nhìn chuyến tàu đêm đi qua phố huyện?

– Tàu xuất hiện với những toa đèn sáng trưng, với “đèn ghi xanh biếc”, vơi “tiếng còi xe lửa”, làm khói bừng sáng trắng lên đằng xa, tiếng hành khách khạc ồn ào khe khẽ và rồi nó xa dần rồi mất hút trong đêm tối mênh mông. Tàu được miêu tả chi tiết từ dấu hiệu đầu tiên cho đến khi tàu đến và khi tàu qua. Tàu là hình ảnh của Hà Nội, của hạnh phúc, của những kí ức tuổi thơ êm đềm.

– Chị em Liên và An cố thức để đợi tàu vì:

Chuyến tàu sự hoạt động cuối cùng của đêm khuya.

Chuyến tàu mang đến một thế giới khác lạ (ánh sáng xa lạ, các toa đèn sáng trưng, âm thanh náo nức, tiếng hành khách ồn ào…) đối lập với cuộc sống buồn tẻ của nơi phố huyện nghèo.

Chuyến tàu từ Hà Nội gợi nhớ về một tuổi thơ sung sướng của hai chị em: “Một Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực và huyên náo”.

Câu 5. Anh chị có nhận xét gì về nghệ thuật miêu tả và giọng văn của Thạch Lam?

Thạch Lam đã lựa chọn những chi tiết tiêu biểu, đặc sắc.

Miêu tả nội tâm tinh tế, sâu sắc.

Giọng văn nhẹ nhàng mà sâu lắng.

Câu 6. Qua truyện ngắn Hai đứa trẻ, Thạch Lam muốn phát biểu tư tưởng gì?

Truyện ngắn Hai đứa trẻ đã thể hiện niềm xót thương đối với những kiếp người sống cơ cực, quanh quẩn, tăm tối ở phố huyện nghèo trước Cách mạng. Đồng thời, ông cũng thể hiện sự trân trọng trước ước mơ mong đổi đời tuy còn mơ hồ của họ.

II. Luyện tập

Câu 1. Anh chị có ấn tượng sâu sắc nhất với nhân vật nào với chi tiết nghệ thuật nào trong truyện “Hai đứa trẻ”? Vì sao?

Nhân vật ấn tượng nhất là Liên. Đây là nhân vật được Thạch Lam xây dựng với những diễn biến tâm lí tinh tế, sâu sắc.

Chi tiết nghệ thuật ấn tượng nhất là hình ảnh đoàn tàu. Vì qua chi tiết này Thạch Lam đã gửi gắm được dụng ý nghệ thuật của mình.

Câu 2. Hãy nêu những nét đặc sắc của phong cách nghệ thuật Thạch Lam qua truyện Hai đứa trẻ.

Ngôn ngữ mộc mạc, giàu tính biểu cảm

Nghệ thuật miêu tả đặc sắc: tả cảnh, tâm lí nhân vật.

Giọng văn nhẹ nhàng mà sâu lắng.

Xây dựng những chi tiết, hình ảnh giàu tính biểu tượng…

I. Trả lời câu hỏi

Câu 1. Cảnh vật trong truyện được miêu tả trong thời gian và không gian như thế nào?

Thời gian: “ Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru…”

Không gian: “ Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn; Dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời; Tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào”.

Câu 2. Thạch Lam miêu tả cuộc sống và hình ảnh những người dân phố huyện ra sao?

– Cuộc sống buồn tẻ, yên tĩnh: Khung cảnh phố huyện nghèo đến cảnh chợ đã vãn từ lâu.

– Hình ảnh người dân phố huyện:

Mấy đứa trẻ con nhà nghèo tìm tòi, nhặt nhạnh những thứ còn sót lại ở chợ.

Chị Tí mò cua bắt tép, tối đến dọn hàng nước dưới gốc bàng; dọn hàng từ chập tối cho đến đêm “chả kiếm được bao nhiêu”. Thằng cu bé con chị Tí xách điếu đóm và khiêng hai cái ghế trên lưng ở trong ngõ đi ra trông thật tội nghiệp.

Bà cụ Thi hơi điên, cười khanh khách, ngửa cổ ra đằng sau, uống một hơi cạn sạch cút rượu, lảo đảo lần vào bóng tối.

Vợ chồng bác xẩm “tiếng đàn bầu bần bật”, “thằng con bò ra đất”…

Bác phở Siêu gánh hàng đi trong đêm, tiếng đòn gánh kĩu kịt, bóng bác mênh mang… Phở của bác là món quà xa xỉ mà chị em Liên không bao giờ mua được.

Câu 3. Phân tích tâm trạng Liên, An trước khung cảnh thiên nhiên và bức tranh đời sống phố huyện.

– Ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen, đôi mắt bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ. Lòng buồn man mát trước cái giờ khắc của ngày tàn.

Advertisement

– Liên cảm thấy cái “mùi âm ẩm bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn với mùi cát bụi quen thuộc” là “cái mùi riêng của đất, của quê hương này”.

– Liên lặng lẽ quan sát những gì đang diễn ra ở phố huyện với một cảm giác buồn mênh mang. Thương mấy đứa trẻ nghèo nhưng không có tiền mà cho chúng…

Câu 4. Hình ảnh đoàn tàu trong truyện đã được miêu tả như thế nào? Vì sao chị em Liên và An cố thức để được nhìn chuyến tàu đêm đi qua phố huyện?

– Tàu xuất hiện với những toa đèn sáng trưng, với “đèn ghi xanh biếc”, vơi “tiếng còi xe lửa”, làm khói bừng sáng trắng lên đằng xa, tiếng hành khách khạc ồn ào khe khẽ và rồi nó xa dần rồi mất hút trong đêm tối mênh mông. Tàu được miêu tả chi tiết từ dấu hiệu đầu tiên cho đến khi tàu đến và khi tàu qua. Tàu là hình ảnh của Hà Nội, của hạnh phúc, của những kí ức tuổi thơ êm đềm.

– Chị em Liên và An cố thức để đợi tàu vì:

Chuyến tàu sự hoạt động cuối cùng của đêm khuya.

Chuyến tàu mang đến một thế giới khác lạ (ánh sáng xa lạ, các toa đèn sáng trưng, âm thanh náo nức, tiếng hành khách ồn ào…) đối lập với cuộc sống buồn tẻ của nơi phố huyện nghèo.

Chuyến tàu từ Hà Nội gợi nhớ về một tuổi thơ sung sướng của hai chị em: “Một Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực và huyên náo”.

Câu 5. Anh chị có nhận xét gì về nghệ thuật miêu tả và giọng văn của Thạch Lam?

Chi tiết đặc sắc, tiêu biểu

Hình ảnh, ngôn ngữ giản dị

Miêu tả nội tâm tinh tế, sâu sắc.

Giọng văn nhẹ nhàng mà sâu lắng.

Câu 6. Qua truyện ngắn Hai đứa trẻ, Thạch Lam muốn phát biểu tư tưởng gì?

Tác giả đã bày tỏ niềm thương cảm đến những kiếp người sống cơ cực, quanh quẩn, tăm tối ở phố huyện nghèo trước Cách mạng. Đồng thời, ông cũng thể hiện sự trân trọng trước ước mơ mong đổi đời tuy còn mơ hồ của họ.

II. Luyện tập

Câu 1. Anh chị có ấn tượng sâu sắc nhất với nhân vật nào, với chi tiết nghệ thuật nào trong truyện “Hai đứa trẻ”? Vì sao?

– Nhân vật ấn tượng nhất là Liên. Vì Liên là nhân vật chính, được tác giả xây dựng với những diễn biến tâm lí tinh tế nhằm gửi gắm bài học giá trị đến người đọc.

– Chi tiết nghệ thuật ấn tượng nhất là cảnh đợi tàu. Đây là một chi tiết đắt giá, được nhà văn miêu tả cụ thể, sinh động.

Câu 2. Hãy nêu những nét đặc sắc của phong cách nghệ thuật Thạch Lam qua truyện Hai đứa trẻ.

Những nét sắc của phong cách nghệ thuật Thạch Lam qua truyện ngắn Hai đứa trẻ: Ngôn ngữ mộc mạc, giàu tính biểu cảm; Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế; Giọng văn nhẹ nhàng mà sâu lắng; Kết hợp giữa tự sự và trữ tình, giữa hiện thực và lãng mạn.

Soạn Bài Tình Yêu Và Thù Hận Soạn Văn 11 Tập 1 Tuần 17 (Trang 197)

Soạn bài Tình yêu và thù hận

Soạn bài Tình yêu và thù hận – Mẫu 1 I. Tác giả

– Uy-li-am Sếch-xpia (1564 – 1616) là nhà thơ, nhà viết kịch thiên tài của nước Anh và của nhân loại thời Phục hưng.

– Ông sinh tại thị trấn Xtơ- rét-phớt ôn Ê-vơn thuộc miền Tây Nam nước Anh trong một gia đình buôn bán ngũ cốc, lên, dạ.

– Năm 1578 gia đình sa sút, ông buộc phải thôi học. Năm 1585 ông lên Luân Đôn kiếm sống giúp việc cho đoàn kịch của Hầu tước Xtơ-ren-giơ. Đây cũng là nơi ông gia nhập đại gia đình nghệ thuật.

– Ông đã để lại 37 vở gồm kịch lịch sử, bi kịch và hài kịch, mà phần lớn là kiệt tác của văn học nhân loại.

II. Tác phẩm

1. Hoàn cảnh sáng tác

– “Rô-mê-ô and Giu-li-ét” là vở bi kịch nổi tiếng đầu tiên của Sếch-xpia được viết vào khoảng những năm 1594 – 1595, dựa trên câu chuyện có thật về mối hận thù giữa hai dòng họ Môn-ta-ghiu và Ca-piu-lét, tại Vê-rô-na (I-ta-li-a) thời trung cổ.

– Tình yêu và thù hận được trích ở lớp 2, hồi II của vở kịch.

2. Bố cục

Gồm 2 phần:

Phần 1. Từ đầu đến “đổi lấy cả em đây”: Lời độc thoại thổ lộ tình yêu thầm kín của Rô-mê-ô và Giu-li-ét.

Phần 2. Còn lại: Lời đối thoại giữa Rô-mê-ô và Giu-li-ét.

III. Trả lời câu hỏi

Câu 1. Đoạn trích có mười sáu lời thoại. Sáu lời thoại đầu có gì khác biệt với những lời thoại sau? Hình thức của những lời thoại đó là gì?

Sáu lời thoại đầu là lời của Rô-mê-ô và Giu-li-ét tự nói với chính mình.

Hình thức của những lời thoại đó là độc thoại.

Câu 2. Tìm những cụm từ chứng minh tình yêu của Rô-mê -ô và Giu -li-et diễn ra trong bối cảnh hai dòng họ địch.

Những cụm từ chứng minh tình yêu của Rô – mê – ô và Giu – li – ét diễn ra trong bối cảnh hai dòng họ thù địch:

– Lời của Rô-mê-ô:

Từ nay, tôi sẽ không bao giờ còn là Rô-mê-ô nữa.

Tôi thù ghét cái tên tôi.

Chẳng phải Rô-mê-ô cũng chẳng phải Môn-ta-ghiu.

– Lời của Giu-li-et:

Chàng hãy khước từ cha chàng và từ chối dòng họ của chàng đi.

Chỉ có tên họ của chàng là thù địch của em thôi.

Nơi tử địa, họ mà bắt gặp anh.

Em chẳng đời nào muốn họ bắt gặp anh nơi đây.

Câu 3. Phân tích diễn biến tâm trạng của Rô-mê-ô qua hình thức so sánh liên tưởng trong lời thoại đầu tiên của nhân vật này.

– Bối cảnh trong một đêm trăng sáng. Đây là lời thoại dài nhất đồng thời là lời độc thoại nội tâm.

– Sự yêu mến, say mê Rô-mê-ô dành cho Giu-li-et được thể hiện qua hàng loạt so sánh “nàng Giu-li-ét là mặt trời”, “và giết ả Hằng Nga đố kị, héo hon và nhợt nhạt vì đau buồn khi thấy cô hầu của ả lại đẹp hơn ả rất nhiều”…. Sau đó chàng tập trung miêu tả vẻ đẹp của đôi mắt. Trời đêm nên chàng nghĩ ngay đến những ngôi sao và có liên tưởng độc đáo “Chẳng qua là hai ngôi sao đẹp nhất … chờ đến lúc sao về”. Sau đôi mắt, chàng lại tập trung ca ngợi gò má rực rỡ của người yêu, chàng thốt lên rất tự nhiên “Kìa, nàng tì má lên bàn tay…”.

Câu 4. Lời thoại “Chỉ có tên họ chàng là thù địch của em thôi…” cho thấy diễn biến nội tâm phức tạp của Giu-li-ét. Phân tích diễn biến nội tâm của Giu-li-ét để làm rõ Sếch-xpia đã miêu tả tuyệt vời tâm trạng người thiếu nữ đang yêu.

Diễn biến nội tâm của Giu-li-ét được miêu tả tuyệt vời với tâm trạng người thiếu nữ đang yêu:

Nàng thổ lộ tình yêu mãnh liệt với Rô-mê-ô nhưng lo lắng tình yêu sẽ gặp phải trở ngại.

Không biết sự có mặt của Rô-mê-ê nên đã trực tiếp bộc lộ tình yêu.

Nàng cảm thấy lo lắng cho sự an nguy của Rô-mê-ô.

Giu-li-ét tin tưởng vào tình yêu của Rô-mê-ô.

Câu 5. Chứng minh rằng vấn đề “Tình yêu và thù hận” đã được giải quyết xong trong mười sáu lời thoại này.

– Thù hận của hai dòng họ không cản trở tình yêu của hai nhân vật, mà hiện lên qua dòng suy nghĩ của nhân vật.

– Khi Rô-mê-ô dũng cảm tìm đến thể hiện quyết tâm yêu đương và Giu-li-et dành cho chàng tình yêu thương:

Thù hận bị đẩy lùi.

Chỉ còn lại tình yêu trong sáng, gắn kết.

IV. Luyện tập

Qua đoạn trích Tình yêu và thù hận, chứng minh rằng: “Ca ngợi tình yêu chân chính của con người cũng chính là khẳng định con người”.

Gợi ý:

Tình yêu là một thứ tình cảm quý giá của con người.

Tình yêu chân chính có thể giúp vượt lên mọi thù hận, mang đến sức mạnh cho con người.

Tổng kết: 

Nội dung: Thông qua câu chuyện tình yêu vượt lên trên thù hận của Rô-mê-ô và Giu-li-ét, tác giả ca ngợi và khẳng định vẻ đẹp của tình người, tình đời theo lí tưởng của chủ nghĩa nhân văn.

Nghệ thuật: Độc thoại nội tâm, nghệ thuật miêu tả tâm lí…

Soạn bài Tình yêu và thù hận – Mẫu 2

Câu 1. Đoạn trích có mười sáu lời thoại. Sáu lời thoại đầu có gì khác biệt với những lời thoại sau? Hình thức của những lời thoại đó là gì?

– Sáu lời thoại đầu có sự khác biệt với những lời thoại sau:

Sáu lời thoại đầu là lời của Rô-mê-ô; Giu-li-ét tự nói với chính mình.

Những lời thoại sau là lời của Rô-mê-ô với Giu-li-ét.

– Hình thức của những lời thoại đó:

Sáu lời thoại đầu: độc thoại

Những lời thoại sau: đối thoại

Câu 2. Tìm những cụm từ chứng minh tình yêu của Rô-mê-ô và Giu-li-et diễn ra trong bối cảnh hai dòng họ địch.

Những cụm từ chứng minh tình yêu của Rô-mê-ô và Giu-li-ét diễn ra trong bối cảnh hai dòng họ thù địch:

– Lời của Rô-mê-ô:

Từ nay, tôi sẽ không bao giờ còn là Rô-mê-ô nữa.

Tôi thù ghét cái tên tôi.

Chẳng phải Rô-mê-ô cũng chẳng phải Môn-ta-ghiu.

– Lời của Giu-li-et:

Chàng hãy khước từ cha chàng và từ chối dòng họ của chàng đi.

Chỉ có tên họ của chàng là thù địch của em thôi.

Nơi tử địa, họ mà bắt gặp anh.

Em chẳng đời nào muốn họ bắt gặp anh nơi đây.

Câu 3. Phân tích diễn biến tâm trạng của Rô-mê-ô qua hình thức so sánh liên tưởng trong lời thoại đầu tiên của nhân vật này.

– Lời thoại đầu tiên của Rô-mê-ô: Lời thoại dài nhất, là lời độc thoại nội tâm nhằm bộc lộ tâm trạng yêu đương, nồng cháy và đam mê.

– Khi nhìn thấy Giu-li-ét bên cửa sổ, Rô-mê-ô cảm thấy choáng ngợp. Sự yêu mến, say mê của Rô-mê-ô dành cho Giu-li-et được thể hiện qua hàng loạt so sánh “nàng Giu-li-ét là mặt trời”, “và giết ả Hằng Nga đố kị, héo hon và nhợt nhạt vì đau buồn khi thấy cô hầu của ả lại đẹp hơn ả rất nhiều”…. Sau đó chàng tập trung miêu tả vẻ đẹp của đôi mắt. Trời đêm nên chàng nghĩ ngay đến những ngôi sao và có liên tưởng độc đáo “Chẳng qua là hai ngôi sao đẹp nhất … chờ đến lúc sao về”. Sau đôi mắt, chàng lại tập trung ca ngợi gò má rực rỡ của người yêu, chàng thốt lên rất tự nhiên “Kìa, nàng tì má lên bàn tay…”.

Câu 4. Lời thoại “Chỉ có tên họ chàng là thù địch của em thôi…” cho thấy diễn biến nội tâm phức tạp của Giu-li-ét. Phân tích diễn biến nội tâm của Giu-li-ét để làm rõ Sếch-xpia đã miêu tả tuyệt vời tâm trạng người thiếu nữ đang yêu.

Advertisement

Diễn biến nội tâm của Giu-li-ét được miêu tả tuyệt vời với tâm trạng người thiếu nữ đang yêu:

Nàng thổ lộ tình yêu mãnh liệt với Rô-mê-ô nhưng lo lắng tình yêu sẽ gặp phải trở ngại.

Không biết sự có mặt của Rô-mê-ô nên đã trực tiếp bộc lộ tình yêu.

Nàng cảm thấy lo lắng cho sự an nguy của Rô-mê-ô.

Giu-li-ét tin tưởng vào tình yêu của Rô-mê-ô.

Câu 5. Chứng minh rằng vấn đề “Tình yêu và thù hận” đã được giải quyết xong trong mười sáu lời thoại này.

– Thù hận không xuất hiện như một thế lực cản trở tình yêu mà chỉ hiện ra qua suy nghĩ của các nhân vật.

– Ba trên năm lời thoại của Rô-mê-ô thể hiện thái độ dứt khoát của chàng trong việc giải quyết vấn đề thù hận: “Tôi sẽ thay đổi tên họ; sẽ xé nát cái tên đó vì nó là kẻ thù của em…”

Soạn Bài Bài Ca Ngắn Đi Trên Bãi Cát Soạn Văn 11 Tập 1 Tuần 4 (Trang 40)

Soạn bài Bài ca ngắn đi trên bãi cát

Hôm nay, chúng tôi sẽ giới thiệu tài liệu Soạn văn 11: Bài ca ngắn đi trên bãi cát, đến các bạn học sinh. Mời tham khảo để có thể chuẩn bị bài học trước khi đến lớp một cách nhanh chóng và đầy đủ.

I. Tác giả

– Ông đã mất trong cuộc khởi nghĩa chống lại chế độ phong kiến nhà Nguyễn.

– Cao Bá Quát là một nhà thơ có tài năng và bản lĩnh, được người đương thời tôn là Thánh Quát (Thần Siêu, Thánh Quát).

– Thơ văn ông bộc lộ thái độ phê phán mạnh mẽ chế độ phong kiến trì trệ, bảo thủ và chứa đựng tư tưởng khai sáng có tính chất tự phát, phản ánh nhu cầu đổi mới của xã hội Việt Nam trong giai đoạn giữa thế kỉ XIX.

II. Tác phẩm

1. Hoàn cảnh sáng tác

– Cao Bá Quát đỗ cử nhân năm 1831 tại trường thi Hà Nội. Sau đó, ông nhiều lần vào kinh đô Huế thi Hội nhưng không đỗ.

– Bài ca ngắn đi trên bãi cát có thể được hình thành trong những lần Cao Bá Quát đi thi Hội, qua các tỉnh miền Trung đầy cát trắng như Quảng Bình, Quảng Trị.

2. Thể loại

Bài thơ viết theo thể hành (còn gọi là ca hành).

Đây là một thể thơ cổ, có tính chất tự do phóng khoáng, không bị gò bó về số câu, độ dài của câu, niêm luật, bằng trắc, vần điệu.

3. Bố cục

Gồm 3 phần:

Phần 1. 4 câu đầu: Hình ảnh người đi trên bãi cát.

Phần 2. 6 câu tiếp theo: Tâm trạng của người đi đường.

Phần 3. Còn lại: Sự bế tắc của người đi đường.

III. Đọc – hiểu văn bản

1. Hình ảnh người đi trên bãi cát

– “Bãi cát dài lại bãi cát dài”:

Hình ảnh thực: Sự mênh mông, vô tận của con đường đi khó khăn, nhọc nhằn.

Hình ảnh biểu tượng: Con đường đầy khó khăn mà con người phải vượt qua để đi đến đích.

– “Mặt trời đã lặn”: chỉ sự tối tăm, mù mịt

– Hình ảnh người đi trên bãi cát:

“Đi một bước như lùi một bước”: vất vả, nhọc nhằn.

“Mặt trời đã lặn, vẫn còn đi”: tối tăm, mù mịt vẫn bước đi.

“Lữ khách trên đường nước mắt rơi”: mệt mỏi, chán chường.

2. Tâm trạng của người đi đường

– “Không học được tiên ông phép ngủ/Trèo non, lội suối, giận khôn vơi”: Người đi tự giận mình không có khả năng. Sự chán nản mệt mỏi vì công danh – lợi danh.

– “Xưa nay phường danh lợi… Người say vô số, tỉnh bao người?”: Khẳng định sự cám dỗ của danh lợi đối với con người. Vì công danh, lợi danh mà con người bôn tẩu ngược xuôi.

3. Sự bế tắc của người đi đường

– “Bãi cát dài ơi, bãi cát dài ơi/Tính sao đây? Đường bằng mờ mịt”: Sự băn khoăn, day dứt giữa việc đi tiếp hay dừng lại.

– Khúc đường cùng: hình ảnh biểu tượng cho nỗi tuyệt vọng của tác giả. Nhà thơ ấp ủ những khao khát công danh nhưng lại không thể thực hiện được.

– Hình ảnh thiên nhiên: phía bắc, phía nam đẹp đẽ nhưng đều khó khăn, hiểm trở.

– “Anh đứng làm chi trên bãi cát?”: Câu hỏi tu từ nhằm khẳng định bản thân phải thoát ra khỏi bãi cát danh lợi đầy nhọc nhằn chông gai mà vô nghĩa.

Tổng kết: 

Nội dung: Bài ca ngắn đi trên bãi cát biểu lộ sự chán ghét của một người trí thức đối với con đường danh lợi tâm thường đương thời và niềm khao khát thay đổi cuộc sống.

Nghệ thuật: sử dụng biện pháp tu từ, nhịp thơ độc đáo, giàu hình ảnh mang tính biểu tượng…

I. Trả lời câu hỏi

Câu 1. Phân tích ý nghĩa tượng trưng của các yếu tố tả thực hình ảnh người đi trên bãi cát.

– Bài cát dài lại bát cát dài: Con đường đầy khó khăn mà con người phải vượt qua để đi đến đích.

– Con người vẫn bước về phía trước vì danh lợi:

“Đi một bước như lùi một bước”: Khó khăn, trắc trở với đầy những thử thách.

“Mặt trời đã lặn, vẫn còn đi”: Dù tối tăm, mù mịt vẫn bước đi.

“Lữ khách trên đường nước mắt rơi”: Sự mệt mỏi, chán chường.

Câu 2. Hãy giải thích nội dung và chỉ ra sự liên kết ý nghĩa của sáu câu thơ “Không học được tiên ông phép ngủ… Người say vô số, tỉnh bao người?”.

– Danh lợi: khái niệm liên kết toàn bộ đoạn thơ.

– “Không học được tiên ông phép ngủ/Trèo non, lội suối, giận khôn vơi”: Người đi tự giận mình không có khả năng. Sự chán nản mệt mỏi vì công danh – lợi danh.

– “Xưa nay phường danh lợi… Người say vô số, tỉnh bao người?”: Khẳng định sự cám dỗ của danh lợi đối với con người. Vì công danh, lợi danh mà con người bôn tẩu ngược xuôi.

Câu 3. Tâm trạng của lữ khách khi đi trên bãi cát là gì? Hãy cho biết tầm tư tưởng của Cao Bá Quát thể hiện qua tâm trạng đó.

– Tâm trạng của lữ khách đi trên bãi cát: chán chường, bế tắc.

– Tầm tư tưởng của Cao Bá Quát: Lời nhắc nhở con người tìm kiếm một con đường khác thoát ra khỏi vòng danh lợi luẩn quẩn.

Câu 4. Phân tích ý nghĩa của nhịp điệu bài thơ đối với việc diễn tả cảm xúc và suy tư của nhân vật trữ tình.

– Nhịp điệu: lúc nhanh lúc chậm, lúc ngắn lúc dài.

– Ý nghĩa: Góp phần diễn tả cảm xúc và suy nghĩ của nhà thơ về con đường danh lợi. Đồng thời Cao Bá Quát còn thể hiện sự phản kháng ngầm với trật tự hiện tại.

II. Luyện tập

Qua bài thơ này, anh (chị) hãy thử lý giải vì sao Cao Bá Quát đã khởi nghĩa chống nhà Nguyễn.

Gợi ý:

– Cao Bá Quát có lí tưởng, say mê đi tìm nhưng không thành công.

– Nhận ra được những hạn chế của triều đình phong kiến đương thời.

– Ý thức về con đường danh lợi tầm thương, khao khát hướng đến con đường tươi sáng cho nhân dân, đất nước.

I. Trả lời câu hỏi

Câu 1. Phân tích ý nghĩa tượng trưng của các yếu tố tả thực hình ảnh người đi trên bãi cát.

– Bài cát dài lại bát cát dài:

Hình ảnh tả thực: Bãi cát nối tiếp nhau, dài mênh mông và vô tận.

Hình ảnh biểu tượng: Con đường đầy khó khăn mà con người phải vượt qua để đi đến đích.

– Hình ảnh người đi trên bãi cát:

“Đi một bước như lùi một bước”: Khó khăn, trắc trở với đầy những thử thách.

“Mặt trời đã lặn, vẫn còn đi”: Dù tối tăm, mù mịt vẫn bước đi.

“Lữ khách trên đường nước mắt rơi”: Sự mệt mỏi, chán chường.

Câu 2. Hãy giải thích nội dung và chỉ ra sự liên kết ý nghĩa của sáu câu thơ “Không học được tiên ông phép ngủ… Người say vô số, tỉnh bao người?”.

– Danh lợi (việc học hành, thi cử, làm quan) là khái niệm liên kết sáu câu thơ.

– “Không học được tiên ông phép ngủ/Trèo non, lội suối, giận khôn vơi”: Sự chán nản mệt mỏi vì công danh.

Advertisement

– “Xưa nay phường danh lợi…/Người say vô số, tỉnh bao người?”: Sự cám dỗ của công danh đối với con người,

Câu 3. Tâm trạng của lữ khách khi đi trên bãi cát là gì? Hãy cho biết tầm tư tưởng của Cao Bá Quát thể hiện qua tâm trạng đó.

– Tâm trạng của lữ khách đi trên bãi cát: chán chường, bế tắc.

– Tầm tư tưởng của Cao Bá Quát: Nhận ra tính chất vô nghĩa của lối học khoa cử, của con đường công danh theo lối cũ. Từ chuyện đi trên bãi cát liên tưởng đến chuyện danh lợi. Người đi trên cát sa lầy vào trong cát chẳng khác nào người bị mê muội bởi công danh, lợi lộc.

Câu 4. Phân tích ý nghĩa của nhịp điệu bài thơ đối với việc diễn tả cảm xúc và suy tư của nhân vật trữ tình.

– Nhịp điệu: Lúc nhanh, lúc chậm; lúc ngắn, lúc dài.

Thay đổi dựa trên độ ngắn, dài của câu thơ

Cách ngắt nhịp linh hoạt: 2/3, 3/5, 4/3

– Ý nghĩa: Góp phần diễn tả cảm xúc và suy nghĩ của nhà thơ.

II. Luyện tập

Qua bài thơ này, anh (chị) hãy thử lý giải vì sao Cao Bá Quát đã khởi nghĩa chống nhà Nguyễn.

Gợi ý:

Cao Bá Quát là một người có lí tưởng, say mê đi tìm nhưng không thành công. Ông đã nhận ra được những hạn chế của triều đình phong kiến đương thời. Đồng thời, ông còn ý thức về con đường danh lợi tầm thương, khao khát hướng đến con đường tươi sáng cho nhân dân, đất nước mà không chấp nhận thực tại. Và khi đã chứng kiến hết cảnh thối nát chốn quan trường, thấy rõ hiện trạng xã hội, lại bị dập vùi không thương tiếc, ước muốn đó sẽ chuyển thành hành động phản kháng mãnh liệt.

Soạn Bài Thao Tác Lập Luận Phân Tích Soạn Văn 11 Tập 1 Tuần 2 (Trang 25)

Soạn bài Thao tác lập luận phân tích I. Mục đích, yêu cầu của thao tác lập luận phân tích

Đọc đoạn trích trong SGK và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới:

1. Đánh giá của tác giả với nhân vật Sở Khanh: Sở Khanh là kẻ bẩn thỉu, bần tiện.

2. Để thuyết phục người đọc, tác giả đã phân tích ý kiến của mình:

Sở Khanh sống bằng nghề đồi bại bất chính: sống bám các thanh lâu, làm chồng hờ của các gái điếm.

Sở Khanh là kẻ tồi tàn nhất trong cái bọn tồi tàn ấy: vờ làm nhà nho, làm hiệp khách và vờ yêu để kiếm chác, đánh lừa một người con gái.

Không chỉ vậy, hắn còn là một kẻ lật mặt: mặt mo đến mắng át Kiều và toan đánh Kiều nữa.

3. Sau khi phân tích bộ mặt của Sở Khanh, người viết đã tổng hợp lại bằng cách khái quát bản chất của Sở Khanh: Nó là cái mức cao nhất của tình hình đồi bãi trong xã hội này.

4. Một số đối tượng phân tích trong các bài văn nghị luận:

– Nghị luận xã hội:

Nghị luận về sự lạc quan trong cuộc sống.

Nghị luận về hành trang vào đời…

– Nghị luận văn học:

Phân tích vẻ đẹp cảnh thu và tình thu trong bài Câu cá mùa thu.

Phân tích giá trị hiện thực trong đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh.

5. Phân tích là cách chia nhỏ đối tượng thành nhiều yếu tố bộ phận để đi sâu xem xét một cách toàn diện về nội dung, hình thức của đối tượng. Những yêu cầu: chia tách yếu tố theo tiêu chí nhất định, đi sâu vào phân tích từng yếu tố…

II. Cách phân tích

– Đoạn trích ở mục (I): Phân tích theo quan hệ nội bộ của đối tượng: bản chất bẩn thỉu của Sở Khanh.

– Đoạn (1):

Phân tích theo quan hệ nội bộ của đối tượng: Đồng tiền vừa có tác dụng tốt, vừa có tác dụng xấu (sức mạnh tác oai tác quái).

Phân tích theo quan hệ kết quả – nguyên nhân: tác hại của đồng tiền.

– Đoạn (2): Phân tích theo quan hệ nguyên nhân kết quả: Bùng nổ dân số và hậu quả của nó.

2. Mối quan hệ giữa phân tích và tổng hợp:

– Đoạn trích mục (I): Phân tích những biểu hiện bản chất bẩn thỉu của Sở Khanh mà tổng hợp lại đó là bức tranh về nhà chứa, tính đồi bại trong xã hội đương thời.

– Đoạn 2: Phân tích luôn gắn liền với khái quát tổng hợp: sức mạnh của đồng tiền, thái độ, cách hành xử của tầng lớp xã hội đối với đồng tiền và thái độ của Nguyễn Du đối với xã hội đó.

– Đoạn 3: Phân tích bùng nổ dân số ảnh hưởng đến nhiều mặt của cuộc sống con người. Từ đó đưa ra kết luận: Dân số càng tăng nhanh thì chất lượng cuộc sống của cộng đồng, gia đình, cá nhân càng giảm.

Tổng kết:

– Mục đích của phân tích là làm rõ đặc điểm về nội dung, hình thức, cấu trúc và các mối quan hệ bên trong, bên ngoài của đối tượng (sự vật, hiện tượng).

– Phân tích cần đi sâu vào từng yếu tố, từng khía cạnh, song cần đặc biệt lưu ý đến quan hệ giữa chúng với nhau trong một chỉnh thể toàn vẹn, thống nhất.

II. Luyện tập

Câu 1. Trong các đoạn trích trong SGK, người viết đã phân tích đối tượng từ những mối quan hệ nào?

a. Quan hệ nội bộ của đối tượng: diễn biến, cung bậc tâm trạng của Thúy Kiều.

Câu 2. Phân tích vẻ đẹp ngôn ngữ nghệ thuật trong Tự tình (bài II).

– Từ ngữ giàu hình ảnh và cảm xúc: văng vẳng, trơ, cái hồng nhan, xiên ngang, đâm toạc, tí, con con…

– Sự kết hợp giữa hững động từ mạnh (xiên, đâm) với các bổ ngữ độc đáo (ngang, toạc) làm nổi bật sự bướng bỉnh và ngang ngạnh.

– Nghệ thuật đảo trật tự cú pháp trong hai câu luận:

– Nghệ thuật sử dụng sóng đôi các cặp từ trái nghĩa, góp phần biểu lộ trạng thái bế tắc: say – tỉnh, khuyết – tròn, đi – lại.

– Nghệ thuật lặp từ (lại, xuân) và phép tăng tiến (san sẻ – tí – con con)…

Soạn Bài Thực Hành Một Số Phép Tu Từ Ngữ Âm Soạn Văn 12 Tập 1 Tuần 11 (Trang 129)

Câu 1. Nhận xét về nhịp điệu, sự phối hợp âm thanh (cùng với phép lặp cú pháp, lặp từ ngữ) nhằm tạo ra âm hưởng hùng hồn, đanh thép cho một lời tuyên ngôn trong SGK.

– Sự phối hợp nhịp ngắn và dài:

Một dân tộc/ đã gan góc/chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay: 3/3/ 11

dân tộc đó/phải được tự do: 3/4

Dân tộc đó/ phải được độc lập: 3/4

– Câu đầu, các vế kết thúc bằng thanh bằng (nay, do), do là âm tiết mở. Câu sau kết thúc bằng âm tiết mang thanh trắc (lập), đây là âm tiết đóng .

Câu 2. Phân tích tác dụng của âm thanh, nhịp điệu (có sự phối hợp với phép lặp từ ngữ và kết hợp cú pháp) trong việc tạo nên sắc thái hùng hồn, thiêng liêng của lời kêu gọi cứu nước (trích) trong SGK (chú ý vần, sự ngắt nhịp và đối xứng).

– Sự phối hợp giữa vần bằng và vần trắc tạo sự hài hoà về thanh điệu cuối mỗi nhịp.

– Sự kết hợp giữa những nhịp điệu ngắn với nhịp dài trong một câu văn tạo nên âm hưởng khi khoan thai, khi dồn dập mạnh mẽ.

– Cách ngắt nhịp đối xứng: 4/2, 4/2 (Bất kì đàn ông,/đàn bà, bất kì người già,/ người trẻ); 3/2, 3/2 (Ai có súng /dùng súng. Ai có gươm/ dùng gươm).

– Sử dụng điệp ngữ, điệp cấu trúc: “Bất kì… bất kì….; Ai có… ai có…” .

Câu 3.

Nhịp ngắn, dứt khoát phù hợp với không khí kháng chiến.

Nhịp ngắn dài sử dụng linh hoạt giúp thể hiện suy tư, tình cảm của tác giả.

Vừa điệp ngữ, vừa điệp cấu trúc (Tre… Tre… ) tạo ấn tượng sâu sắc cho người đọc.

Câu 1. Phân tích tác dụng tạo hình tượng của phép điệp phụ âm đầu trong các câu thơ sau:

Điệp phụ âm đầu “l” nhằm gợi ra những hình ảnh những bông hoa lựu giống như những đốm lửa lập loè lúc ẩn, lúc hiện.

Làn ao lóng lánh ánh trăng loe.

Điệp phụ âm đầu “l” nhằm khắc họa hình ảnh ánh trăng phản chiếu trên mặt nước như đang loang ra và choán lấy khắp bề mặt không gian.

Câu 2. Trong đoạn thơ ở SGK vần nào được lặp lại nhiều nhất? Nêu tác dụng biểu hiện sắc thái ý nghĩa của phép điệp vần đó.

– Trong đoạn thơ của Tố Hữu, vần “ang” được lặp lại bảy lần: bàng, đang, giang, mang, đang, ngang, sang.

– Đây là nguyên âm rộng và âm tiết thuộc loại nửa mở (kết thúc bằng phụ âm). Việc sử dụng vần “ang” góp phần tạo ra cảm giác rộng mở và chuyển động, thích hợp sắc thái miêu tả thời tiết lúc giao mùa từ mùa đông sang mùa xuân. Từ đó gợi ra không gian mênh mang, rộng mở của bầu trời, của lòng người khi mùa đông đến.

Câu 3.

(Tây Tiến, Quang Dũng)

Đoạn thơ trên đã gợi ra được khung cảnh hiểm trở của vùng rừng núi và sự gian lao, vất vả của cuộc hành quân là nhờ có sự đóng góp của nhiều yếu tố. Hãy phân tích.

Advertisement

Gợi ý:

– Nhịp thơ: 4/3

– Ở 3 câu đầu dùng nhiều thanh trắc xen kẽ thanh bằng, câu thơ cuối toàn thanh bằng tạo ấn tượng về một khung cảnh thiên nhiên rộng lớn.

– Từ ngữ: Sử dụng từ láy (khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút), biện pháp tu từ nhân hóa (súng ngửi trời), điệp ngữ (dốc lên khúc khuỷu/ dốc thăm thẳm) phối hợp biện pháp lặp và đối (ngàn thước lên cao/ngàn thước xuống).

– Phép lặp cú pháp ở câu 1 và câu 3 (Dốc lên khúc khủy, dốc thăm thẳm/Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống).

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài Vào Phủ Chúa Trịnh Soạn Văn 11 Tập 1 Tuần 1 (Trang 3) trên website Tdhj.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!