Xu Hướng 2/2024 # Lịch Sử 8 Bài 25: Kháng Chiến Lan Rộng Ra Toàn Quốc (1873 – 1884) Soạn Lịch Sử 8 Trang 124 # Top 3 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Lịch Sử 8 Bài 25: Kháng Chiến Lan Rộng Ra Toàn Quốc (1873 – 1884) Soạn Lịch Sử 8 Trang 124 được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Tdhj.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

I. Thực dân Pháp đánh Bắc Kì lần thứ nhất. Cuộc khánh chiến ở Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc Kì

1. Tình hình Việt Nam trước khi Pháp đánh chiếm Bắc Kì

– Thực dân Pháp sau khi chiếm xong ba tỉnh miền Đông Nam Kì đã bắt tay ngay vào thiết lập bộ máy thống trị và tiến hành bóc lột kinh tế, biến nơi đây thành bàn đạp để đánh chiếm Cam-pu-chia rồi chiếm nốt ba tỉnh miền Tây Nam Kì.

Xây dựng bộ máy có tính chất quân sự từ trên xuống dưới.

Đẩy mạnh chính sách bóc lột bằng tô thuế, cướp đoạt ruộng đất của nông dân.

Ra sức vơ vét lúa gạo để xuất khẩu, mở trường đào tạo tay sai.

Xuất bản báo chí để tuyên truyền cho kế hoạch xâm lược nước ta.

– Triều dình Huế thi hành chính sách đối nội, đối ngoại lỗi thời:

Ra sức vơ vét tiền của trong nhân dân để phục vụ cho cuộc sống xa hoa và bồi thường chiến phí cho Pháp.

Các ngành kinh tế công, nông, thương nghiệp sa sút. Tài chính thiếu hụt, binh lực suy yếu.

Đời sống nhân dân cơ cực, hàng loạt cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra bị đàn áp dữ dội.

Muốn tiếp tục thương lượng với Pháp để chia sẽ quyền thống trị.

2. Thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Kì lần thứ nhất (1873)

*Âm mưu của Pháp đánh ra Bắc Kì:

Lợi dụng việc triều đình nhờ Pháp đem tàu ra vùng biển Hạ Long đánh dẹp “hải phỉ”, chúng cho tên lái buôn Đuy-puy vào gây rối ở Hà Nội.

Lấy cớ giải quyết vụ Đuy-puy, Pháp cử Gác-ni-ê chỉ huy 200 quân kéo ra Bắc.

*Diễn biến:

– Ngày 20 – 11 – 1873, quân Pháp nổ súng đánh và chiếm thành Hà Nội. Từ đó, chúng nhanh chóng đánh chiếm các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Ninh Bình, Nam Định.

3. Kháng chiến ở Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc Kì (1873 – 1874).

– Khi quân Pháp kéo vào Hà Nội, nhân dân ta anh dũng chống Pháp như trận chiến đấu ở Ô Thanh Hà (Quan Chưởng).

– Tại các tỉnh đồng bằng, ở đâu Pháp cũng vấp phải sự kháng cự của nhân dân ta. Các căn cứ kháng chiến được hình thành ở Thái Bình, Nam Định…

– Ngày 21 – 12 – 1873, quân Pháp bị thất bại ở Cầu Giấy do sự phối hợp của Hoàng Tá Viêm với quân Cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc, Gác-ni-ê bị giết.

– Song triều đình Huế lại kí Hiệp ước Giáp Tuất (15 – 3 – 1874). Pháp rút quân khỏi Bắc Kì; triều đình thừa nhận 6 tỉnh Nam Kì hoàn toàn thuộc Pháp.

II. Thực dân Pháp đánh Bắc Kì lần thứ hai. Nhân dân Bắc Kì tiếp tục kháng chiến trong những năm 1882 – 1884

1. Thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Kì lần thứ hai (1882)

*Tình hình Việt Nam sau Hiệp ước Giáp Tuất (1874)

– Làm sóng phản đối Hiệp ước diễn ra mạnh mẽ trong quần chúng.

– Nền kinh tế kiệt quệ, nhân dân đói khổ, giặc cướp nổi lên khắp nơi.

*Âm mưu của Pháp:

Tư bản Pháp phát triển mạnh, cần nguồn tài nguyên khoáng sản ở Bắc Kì.

Sau Hiệp ước 1874, Pháp quyết tâm chiếm bằng được Bắc Kì, biến nước ta thành thuộc địa.

Lấy cớ triều đình Huế vi phạm Hiệp ước năm 1874, tiếp tục giao thiệp với nhà Thanh, Pháp đem quân xâm lược Bắc Kì lần thứ hai.

*Diễn biến:

Ngày 3 – 4 – 1882, quân Pháp do Ri-vi-e chỉ huy đã kéo ra Hà Nội khiêu khích.

Ngày 25 – 4 – 1882, Ri-vi-e gửi tối hậu thư cho Tổng đốc thành Hà Nội là Hoàng Diệu buộc phải nộp thành. Không đợi trả lời, Pháp mở cuộc tiến công và chiếm thành Hà Nội, cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt từ sáng đến trưa, Hoàng Diệu thắt cổ tự vẫn.

Pháp nhanh chóng chiếm một số nơi khác như Hòn Gai, Nam Định và các tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Kì.

2. Nhân dân Bắc Kì tiếp tục kháng Pháp.

Ở Hà Nội, nhân dân tự tay đốt nhà, tạo thành bức tường lửa chặn bước tiến của quân giặc.

Tại các nơi khác, nhân dân tích cực đắp đập, cắm kè trên sông, làm hầm chông, cạm bẫy để ngăn bước tiến của quân Pháp.

Ngày 19 – 5 – 1883, quân ta giành thắng lợi lớn trong trận Cầu Giấy lần thứ hai, Ri-vi-e bị giết tại trận.

Chiến thắng Cầu Giấy lần thứ hai làm cho quân Pháp thêm hoang mang, dao động, chúng định bỏ chạy nhưng triều đình Huế lại chủ trương thương lượng với Pháp hi vọng chúng sẽ rút quân.

3. Hiệp ước Pác-tơ-nốt 1884. Nhà nước phong kiến Việt Nam sụp đổ.

– Chiều 18 – 8 – 1883, Pháp bắt đầu tiến công vào Thuận An, đến ngày 20 – 8, Pháp đổ bộ lên khu vực này.

– Ngày 25 – 8 – 1883, triều đình Huế kí với Pháp Hiệp ước Hác-măng (thừa nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Bắc Kì, Trung Kì)

Nội dung Hiệp ước Hác – măng:

– Việt Nam đặt dưới sự “bảo hộ” của Pháp.

Nam Kì là thuộc địa, Bắc Kì là đất bảo hộ, Trung Kì do triều đình quản lí.

Đại diện của Pháp ở Huế trực tiếp điều khiển ở Trung Kì.

Ngoại giao của Việt Nam do Pháp nắm giữ.

– Về quân sự: triều đình phải nhận các huấn luyện viên và sĩ quan chỉ huy của Pháp, phải triệt hồi binh lính từ Bắc Kì về kinh đô, Pháp được tự do đóng quân ở Bắc Kì, được toàn quyền xử trí quân Cờ Đen.

– Về kinh tế: Pháp kiểm soát toàn bộ các nguồn lợi trong nước.

– Sau Hiệp ước Hác-măng, Pháp chiếm hàng loạt các tỉnh Bắc Kì: Bắc Ninh, Tuyên Quang, Thái Nguyên…

-Ngày 6 – 6 -1884, Pháp buộc triều đình Huế kí Hiệp ước Pa-tơ-nốt. Với hiệp ước này, nhà nước phong kiến Việt Nam với tư cách một quốc gia độc lập đã hoàn toàn sụp đổ, thay vào đó là chế độ thuộc địa nửa phong kiến, kéo dài đến Cách mạng thàng Tám năm 1945

(trang 120 sgk Lịch Sử 8): – Nêu những nét cơ bản của tình hình Việt Nam sau năm 1867.

Trả lời:

– Thực dân Pháp củng cố bộ máy cai trị của chúng ở Nam Kì, đẩy mạnh cướp đoạt ruộng đất, bóc lột nhân dân Nam Kì, mở trường đào tạo tay sai…Chuẩn bị cho việc đánh chiếm Bắc Kì.

– Trong khi đó, triều đình Huế ngày càng bi đát, kinh tế khó khăn, thiên tai mất mùa, tài chính thiếu hụt, chính sách bế quan tỏa cảng vẫn được duy trì.

– Khởi nghĩa của nhân dân nổ ra ở nhiều nơi.

(trang 120 sgk Lịch Sử 8): – Thực dân Pháp đã tiến hành kế hoạch đánh chiếm Bắc Kì như thế nào?

Trả lời:

– Cuối năm 1872, chúng cho lái buôn Đuy-buy gây rối ở Hà Nội, nhằm tạo cơ hội cho Pháp can thiệp sâu vào vấn đề Bắc Kì.

– Lấy cớ giải quyết vụ Đuy-buy, Gác-ni-ê đưa hơn 200 quân Pháp ra Bắc. Nhưng thực chất, đây là việc làm nằm trong kế hoạch đánh chiếm Bắc Kì của thực dân Pháp.

– Sau đó, Pháp cho quân đánh thành Hà Nội 20-11-1873. Sau khi chiếm được thành, chúng cho quân đánh chiếm các tình Hưng Yên, Phủ Lý, Hải Dương, Ninh Bình và Nam Định.

Lập bảng nêu nội dung chủ yếu của các hiệp ước 1883 và 1884.

Gợi ý đáp án:

Hiệp ước Hác-măng 1883 Hiệp ước Pa-tơ-nốt 1884

– Bắc Kì và Trung Kì đặt dưới sự bảo hộ của Pháp, cắt tỉnh Bình Thuận ra khỏi Trung Kì, nhập vào Nam Kì thuộc Pháp.

– Triều đình Huế được cai quản Trung Kì nhưng phải thông qua Khâm sứ Pháp ở Huế. Ba tỉnh Thanh –Nghệ-Tĩnh được sáp nhập vào Bắc Kì.

– Công sứ Pháp ở Bắc Kì kiểm soát mọi công việc của quan lại triều đình, nắm quyền trị an và nội vụ.

– Việc giao thiệp với nước ngoài của triều đình Huế đều do Pháp nắm.

– Triều đình Huế rút quân đội khỏi Trung Kì.

Nội dung cơ bản giống với Hiệp ước 1883, chỉ sửa đổi về ranh giới khu vực Trung Kì như:

– Trả lại các tỉnh Bình Thuận ở phía Nam và Thanh-Nghệ-Tĩnh ở phía Bắc cho triều đình Huế.

– Cho phép triều đình Huế có quân đội riêng.

Tại sao nói từ năm 1858 đến năm 1884 là quá trình triều đình Huế đi từ đầu hàng từng bước đến đầu hàng toàn bộ trước quân xâm lược?

Gợi ý đáp án:

Từ năm 1858 đến năm 1884 là quá trình triều đình Huế đi từ đầu hàng từng bước đến đầu hàng toàn bộ trước quân xâm lược, lần lượt kí với Pháp các bản hiệp ước bán nước :

– Hiệp ước Nhâm Tuất 1862:

Thừa nhận quyền cai quản của Pháp ờ 3 tỉnh Đông Nam Kì (Gia Định, Định Tường, Biên Hoà) và đảo Côn Lôn.

Mở 3 cửa biển cho Pháp vào buôn bán…

– Hiệp ước Giáp Tuất 1874: thừa nhận 6 tỉnh Nam Kì hoàn toàn thuộc Pháp…

– Hiệp ước Hác-măng 1883:

Triều đình Huế chính thức thừa nhận nền bảo hộ của Pháp ờ Bắc Kì và Trung Kì, cắt Bình Thuận nhập vào Nam Kì thuộc Pháp.

Việc giao thiệp với nước ngoài (kể cả với Trung Quốc) đều do Pháp nắm.

– Hiệp ước Pa-tơ-nốt 1884: Tiếp tục thừa nhận sự bảo hộ của nước Pháp…

⇒ Qua những hiệp ước trên, ta thấy triều đình Huế từ chỗ cắt từng bộ phận lãnh thổ đi đến thừa nhận nền thống trị của Pháp trên toàn bộ lãnh thổ nước ta. Việt Nam từ một nước phong kiến độc lập trở thành nước thuộc địa nửa phong kiến.

Địa Lí 8 Bài 25: Lịch Sử Phát Triển Của Tự Nhiên Việt Nam Soạn Địa 8 Trang 95

1. Giai đoạn Tiền Cambri

Đây là giai đoạn đầu tiên hình thành lãnh thổ nước ta và kết thúc cách đây khoảng 542 triệu năm.

Vào giai đoạn này các loài sinh vật còn rất ít và đơn giản, bầu khí quyển ít oxi.

2. Giai đoạn Cổ kiến tạo

Giai đoạn này diễn ra trong hai giai đoạn Cổ sinh và Trung Sinh, kéo dài 500 năm và cách ngày nay ít nhất 65 triệu năm.

Các vận động tạo núi lớn là Calêđoni, Hexximi, Inđôxini, Kimmêri.

Trong giai đoạn này phần lãnh thổ nước ta được hình thành, giới sinh vật phát triển mạnh mẽ, hình thành các bể than,…

3. Giai đoạn Tân kiến tạo

Là giai đoạn tương đối ngắn, diễn ra trong đại Tân sinh và là một giai đoạn rất quan trọng đối với nước ta cũng như thế giới.

Vận động Tân kiến tạo diễn ra cách ngày nay khoảng 25 triệu năm và có cường độ mạnh mẽ làm nâng cao địa hình làm cho sông ngòi trẻ lại hoàn thiện giới sinh vật và còn đang tiếp diễn.

Trong giai đoạn này con người xuất hiện.

→Lịch sử phát triển lâu dài của nước ta đã sản sinh nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, đa dạng mà chúng ta còn chưa biết hết.

Trình bày sự phát triển của tự nhiên nước ta?

Gợi ý đáp án

Lịch sử phát triển tự nhiên của Việt Nam có thể chia là ba giai đoạn lớn:

– Giai đoạn Tiền Cambri (tạo lập nền móng sơ khai của lãnh thổ):

Cách ngày này ít nhất khoảng 570 triệu năm. Khi đó đại bộ phận lãnh thổ nước ta còn là biển.

Phần đất liền là những mảng nền cổ: Kun Tom, Việt Bắc, Hoàng Liên Sơn, Sông Mã, Pu-Hoạt.

Các loài sinh vật còn rất ít và đơn giản. Bầu khí quyển rất ít oxi.

– Giai đoạn Cổ kiến tạo (phát triển, ổn định, mở rộng lãnh thổ):

Cách ngày nay ít nhất 65 triệu năm.

Có nhiều vận động tạo núi lớn (Ca-lê-đô-ni, Hec-xi-ni, In-đô-xi-ni, Ki-mê-ri) làm thay đổi hẳn hình thể nước ta so với trước. Phần lớn lãnh thổ nước ta đã trở thành đất liền.

Sinh vật phát triển mạnh mẽ, là thời kì cực thịnh của bò sát khủng long và cây hạt trần.

Xuất hiện các khối núi đá vô và các bể than lớn tập trung ở miền Bắc và rải rác ở một số nơi.

Cuối giai đoạn này, địa hình nước ta bị ngoại lực bào mòn, hạ thấp.

– Giai đoạn Tân kiến tạo (tạo nên diện mạo hiện đại của lãnh thổ và còn đang tiếp diễn):

Cách ngày nay ít nhất khoảng 25 triệu năm.

Nâng cao địa hình, núi, sông trẻ lại.

Hình thành các cao nguyên ba dan và đồng bằng phù sa trẻ; mở rộng Biển Đông, tạo các bề mặt dầu khí ở thềm lục địa và ở đồng bằng châu thổ.

Sinh vật biển phát triển phong phú và hoàn thiên, xuất hiện loài người trên Trái Đất

Nêu ý nghĩa của giai đoạn Tân kiến tạo đối với sự phát triển lãnh thổ nước ta hiện nay.

Gợi ý đáp án

Giai đoạn Tân kiến tạo đối với sự phát triển lãnh thổ nước ta hiện nay như:

Nâng cao địa hình, làm cho núi non, sông ngòi trẻ lại.

Xuất hiên các cao nguyên ba dan, núi lửa.

Sụt lún tại các vùng đồng bằng phù sa trẻ.

Mở rộng biển Đông.

Góp phần hình thành các khoáng sản: dầu khí, boxit, than bùn…

Sưu tầm các mẫu đá và hóa thạch có ở địa phương em

Gợi ý đáp án

Cây đá hóa thạch 25 triệu năm tuổi ở chùa Tam Thanh, Lạng Sơn

Soạn Bài Viết Đoạn Văn Trình Bày Luận Điểm Soạn Văn 8 Tập 2 Bài 25 (Trang 79)

Soạn bài Viết đoạn văn trình bày luận điểm

1. Đọc các đoạn văn trong SGK và trả lời câu hỏi:

– Trong hai đoạn văn trên, đoạn nào được viết theo cách diễn dịch và đoạn nào được viết theo cách quy nạp? Phân tích cách diễn dịch và quy nạp trong mỗi đoạn văn.

Gợi ý:

a. Thật là chống tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời.

b. Đồng bào ta ngày nay cũng rất xứng đáng với tổ tiên ta ngày trước

– Đoạn văn a viết theo lối quy nạp; đoạn văn b viết theo lối diễn dịch

2. Đọc đoạn văn trong SGK và trả lời câu hỏi

a. Hãy xem lại Ngữ văn 7, tập hai và cho biết: Lập luận là gì? Tìm luận điểm và cách lập luận trong đoạn văn trên. (Gợi ý: có phải nhà văn dùng phép tương phản hay không?)

b. Cách lập luận trong đoạn văn trên có làm cho luận điểm trở nên sáng sủa chính xác và có sức thuyết phục mạnh mẽ không?

c. Em có nhận xét gì về việc sắp xếp các ý trong đoạn văn vừa dẫn? Nếu tác giả xếp nhận xét Nghị Quế “đùng đùng giở giọng chó má ngay với mẹ con chị Dậu” lên trên và đưa nhận xét “vợ chồng địa chủ cũng… thích chó, yêu gia súc” xuống dưới thì hiệu quả của đoạn văn sẽ bị ảnh hưởng thế nào?

d. Trong đoạn văn, những cụm từ chuyện chó con, giọng chó má, thằng nhà giàu rước chó vào nhà, chất chó đểu của giai cấp nó được xếp cạnh nhau. Cách viết ấy có làm cho sự trình bày luận điểm thêm chặt chẽ và hấp dẫn không? Vì sao?

Gợi ý:

a. Luận điểm: Cho thằng nhà giàu rước chó vào nhà, nó mới phát hiện chất chó đểu của giai cấp nó ra.

b. Tác giả sử dụng phép tương phản để làm luận điểm trở nên sáng sủa chính xác và có sức thuyết phục mạnh mẽ

c. Cách sắp xếp hợp lý, nếu tác giả xếp nhận xét Nghị Quế “đùng đùng giở giọng chó má ngay ra với mẹ con chị Dậu” lên trên và đưa nhận xét “vợ chồng địa chủ… thích chó, yêu gia súc” xuống dưới thì đoạn văn không đúng trình tự trước sau của sự việc, không làm bật được bản chất “chó đểu” của giai cấp nó.

d. Trong đoạn văn, những cụm từ “chuyện chó con”, “giọng chó má”, “thằng nhà giàu rước chó vào nhà”… được xếp cạnh nhau làm cho sự trình bày luận điểm thêm chặt chẽ, hấp dẫn, từ đó lộ ra bản chất thú vật của bọn địa chủ.

Tổng kết: Khi trình bày luận điểm trong văn nghị luận cần chú ý:

– Tìm đủ các luận cứ cần thiết, tổ chức lập luận theo một trình tự hợp lí để làm nổi bật luận điểm.

– Diễn đạt trong sáng, hấp dẫn, để sự trình bày luận điểm có sức thuyết phục.

Câu 1. Đọc hai câu văn sau và diễn đạt ý mỗi câu thành một luận điểm ngắn gọn, rõ.

a. Trước hết là cần phải tránh cái lối viết “rau muống” nghĩa là lằng nhằng “trường giang đại hải”, làm cho người xem như là “chắt chắt vào rừng xanh”.

(Hồ Chí Minh, Cách viết)

b. Ngoài việc đam mê viết, cái thích thứ hai của Nguyên Hồng là được truyền nghề cho bạn trẻ.

(Nguyễn Tuân)

Gợi ý:

a. Trước hết cần tránh lối viết lan man, dài dòng.

b. Ngoài đam mê viết, Nguyên Hồng thích được truyền nghề cho bạn trẻ.

Câu 2. Đoạn văn trong SGK trình bày luận điểm gì và sử dụng các luận cứ nào? Hãy nhận xét về cách sắp xếp luận cứ và cách diễn đạt của đoạn văn.

Gợi ý:

– Luận điểm của đoạn văn: Tế Hanh là một người tinh lắm.

– Luận cứ:

Tế Hanh đã ghi được đôi nét rất thần tình về cảnh sinh hoạt chốn quê hương.

Tế Hanh đưa ta vào một thế giới rất gần gũi.

– Luận cứ được Nguyễn Tuân đưa ra và sắp xếp rất logic, hợp lý.

Câu 3. Viết các đoạn văn ngắn triển khai ý các luận điểm sau:

a. Học phải kết hợp làm bài tập thì mới hiểu bài.

b. Học vẹt không phát triển được năng lực suy nghĩ.

Gợi ý:

a.

Học phải kết hợp làm bài tập thì mới hiểu bài. Đầu tiên, học là sự thu nhận kiến thức từ người khác truyền lại, rèn luyện thành kỹ năng, nhận thức. Tuy nhiên, những kiến thức đó chỉ là ý thuyết, nếu không thực hành thì lý thuyết ấy cũng không có giá trị. Việc làm bài tập sẽ giúp ta khắc sâu được phần lý thuyết vừa học trên trường. Khi học xong một công thức toán học, việc làm nhiều bài tập sẽ giúp học sinh ghi nhớ công thức đó dễ dàng hơn. Không chỉ thế, làm bài tập sẽ giúp ta hiểu sâu hơn kiến thức và lấy nó làm nền tảng để mở rộng kiến thức ấy. Học tập lí thuyết phải kết hợp với thực hành.

b.

Bản chất của việc học là tiếp thu tri thức, học để hiểu biết, học để làm người. Thế nhưng học vẹt lại là hình thức học đối phó, học thuộc lòng, lặp đi lặp lại kiến thức một cách máy móc. Những người học vẹt không học vì kiến thức mà chỉ học vì điểm số, vì các bài kiểm tra. Hậu quả là khi đã học vét, ta sẽ không hiểu được bản chất của vấn đề, có khi kiến thức sai chính ta cũng không nhận ra được. Lâu dẫn con người sẽ bị trì trệ, bộ não không chịu hoạt động, suy nghĩ khiến ta trở nên lười biếng, chây lì, chậm chạp. Có thể nói, học vẹt không thể phát triển được năng lực suy nghĩ của con người.

Advertisement

Câu 4. Để làm sáng tỏ luận điểm “Văn giải thích cần phải viết cho dễ hiểu”, em sẽ đưa ra những luận cứ nào? Những luận cứ ấy cần được sắp xếp theo một trình tự như thế nào để tăng hiệu quả thuyết phục của đoạn văn?

Có thể tham khảo trình tự sắp xếp luận cứ trong đoạn văn sau:

Mình viết ra cốt là để giáo dục, cổ động; nếu người xem mà không nhớ được, không hiểu được, là viết không đúng, nhằm không đúng mục đích. Mà muốn cho người xem hiểu được, nhớ được, làm được, thì phải viết cho đúng trình độ của người xem, viết rõ ràng, gọn gàng, chớ dùng chữ nhiều.

(Hồ Chí Minh, Cách viết)

Gợi ý:

– Mục đích của văn giải thích là để giải thích cho người đọc hiểu rõ vấn đề nào đó.

– Nếu viết không dễ hiểu, người đọc từ chỗ khó tiếp nhận lời văn lại càng khó để hiểu người viết muốn trình bày.

– Khi viết cần thể hiện rành mạch, giản dị, tránh lỗi dùng từ cầu kỳ, có những cấu trúc phức tạp, cản trở quá trình tri nhận.

– Ngoài ra, khi viết phải chú ý tới đối tượng tiếp nhận để sử dụng ngôn ngữ hợp lý và đạt hiệu quả cao.

Lịch Sử Lớp 5 Bài 20: Bến Tre Đồng Khởi Giải Bài Tập Lịch Sử 5 Trang 43

Trả lời câu hỏi Lịch sử 5 Bài 20 trang 44

❓Quan sát hình trên, em có nhận xét gì về khí thế nổi dậy của đồng bào miền Nam?

Trả lời:

Bức hình cho thấy khí thế nổi dậy của đồng bào miền Nam vô cùng quyết liệt, đông đảo nhân dân hăng hái tham gia vào cuộc nổi dậy. Người người đều đồng lòng đứng lên bảo vệ đất nước.

Giải bài tập SGK Lịch sử 5 trang 44 Câu 1

Phong trào “Đồng khởi” ở Bến Tre nổ ra trong hoàn cảnh nào?

Trả lời:

Trước sự tàn sát của Mĩ – Diệm, nhân dân miền Nam không thể chịu đựng mãi, không còn con đường nào khác, buộc phải vùng lên phá tan ách kìm kẹp. Cuối năm 1959 đầu năm 1960, khắp miền Nam bùng lên phong trào “Đồng khởi”. Bến Tre là nơi diễn ra “Đồng khởi” mạnh mẽ nhất.

Câu 2

Thuật lại sự kiện ngày 17 – 1 – 1960 ở huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre

Trả lời:

Ngày 17 – 1 – 1960, nhân dân huyện Mỏ Cày đứng lên khởi nghĩa, mở đầu phong trào “Đồng khởi” ở tỉnh Bến Tre. Với vũ khí thô sơ, gậy gộc, giáo mác,… nhân dân nhất loạt vùng dậy. Tiếng trống, tiếng mõ, tiếng súng,… hoà cùng tiếng hò reo vang dội của hàng vạn người đã làm chữ quân địch khiếp đảm. Nhân dân cùng với các chiến sĩ tự vệ phá đồn giặc, tiêu diệt ác ôn, đập tan bộ máy cai trị của Mĩ – Diệm ở các xã, ấp.

Từ cuộc nổi dậy ở Mỏ Cày, phong trào lan nhanh ra các huyện khác. Chỉ trong một tuần lễ, ở Bến Tre đã có 22 xã được giải phóng hoàn toàn, 29 xã khác đã tiêu diệt ác ôn, vây đồn, giải phóng nhiều ấp.

Câu 3

Thắng lợi của phong trào “Đồng khởi” ở Bến Tre có tác động như thế nào đối với cách mạng miền Nam?

Trả lời:

Phong trào “Đồng khởi” ở Bến Tre đã trở thành ngọn cờ tiên phong, đẩy mạnh cuộc đấu tranh của đồng bào miền Nam ở cả nông thôn và thành thị. Chỉ tính trong năm 1960, có hơn 10 triệu lượt người, bao gồm nông dân, công nhân, trí thức,… tham gia đấu tranh chống lại Mĩ – Diệm. Từ đây, cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam không chỉ có hình thức đấu tranh chính trị mà còn kết hợp với đấu tranh vũ trang, đẩy quân Mĩ và quản đội Sài Gòn vào thế bị động lúng túng.

Advertisement

Lý thuyết bài Bến Tre đồng khởi

Ngày 17/1/1960, nhân dân huyện Mỏ Cày đứng lên khởi nghĩa, mở đầu phong trào “Đồng Khởi” ở tỉnh Bến Tre. Với vũ khí thô sơ, nhân dân vùng dậy, làm cho quân địch khiếp đảm.

Từ cuộc nổi dậy ở Mỏ Cày, phong trào lan nhanh các huyện khác. Sau đó, lan khắp miền Nam.

Sau một tuần: 22 xã được giải phóng, 29 xã khác được tiêu diệt ác ôn, vây đồn, giải phóng nhiều ấp.

Phong trào mở ra thời kì mới cho cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam.

Soạn Bài Câu Cầu Khiến Soạn Văn 8 Tập 2 Bài 20 (Trang 30)

Soạn bài Câu cầu khiến

Mời các bạn học sinh lớp 8 tham khảo để có thêm kiến thức cần thiết khi tìm hiểu về kiểu câu này.

a. Đọc đoạn trích trong SGK và trả lời câu hỏi:

– Những câu cầu khiến:

Câu a: “Thôi đừng lo lắng. Cứ về đi”

Câu b: “Đi thôi con”

– Đặc điểm hình thức: Trong câu có các từ ngữ cầu khiến như đừng, cứ, thôi.

– Câu cầu khiến dùng để:

Thôi đừng lo lắng: khuyên bảo

Cứ về đi: yêu cầu

Đi thôi con: yêu cầu

b. Đọc to những câu trong SGK và trả lời câu hỏi:

– Khi đọc “Mở cửa!” trong câu b, ta cần đọc với giọng nhấn mạnh hơn vì đây là một câu cầu khiến.

– Trong câu a, “Mở cửa!” dùng để trả lời. Trong câu b, “Mở cửa!” dùng để yêu cầu, sai khiến.

Tổng kết:

– Câu cầu khiến là câu có những từ cầu khiến như: hãy, chớ, đừng… đi, thôi, nào… hay ngữ điệu cầu khiến, dùng để ra lệnh, yêu cầu, đề nghị, khuyên bảo…

– Khi viết, câu cầu khiến thường kết thúc bằng dấu chấm than, nhưng khi ý cầu khiến không được nhấn mạnh thì có thể kết thúc bằng dấu chấm.

Câu 1. Xét các câu trong SGK và trả lời câu hỏi:

– Đặc điểm hình thức: Các câu trên đều chứa các từ ngữ cầu khiến “hãy, đi, đừng”.

– Chủ ngữ trong các câu trên đều chỉ người tiếp nhận câu nói hoặc chỉ một nhóm người có mặt trong đối thoại. Cụ thể:

Câu a: Không có chủ ngữ (ở đây ngầm hiểu là Lang Liêu, căn cứ vào những câu trước đó).

Câu b: Chủ ngữ là “Ông giáo”.

Câu c: Chủ ngữ là “Chúng ta”.

– Có thể thêm, bớt hoặc thay đổi chủ ngữ của các câu trên, về cơ bản nghĩa của các câu ít nhiều đều có sự thay đổi:

Con hãy lấy gạo làm bánh mà lễ Tiên Vương (thêm chủ ngữ, nội dung câu không đổi, người nghe được nói tới cụ thể hơn).

Hút trước đi. (Bỏ chủ ngữ, ý nghĩa cầu khiến dường như mạnh hơn, câu nói kém lịch sự hơn).

Nay cách anh đừng làm gì nữa, thử xem lão Miệng có sống được không (thay đổi chủ ngữ, nội dung câu có thay đổi, trong chủ ngữ không có người nói).

Câu 2. Trong những đoạn trích ở SGK, câu nào là câu cầu khiến? Nhận xét sự khác nhau về hình thức biểu hiện ý nghĩa cầu khiến giữa những câu đó.

– Các câu cầu khiến:

a. Thôi, im cái điệu hát mưa dầm sùi sụt ấy đi.

b. Các em đừng khóc.

c. Đưa tay cho tôi mau! Cầm lấy tay tôi này!

– Nhận xét sự khác nhau về hình thức biểu hiện ý nghĩa cầu khiến giữa các câu:

Nhận xét sự khác nhau về hình thức biểu hiện ý nghĩa cầu khiến giữa những câu đó:

Câu a: Thiếu chủ ngữ, từ ngữ cầu khiến kèm theo là từ đi.

Câu b: Chủ ngữ là “Các em” (ngôi thứ hai, số nhiều), từ ngữ cầu khiến là từ đừng.

Câu c: Không có chủ ngữ và từ ngữ cầu khiến, chỉ có ngữ điệu cầu khiến.

Câu 3. So sánh hình thức và ý nghĩa của hai câu sau:

a. Hãy cố ngồi dậy húp ít cháo cho đỡ xót ruột!

b. Thầy em hãy cố ngồi dậy húp ít cháo cho đỡ xót ruột.

(Ngô Tất Tố, Tắt đèn)

– Câu a: Không có chủ ngữ.

– Câu b: Có chủ ngữ “Thầy em”, ý nghĩa cầu khiến nhẹ nhàng hơn, tình cảm của người nói cũng được thể hiện rõ hơn.

Câu 4. Xét đoạn văn trong SGK và trả lời câu hỏi:

– Dế Choắt nói với Dế Mèn nhắm mục đích: Muốn nhờ Dế Mèn đào một cái hàng thông sang nhà Dế Mèn để phòng khi gặp chuyện thì giúp đỡ nhau.

– Dế Choắt không đưa ra những câu “Anh hãy đào giúp em một cái ngách sang bên nhà anh!” hay “Đào ngay giúp em một cái ngách” vì Dế Choắt biết yếu đuối, muốn nhờ vả Dế Mèn thì không thể yêu cầu mà phải nhún nhường, nhận mình là bề dưới.

Câu 5. Đọc đoạn trích trong SGK và trả lời câu hỏi.

– Không thể thay thế với nhau.

– Nguyên nhân:

Câu “Đi thôi con!” yêu cầu đứa con phải làm theo mình.

Câu “Đi đi con!” như một sự động viên, khích lệ đứa con hãy can đảm bước đi một mình.

1. 

– Câu cầu khiến

Câu a: “Thôi đừng lo lắng. Cứ về đi”

Câu b: “Đi thôi con”

– Đặc điểm hình thức: Trong câu có các từ ngữ cầu khiến như “đừng, cứ, thôi”.

– Câu cầu khiến dùng để:

Thôi đừng lo lắng: khuyên bảo

Cứ về đi: yêu cầu

Đi thôi con: yêu cầu

2. 

– Khi đọc “Mở cửa!” trong câu b, ta cần đọc với giọng nhấn mạnh hơn vì đây là một câu cầu khiến.

– Trong câu a, “Mở cửa!” dùng để trả lời. Trong câu b, “Mở cửa!” dùng để yêu cầu, sai khiến.

Câu 1.

– Đặc điểm hình thức: Có các từ ngữ cầu khiến “hãy, đi, đừng”.

– Chủ ngữ trong các câu trên đều chỉ người tiếp nhận câu nói hoặc chỉ một nhóm người có mặt trong đối thoại. Cụ thể:

Câu a: Không có chủ ngữ (ở đây ngầm hiểu là Lang Liêu, căn cứ vào những câu trước đó).

Câu b: Chủ ngữ là “Ông giáo”.

Câu c: Chủ ngữ là “Chúng ta”.

– Có thể thêm, bớt hoặc thay đổi chủ ngữ của các câu trên, về cơ bản nghĩa của các câu ít nhiều đều có sự thay đổi:

Con hãy lấy gạo làm bánh mà lễ Tiên Vương (thêm chủ ngữ, nội dung câu không đổi, người nghe được nói tới cụ thể hơn).

Hút trước đi. (Bỏ chủ ngữ, ý nghĩa cầu khiến dường như mạnh hơn, câu nói kém lịch sự hơn).

Nay cách anh đừng làm gì nữa, thử xem lão Miệng có sống được không (thay đổi chủ ngữ, nội dung câu có thay đổi, trong chủ ngữ không có người nói).

Advertisement

Câu 2.

– Các câu cầu khiến:

a. Thôi, im cái điệu hát mưa dầm sùi sụt ấy đi.

b. Các em đừng khóc.

c. Đưa tay cho tôi mau! Cầm lấy tay tôi này!

– Nhận xét:

Câu a: Thiếu chủ ngữ, từ ngữ cầu khiến kèm theo là từ đi.

Câu b: Chủ ngữ là “Các em” (ngôi thứ hai, số nhiều), từ ngữ cầu khiến là từ đừng.

Câu c: Không có chủ ngữ và từ ngữ cầu khiến, chỉ có ngữ điệu cầu khiến.

Câu 3.

– Câu a: Không có chủ ngữ.

– Câu b: Có chủ ngữ “Thầy em”, ý nghĩa cầu khiến nhẹ nhàng hơn, tình cảm của người nói cũng được thể hiện rõ hơn.

Câu 4.

– Dế Choắt nói với Dế Mèn nhắm mục đích: Muốn nhờ Dế Mèn đào một cái hàng thông sang nhà Dế Mèn để phòng khi gặp chuyện thì giúp đỡ nhau.

– Dế Choắt không đưa ra những câu “Anh hãy đào giúp em một cái ngách sang bên nhà anh!” hay “Đào ngay giúp em một cái ngách” vì Dế Choắt biết yếu đuối, muốn nhờ vả Dế Mèn thì không thể yêu cầu mà phải nhún nhường, nhận mình là bề dưới.

Câu 5.

– Không thể thay thế với nhau.

– Nguyên nhân:

Câu “Đi thôi con!” yêu cầu đứa con phải làm theo mình.

Câu “Đi đi con!” như một sự động viên, khích lệ đứa con hãy can đảm bước đi một mình.

Lịch Sử 7 Bài 4: Trung Quốc Từ Thế Kỉ Vii Đến Giữa Thế Kỉ Xix Soạn Sử 7 Trang 24 Sách Kết Nối Tri Thức Với Cuộc Sống

Từ thế kỉ VII đến giữa thế kỉ XIX, lịch sử Trung Quốc trải qua các triều đại phong kiến nào? Hãy thể hiện tiến trình lịch sử đó trên trục thời gian theo ý tưởng của em.

Trả lời:

Từ thế kỷ VII đến thế kỷ XIX, lịch sử Trung Quốc tiếp tục trải qua các triều đại phong kiến là:

Nhà Đường (618 – 907)

Thời kì Ngũ đại thập quốc (907 – 960).

Thời Tống (960 – 1279)

Thời Nguyên (1271 – 1368)

Nhà Minh (1368 – 1644)

Nhà Thanh (1644 – 1911)

Hãy trình bày những biểu hiện chính về sự thịnh vượng của Trung Quốc thời Đường.

Trả lời:

Những biểu hiện chính về sự thịnh vượng của Trung Quốc thời Đường.

– Về chính trị:

Dưới thời Đường bộ máy nhà nước được hoàn chỉnh. Đặt các khoa thi tuyển chọn người đỗ đạt ra làm quan, cử người thân tín cai quản các địa phương.

Chính sách xâm lược để mở rộng lãnh thổ như xâm chiếm vùng Nội Mông, chinh phục Tây Vực, Triều Tiên và củng cố chế độ cai trị ở An Nam đô hộ phủ (Việt Nam bấy giờ),…

– Về kinh tế:

Nông nghiệp: chính sách giảm thuế, chế độ quân điền. Kỹ thuật canh tác mới được áp dụng do đó nông nghiệp đã có bước phát triển.

Thủ công nghiệp: luyện sắt, đóng thuyền,… và các ngành nghề thủ công khác ngày càng phát triển với các xưởng có hàng chục người làm việc.

Thương nghiệp: có quan hệ buôn bán với hầu hết các nước châu Á. Những tuyến đường giao thông truyền thống khác đến thời Đường đã trở thành “con đường tơ lụa”.

Câu 1: Nêu những biểu hiện nổi bật về sự phát triển kinh tế thời Minh – Thanh.

Trả lời:

Biểu hiện nổi bật về sự phát triển kinh tế thời Minh – Thanh:

– Nông nghiệp:

Có những tiến bộ về kĩ thuật gieo trồng.

Diện tích trồng trọt vượt xa các thời trước, sản lượng lương thực tăng nhiều.

Tình trạng cướp đoạt ruộng đất của địa chủ vẫn gia tăng.

– Thủ công và thương nghiệp: các hình thức công xưởng thủ công đã xuất hiện trong các nghề dệt, làm giấy, đổ sứ.

– Ngoại thương:

Từ thế kỉ XVII đã có một số thương nhân châu Âu đến Trung Quốc buôn bán.

Đến triều nhà Thanh, do thi hành chính sách đóng cửa biển, đã hạn chế người châu Âu vào Trung Quốc.

Kinh tế công thương nghiệp sớm phát triển, kinh tế tự nhiên luôn chiếm địa vị thống trị, kinh tế tư bản chủ nghĩa không phát triển.

Câu 2: Theo em, những thành tựu nào là nổi bật nhất? Vì sao?

Trả lời:

Thành tựu lớn nhất của sự phát triển kinh tế thời Minh – Thanh đó chính là sự phát triển mạnh mẽ của thương nghiệp.

Thời Minh – Thanh, thương nghiệp đã phát triển mạnh mẽ và đã có dấu hiệu tách ra khỏi nông nghiệp. Việc buôn bán giữa các quốc gia được đẩy mạnh, cùng với đó là sự xuất hiện của các thành thị hưng thịnh như Bắc Kinh, Nam Kinh,…

“Con đường tơ lụa” vẫn phát triển trong thời gian này. Sự phát triển của công thương nghiệp đã tạo điều kiện cho sự xuất hiện của những mầm mống tư bản chủ nghĩa ở Trung Quốc, tuy nhiên vẫn còn nhỏ bé và chưa đủ sức chi phối mạnh mẽ đối với nền kinh tế – xã hội Trung Quốc.

Câu 1: Hãy giới thiệu những thành tựu văn hóa tiêu biểu của Trung Quốc từ thế kỉ VII đến thế kỉ XIX.

Trả lời:

Những thành tựu văn hóa tiêu biểu của Trung Quốc từ thế kỉ VII đến thế kỉ XIX

– Tư tưởng – tôn giáo:

Nho giáo: hệ tư tưởng chính thống của chế độ phong kiến Trung Quốc.

Phật giáo: phát triển và thịnh hành nhất dưới thời Đường, nhiều chùa chiền, tượng phật được xây dựng.

– Sử học, văn học:

Nhiều bộ sử lớn được biên soạn như Minh sử, Thanh thực sử, Tứ khố toàn thư,…

Nhiều nhà thơ nổi tiếng như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị. Thể thơ nổi tiếng nhất đó chính là thơ “Đường luật”.

Tiểu thuyết chương hồi: Thủy hử (Thi Nại Am), Tam quốc diễn nghĩa (La Quán Trung), Tây Du Ký (Ngô Thừa Ân), Hồng lâu mộng (Tào Tuyết Cần),…

– Kiến trúc, điêu khắc:

Nhiều cung điện cổ kính như Cố Cung, Viên Minh Viên, Tử Cấm Thành.

Nhiều bức họa đạt tới đỉnh cao, những bức tượng Phật tinh xảo, sinh động,…

– Khoa học kĩ thuật:

Tứ đại phát minh: thuốc súng, kỹ thuật in, la bàn và giấy.

Các ngành khoa học khác: Cửu chương toán thuật, phép tính lịch, thuật phẫu thuật và châm cứu trong y học.

Câu 2: Em hãy nêu nhận xét về những thành tựu văn hóa của Trung Quốc.

Trả lời:

Nhận xét: Kế thừa những di sản văn hóa cổ đại, đến thời trung đại, trên cơ sở những điều kiện kinh tế xã hội mới và sự giao lưu văn học với bên ngoài, nhân dân Trung Quốc đã sáng tạo ra những thành tựu văn hóa rất rực rỡ và độc đáo, trong đó nổi bật nhất là các mặt tư tưởng, văn học, sử học, nghệ thuật và một số lĩnh vực khoa học kĩ thuật

Những thành tựu lớn lao trên tất cả các lĩnh vực đã làm cho Trung Quốc trở thành một trung tâm văn minh quan trọng ở Viễn Đông và trên thế giới.

Tại sao nói thời Đường là thời kì thịnh vượng của chế độ phong kiến Trung Quốc?

Trả lời:

Dưới thời Đường, chế độ phong kiến Trung Quốc đạt được sự phát triển toàn diện trên tất cả các lĩnh vực: chính trị – kinh tế – văn hóa – xã hội.

– Chính trị:

Bộ máy nhà nước được củng cố, hoàn chỉnh từ trung ương đến địa phương.

Nhà nước mở nhiều khoa thi để tuyển chọn nhân tài.

Tiếp tục chính sách xâm lược các nước để mở rộng bờ cõi đất nước.

– Kinh tế:

Sản xuất nông nghiệp phát triển nhờ việc thực hiện: giảm tô thuế, bớt sưu dịch; chế độ quân điền; cải tiến kĩ thuật canh tác…

Các ngành nghề thủ công như rèn sắt, đóng thuyền,… có sự phát triển hơn trước.

Thương nghiệp phát triển, nhà Đường có quan hệ buôn bán với hầu hết các nước châu Á; con đường tơ lụa được hình thành.

– Xã hội ổn định, đời sống nhân dân ấm no.

– Văn hóa phát triển, tiêu biểu nhất là lĩnh vực văn học với hơn 2000 nhà thơ và hơn 50.000 tác phẩm thơ Đường luật.

Kinh tế thời Minh – Thanh có điểm gì mới so với thời Đường?

Trả lời:

Kinh tế thời Minh – Thanh có điểm mới so với thời Đường:

Đầu thế kỷ XVI, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã xuất hiện trong các ngành nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp.

Advertisement

Các thành thị Bắc Kinh, Nam Kinh không chỉ là trung tâm chính trị mà còn là trung tâm kinh tế lớn.

Đến thời Minh – Thanh, thương nghiệp đã phát triển mạnh mẽ và đã có dấu hiệu tách ra khỏi nông nghiệp.

Sự phát triển của công thương nghiệp đã tạo điều kiện cho sự xuất hiện của những mầm mống tư bản chủ nghĩa ở Trung Quốc.

Trong những thành tựu văn hóa tiêu biểu của Trung Quốc từ thế kỉ VII đến thế kỉ XIX, em ấn tượng với thành tựu nào nhất? Vì sao?

Trả lời:

– Trong những thành tựu văn hóa tiêu biểu của Trung Quốc từ thế kỷ VII đến thế kỷ XIX, em ấn tượng với thành tựu về Văn học. Vì:

Nền văn học Trung Quốc rất phong phú, đa dạng về thể loại, ví dụ: thơ Đường luật, kịch, tiểu thuyết chương hồi…

Trung Quốc có nhiều tác phẩm văn học đồ sộ, vang danh qua nhiều thế hệ, như: Tam quốc diễn (nghĩa của La Quán Trung); Hồng Lâu Mộng (của Tào Tuyết Cần)… Những tác phẩm này trở thành nguồn cảm hứng cho rất nhiều bộ phim mà hiện nay chúng ta vẫn xem, chẳng hạn như phim Tây Du Kí…

Văn hóa Trung Quốc cũng có ảnh hưởng rất lớn tới nền văn học của Việt Nam thời trung đại.

Liên hệ với lịch sử Việt Nam, em hãy tìm hiểu thêm và chia sẻ: Từ thế kỉ VII đến thế kỉ XIX, triều đại phong kiến Trung Quốc nào đã xâm lược Việt Nam?

Trả lời:

Từ thế kỷ VII đến thế kỷ XIX, Việt Nam đã bị các triều đại phong kiến Trung Quốc là: Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh đều tiến hành xâm lược Việt Nam.

Cập nhật thông tin chi tiết về Lịch Sử 8 Bài 25: Kháng Chiến Lan Rộng Ra Toàn Quốc (1873 – 1884) Soạn Lịch Sử 8 Trang 124 trên website Tdhj.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!