Xu Hướng 2/2024 # 12 Bài Thơ Hay Của Nhà Thơ Phạm Tiến Duật # Top 5 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết 12 Bài Thơ Hay Của Nhà Thơ Phạm Tiến Duật được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Tdhj.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Nhà thơ Phạm Tiến Duật, tên thật mà cũng là bút danh, sinh ngày 14-1-1941, mất năm 2007. Ông tốt nghiệp khoa Văn, Đại học sư phạm, nhưng chưa đi dạy ngày nào. Ông nhập ngũ năm 1965 có mười bốn năm trong quân đội thêm tám năm ở Trường Sơn, đoàn vận tải Quang Trung 559. Có thể nói Trường Sơn đã tạo nên thơ Phạm Tiến Duật, và Phạm Tiến Duật cũng là người mang được nhiều nhất Trường Sơn vào thơ. Nói đến đề tài Trường Sơn đánh Mỹ, người ta không thể quên Phạm Tiến Duật và thơ Phạm Tiến Duật hay nhất cũng ở chặng Trường Sơn. Sau khi chiến tranh đã qua, tâm hồn thơ Phạm Tiến Duật vẫn chưa ra khỏi Trường Sơn. Những bài thơ ông viết vẫn còn vang ngân lắm hình bóng của Trường Sơn. Phạm Tiến Duật có giọng thơ không giống ai, và cũng khó ai bắt chước được, dù hồi đó đã thấy vài người mô phỏng. Khó vì giọng đùa đùa, tinh nghịch, tếu táo nhưng lại đụng vào những miền sâu thẳm của tình cảm con người. Giọng ấy là của một chất tâm hồn chứ không phải chỉ đơn thuần một kiểu cách chữ nghĩa. chúng mình xin giới thiệu những bài thơ hay của ông.

Bài thơ: Cái cầu

Cái cầu

Bài thơ: CÁI CẦU (Phạm Tiến Duật)

Bài thơ: Gửi em, cô thanh niên xung phong

Gửi em, cô thanh niên xung phong

Chiếc võng bạc trên đường hành quân

Anh đã buộc nhiều cây xoan cây ổi

Bụi mù trời mùa hanh

Cạnh giếng nước có bom từ trường

Thương em, thương em, thương em biết mấy…

Trước những công trình ngoằn ngoèo trên mặt đất.

Bài thơ viết tại Đức Thọ năm 1968.

Nguồn: Trường Sơn – đường khát vọng, NXB Chính trị quốc gia, 2009

Bài thơ: Gửi em, cô thanh niên xung phong

Bài thơ: Hương trầm Đức Phổ

Hương trầm Đức Phổ

Theo bài báo “Một bài thơ chưa in của nhà thơ Phạm Tiến Duật” (Báo Văn nghệ công an, ngày 19-8-2013), bài thơ này được Phạm Tiến Duật viết khoảng tháng 6-2024, trước khi biết mình bị bệnh và qua đời, được đưa cho nhạc sĩ Lê Gia Hiếu để phổ nhạc biểu diễn trong chương trình hát về Đặng Thuỳ Trâm nhân dịp tỉnh Quảng Ngãi hoàn thành một bệnh xá mang tên chị ở huyện Đức Phổ. Ca khúc cùng tên đã được phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam những ngày sau đó.

Nguồn: Lê Gia Hiếu, “Một bài thơ chưa in của nhà thơ Phạm Tiến Duật”, Báo Văn nghệ công an, ngày 19-8-2013

Bài thơ: Khúc hát thanh xuân

Bài thơ: Hương trầm Đức Phổ

Khúc hát thanh xuân

1978

Nguồn: Báo Tiền phong, số ngày 30-1-1979

Bài thơ: Khúc hát thanh xuân

Bài thơ: Trường Sơn đông, Trường Sơn tây

Bài thơ: Khúc hát thanh xuân

Trường Sơn đông, Trường Sơn tây

Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây

Bài thơ: Một giờ và mười phút Bài thơ: Bài thơ về tiểu đội xe không kính

Bài thơ: Một giờ và mười phút

Bài thơ về tiểu đội xe không kính

NSUT Linh Nhâm ngâm thơ: Bài thơ về tiểu đội xe không kính Phạm Tiến Duật

Bài thơ: Lửa đèn

Lửa đèn

I. Đèn

II. Tắt lửa

III. Thắp đèn

1967

Ghi chú của tác giả: Hồi cuối năm 1966 tại Tây Bắc, tôi (PTD) đã có mấy tháng là pháo thủ pháo cao xạ (tiểu đoàn 24 trực thuộc Quân khu). Ấy thế mà còn viết nhầm. Do khi viết cứ mê đi, mụ đi mà nhầm. Ấy là dòng này “Tiếng anh đo xa điểm đều như đếm nhịp chày giã gạo”. Những dòng trên đã cho thấy pháo đây là pháo tầm thấp. Ban đêm làm sao dùng được máy đo xa bằng mắt thường. Nhưng thôi, không sửa. Đã là cuộc đời thì hẳn có tì vết.

Nguồn: Thơ Phạm Tiến Duật, NXB Hội nhà văn, 2007

Bài thơ: Nhớ

Bài thơ: Lửa đèn

Nhớ

Lời một chiến sỹ lái xe

1969

Bài thơ: Nhớ

Bài thơ: Em là tia nắng

Bài thơ: Nhớ

Em là tia nắng

Sinh ra cùng với mặt trời

Em là tia nắng vùng đời của anh

Nửa đời anh chẳng êm lành

Quầng bom lửa đỏ, da xanh sốt rừng

Mùa mưa em có biết không

Triền miên 6 tháng ròng ròng toàn mưa

Chồn chân trong khoảng rừng thưa

Lán bộ đội bấy sáng trưa nhớ… trời.

Đường dài có lúc gập ghềnh

Túi không em phải một mình nuôi con

Khổ nào bằng khổ cô đơn

Mà em vẫn một tấc son tự hồng

Ai người biết thuở tay không

Mà gương mặt vẫn tươi hồng nét xuân.

Qua rồi cái thuở gian truân

Đích xa mà lại thấy gần em ơi

Em là tia nắng vùng đời của nhau.

Xuân 2007

Bài thơ này được viết trong niềm cảm hứng mùa xuân mới, nằm trong số những bài thơ cuối cùng được tác giả viết nhưng vẫn chưa kịp công bố trước khi qua đời.

Nguồn: Lê Thị Thanh Bình, “Nhà thơ Phạm Tiến Duật: Những bài thơ cuối”, Báo An ninh thế giới, ngày 2-12-2008

Bài thơ: Nghe em hát trong rừng

Bài thơ: Em là tia nắng

Nghe em hát trong rừng

Nghe em hát mà anh buồn cười

Nhịp với phách xem chừng sai cả

Mồ hôi em ướt đầm trên má

Anh với mọi người nhìn nhau khen hay.

Khu rừng già âm i tàu bay

Các chiến sĩ nhìn em đăm đắm

Mũ sắt lấm, áo ngoài cũng lấm

Mỗi khi cười bóng dáng cứ lung linh

Có lẽ vì khuôn mặt em xinh

Nên tiếng hát nhoè đi không nhớ nữa

Rồi trí nhớ lại bén bùng như lửa

Ẩn náu rất nhiều giọng hát ở xa xăm.

Giữa một vùng đất bụi khô rang

Em bỗng đến như dòng sông đầy nước

Trong nhà hầm hun đầy khói thuốc

Câu hát chành như võng đưa

Các chiến sĩ nghe em hát say sưa

Ngày mai ngày kia sẽ chuyện trò vô khối

Giữa những câu chuyện không đầu không cuối

Bao nhiêu người lại nhắc đến em.

Câu hát bay vòng qua đêm

Mai chiến sĩ lại ra cao điểm

Cuộc chiến đấu đang còn tiếp diễn

Em còn đi, rừng mở những gian hầm.

Tiếng hát bay vòng tháng năm

Ở đâu mà không cần tiếng hát

Nhưng giữa chiến trường nhiều khi thay cho nhạc

Là những tâm hồn có nhạc ở bên trong.

Câu hát màu chi mà khuôn mặt màu hồng

Tiếng hát xa rồi, không nhớ nữa

Đốt lòng nhau cứ gì phải lửa

Tiếng hát trong rừng bay xa, bay xa.

Bài thơ: Nghe em hát trong rừng

Bài thơ: Đèo Ngang

Bài thơ: Nghe em hát trong rừng

Đèo Ngang

Đường nhằm hướng Nam,

Đăng bởi: Vân Đoàn

Từ khoá: 12 Bài thơ hay của nhà thơ Phạm Tiến Duật

10 Bài Thơ Hay Của Nhà Thơ Giang Nam

Giang Nam tên thật là Nguyễn Sung, sinh ngày 2/2/1929. Các bút danh khác có Châu Giang, Hà Trung, Lê Minh (sử dụng trên báo chí công khai xuất bản ở miền Nam dưới chế độ Mỹ – Ngô Đình Diệm từ 1955 đến 1960). Quê quán: xã Ninh Bình, huyện Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hoà. Các giải thưởng văn học: Giải ba về truyện ngắn của báo Thống Nhất năm 1960: truyện ngắn “Những người thợ đá”; Giải nhì về thơ tạp chí Văn nghệ năm 1961: bài thơ “Quê hương”; Giải thưởng văn học Nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu (1960 – 1965) của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam về thơ: tập thơ “Quê Hương”. chúng mình xin giới thiệu những bài thơ hay của ông.

Bài thơ: Khúc mở đầu

Khúc mở đầu

Thơ Giang Nam

Nguồn: Ánh chớp đêm giao thừa (trường ca), Giang Nam, NXB Quân đội nhân dân, 1998

Bài thơ: Người con gái Sài Gòn

Bài thơ: Khúc mở đầu

Người con gái Sài Gòn

Năm sáng tác: 1998

Nguồn: Ánh chớp đêm giao thừa (trường ca), Giang Nam, NXB Quân đội nhân dân, 1998

Bài thơ: Người con gái Sài Gòn

Bài thơ: Mười năm

Bài thơ: Người con gái Sài Gòn

Mười năm

Nội dung bài thơ chép theo lời ngâm của NSND Trần Thị Tuyết trên chương trình Tiếng thơ của Đài Tiếng nói Việt Nam.

Bài thơ: Vô duyên

Vô duyên

Năm sáng tác: 1996

Nguồn: “Kiến thức ngày nay” số 230 ngày 10/12/1996

Bài thơ: Chùm tứ tuyệt cho em

Bài thơ: Vô duyên

Chùm tứ tuyệt cho em

Thông tin chi tiết:

Năm sáng tác: 1985

Bài thơ: Trước tờ giấy trắng

Bài thơ: Chùm tứ tuyệt cho em

Trước tờ giấy trắng

Năm sáng tác: 1958

Nguồn: Giang Nam, Tháng Tám ngày mai, Nxb Văn học, 1962

Bài thơ: Trước tờ giấy trắng

Bài thơ: Lá thư thành phố

Bài thơ: Trước tờ giấy trắng

Lá thư thành phố

Năm sáng tác: 1958

Nguồn: Giang Nam, Tháng Tám ngày mai, Nxb Văn học, 1962

Bài thơ: Tiếng nói Việt Nam

Bài thơ: Lá thư thành phố

Bài thơ Tiếng nói Việt Nam là lời tâm sự của người dân Nam Bộ. Ngày ấy, ở miền Nam, nghe radio thu chương trình phát sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam thường phải nghe lén, mọi thông tin liên lạc với miền Bắc  đều bị kiểm soát rất gắt gao. Mặc dù vậy, nhu cầu nghe Đài Tiếng nói Việt Nam của nhân dân miền Nam vẫn rất lớn. Bởi Tiếng nói Việt Nam chính là tiếng nói của Đảng, của Bác, của miền Bắc thương mến dịu dàng.

Tiếng nói Việt Nam

Nguồn: Giang Nam, Tháng Tám ngày mai, NXB Văn học, 1962

Bài thơ: Tiếng nói Việt Nam

Bài thơ: Nghe em vào đại học

Bài thơ: Tiếng nói Việt Nam

Nghe em vào đại học

Băm sáng tác: 8-1961

Nguồn: Giang Nam, Tháng Tám ngày mai, Nxb Văn học, 1962

Bài thơ: Quê hương

Bài thơ: Nghe em vào đại học

Năm 1960, trên chiến khu ở Khánh Hoà, Giang Nam nhận được tin dữ, đau xé lòng: Vợ anh (chị Phạm Thị Chiều) và con gái đầu lòng của anh chị mới hơn một tuổi (cháu Trang) đã bị Mỹ – nguỵ sát hại trong tù. Bài thơ đã ra đời trong hoàn cảnh ấy.

Quê hương

Năm sáng tác:  1960

Nguồn: Giang Nam, Tháng Tám ngày mai, NXB Văn học, 1962

Bài thơ: Quê hương

Giang Nam đã từng bộc bạch: “Tôi thành “nhà thơ” lúc nào không biết, chủ yếu là không thể dằn lòng trước nỗi đau của bà con và nỗi đau của riêng mình. Tuyệt đại đa số bài viết là để cho mình đọc, để tự dặn với lòng mình hãy thuỷ chung với đất nước, với người mình thương. Đó là máu, là thịt của tôi chứ không phải ai khác, là “tự nguyện” với lòng mình chứ không phải do ai bắt buộc mình…”. Ông thật sự là một cây đại thụ trong nền thi ca Việt Nam.

Đăng bởi: ân Ân

Từ khoá: 10 Bài thơ hay của nhà thơ Giang Nam

Top 20 Bài Thơ Hay Của Nhà Thơ Hồng Lĩnh

Nhà thơ Phan Thị Hồng Lĩnh, bút danh Hồng Lĩnh sinh năm 1978 tại Quảng Bình, nghề nghiệp kinh doanh. Với tâm hồn lãng mạn, Hồng Lĩnh luôn hoà mình vào thiên nhiên để cảm nhận vẻ đẹp của mây trời hoà quyện với cuộc sống. Những tác phẩm của Hồng Lĩnh giàu cảm xúc với ngôn từ nhẹ nhàng, giản dị nhiều sắc màu sinh động và thanh âm trong sáng, nghệ thuật đa dạng, Hồng Lĩnh luôn thổi vào hồn thơ bằng nhiều câu từ thăng trầm lãng mạn đậm chất nhân văn. Mong muốn những bài thơ của mình sáng tác có thể góp phần lan tỏa tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, ca ngợi vẽ đẹp của quê hương đất nước và khơi dậy niềm tự hào dân tộc, mang đến những hương vị và thi vị kỳ diệu cho tình yêu đôi lứa. Qua đó, nuôi dưỡng cảm xúc làm đẹp cho đời và làm đẹp cho chính tâm hồn mình. chúng mình xin trân trọng giới thiệu những bài thơ hay của nữ tác giả.

MÙA THU KỶ NIỆM

Thơ Hồng Lĩnh

Giao mùa rồi chiếc lá cũng bay xa

Chiều cuối thu nhạt nhoà hanh hao nắng

Chiếc lá rơi bên thềm sao thầm lặng

Phố im lìm hoang vắng bước em qua

Hoa cúc vàng chẳng còn nét kiêu sa

Hoàng hôn ngã chiều tà sau vòm lá

Gió heo may nhớ thu buồn đến lạ

Khóm trúc vàng tàn tạ đến xác xơ!

Anh nói yêu em đến tận bến bờ

Như thông xanh không bao giờ thay lá

Con đường xưa bước quen thành xa lạ

Khói lam chiều nghiêng ngả dưới tàn thu

Đã xa rồi ngày tháng dưới sương mù

Kỷ niệm về miền trung du tê tái

Khoác vai em sương đêm còn đọng lại

Những cánh hoa vương vãi nhớ vô cùng

Đã xa rồi dạ vẫn nhớ người dưng

Em lạc bước giữa muôn trùng vắng vẻ

Chợt tiếc nuối thời gian qua lặng lẽ

Gió Giao mùa khe khẽ cuối mùa thu!

CÓ MỘT MÙA THU EM QUA ĐÂY

MÙA THU KỶ NIỆM

Có một mùa thu em qua đây

Có một mùa thương tà áo bay

Chiều nay cơn gió vương màu mắt

Lá úa trên cành lúc chia tay

Có một mùa vắng dáng thơ ngây

Từ độ vàng hoa nắng hao gầy

Hư vô phong kín hồn dã thảo

Một cõi đi về em có hay?

Có một mùa chín trái tương tư

Rơi xuống đời nhau buổi giã từ

Mộng ước chưa thành bờ tan chảy

Giọt lệ trang đài ướt phong thư

Có một mùa nhớ gọi tên em

Tương tư trăng rụng rớt bên thềm

Tinh cầu giá lạnh rơi xuống thấp

Ánh sáng lập loè trong sương đêm

Có một mùa đông anh lang thang

Góc phố rêu phong phiến lá vàng

Dấu xưa vụn vỡ trong lòng nhớ

Đôi bờ cách trở một riêng mang

CÓ MỘT MÙA THU EM QUA ĐÂY

BÌNH YÊN EM VỀ

CÓ MỘT MÙA THU EM QUA ĐÂY

Sáng nay thức giấc

cà phê một mình

Đàn chim ríu rít

Hoà vang sân đình

Dòng sông lặng lẽ

Cho em soi hình

Em hong đời mình

Trong ánh bình minh

Ban mai thức giấc

Nhìn quanh một vòng

Mùa Xuân khoe sắc

Màu nắng thêm hồng

Vần thơ em viết

Làm ai xao lòng

Em ngồi đếm lá

Xếp thành mênh mông

Mùa Xuân lấp lánh

Giọt sương trên cành

Nụ hoa vừa hé

Làn gió trong lành

Tóc em bồng bềnh

Bay giữa trời xanh

Khoảng trời hoa nắng

Ngày qua nhẹ nhàng

Mùa Xuân vừa ghé

Mây trôi về ngàn

Tình về thênh thang

Mình đón Xuân sang.

HƯƠNG CỎ

BÌNH YÊN EM VỀ

Anh gửi em chút hương cỏ nồng nàn

Để mùi vị tỏa lan căn phòng nhỏ

Từ xa thẳm nhưng tình anh trong đó

Mơn man hoài làn môi đỏ yêu thương!

Em gửi anh một chút nắng chiều vương

Để dệt mộng ngày tương phùng hạnh ngộ

Niềm hạnh phúc có anh là bến đỗ

Hương tình yêu nói hộ tấm lòng em!

Hoàng hôn buông con phố nhỏ êm đềm

Ánh trăng ngã bên thềm nơi hò hẹn

Hương cỏ nồng mùi nắng mai đan quyện

Trao yêu thương ta nguyện mãi giữ gìn!

TÌNH YÊU TRÊN BIỂN

HƯƠNG CỎ

Đứng trước biển em thấy mình bé nhỏ

Có anh bên em nơi đó bình yên

Chiều dần buông tím biếc cả mạn thuyền

Én chao nghiêng tìm về miền trú ẩn

Hoàng hôn xuống cho lòng ai ngơ ngẩn

Trước biển xanh con sóng biếc dạt dào

Sóng vươn mình như hái những vì sao

Soi sáng những nơi nào em anh đến!

Giữa mênh mông đại dương không bờ bến

Anh đưa em qua khắp nẻo thế gian

Nơi có biển xanh gió hát mây ngàn

Có đường chân trời cắt ngang mặt biển

Em sẽ theo anh dù thuyền không cập bến

Khi sóng êm đềm hay lúc thủy triều lên

Nắm chặt tay anh em đi khắp mọi miền

Nơi thời gian và không gian hoà quyện!

Nơi tình yêu với bao điều màu nhiệm

Vạn vật lạc vào xứ sở thần tiên!

Có anh em thấy đời bình yên!

TÌNH YÊU TRÊN BIỂN

HOA VÀNG MẤY ĐỘ

TÌNH YÊU TRÊN BIỂN

Anh đi bỏ lại hoa vàng

Mùa thu ngơ ngác phai tàn nhớ anh

Mây trời ai nhuộm mà xanh

Tình ta ai nhuộm mà thành khói sương

Anh đi bỏ mặc con đường

Hàng thông xanh cũng u buồn lặng yên

Thương thay thân phận thuyền quyên

Anh hùng sao bỏ mặc thuyền chơi vơi

Lời yêu dệt mộng bên đời

Dìu em đến tận chân trời ước mơ

Nắng vàng lấp lánh se tơ

Thu qua đông đến mong chờ ước ao

Hãy cho em biết vì sao

Mùa thu thay áo tình nào dài lâu

Sông sâu bắc mấy nhịp cầu

Người đi không hẹn biết đâu mà tìm

Chiều nay cơn gió lặng im

Hoa vàng mấy độ lòng mình chơi vơi

Buồn ơi chiếc lá thu rơi

Một mình em giữa dòng đời lẽ loi!

NGÀY ANH ĐẾN!

HOA VÀNG MẤY ĐỘ

Ngày anh đến mang theo cơn gió mát

Hương tình yêu tỏa ngát giữa tâm hồn

Ngày nắng vàng em ngỡ là hoàng hôn

Đêm vắng lặng không còn hờn vô cớ!

Ngày anh đến tình em còn bở ngỡ

Có lẽ nào ta thương nhớ người dưng

Nghe ngân vang tiếng hát giữa núi rừng

Lòng xao xuyến thổn thức từng nhịp thở

Ngày anh đến suối nguồn thôi cách trở

Như đồng khô nắng hạn đỗ mưa rào

Dòng sông xanh lấp lánh những vì sao

Trái tim em nhuốm màu tương tư lạ!

Một cảm xúc vỡ oà xao xuyến quá

Hai tâm hồn đồng điệu họa vào thơ

trái tim yêu đôi khi thật dại khờ

Quên sóng gió đêm mong chờ ngày nhớ

Ngày anh đến mùa đông xin nhường chỗ

Hạnh phúc này em cứ ngỡ là mơ

Tình đôi ta phải chăng chẳng bến bờ

Vượt bảo tố đêm mơ về bến đỗ!

NGÀY ANH ĐẾN!

DỊU DÀNG MÙA XUÂN

NGÀY ANH ĐẾN!

Em khoe áo mới bên sông

Phố chiều nghiêng nắng phố hồng áo em

Ngàn hoa đua sắc buông rèm

Mùa Xuân thức giấc nhìn xem phố phường

Ai hong sợi nhớ sợi thương

Say mùa lá ngủ miên trường quên rơi

Nhà ai vang khúc nhạc mời

Ngọt sao câu hát người ơi đừng về

Bên nhau tình vẫn sơn khê

Chiều nghiêng che mái tóc thề ngang vai

Gót hoa nhẹ bước trang đài

Đợi em qua nhặt lá cài duyên tơ

Vườn yêu mở lối mong chờ

Hoa mơ nở trắng vần thơ đợi người

Dịu dàng em đến bên đời

Là thiên thu của đất trời vào Xuân!

MÙA XUÂN YÊU THƯƠNG

DỊU DÀNG MÙA XUÂN

Ban mai lấp lánh giọt sương

Nắng xuyên qua lá soi đường em đi

Chồi non xanh biếc thầm thì

Vần thơ đan chút tình si thơm nồng

Mùa Xuân tỏa ngát hừng đông

Tóc em bồ kết chạm lòng ta say

Xuân về uống giọt mưa bay

Bồng bềnh mây trắng nâng ngày dài thêm

Trong mơ khát cháy môi mềm

Say mùa lá ngủ bên thềm hoa rơi

Tơ duyên nhuộm thắm mây trời

Дђбє№p nhЖ° ГЎo gấm em phЖЎi hiГЄn nhГ

Vi vu tiếng sáo ngân nga

Từ em hoa nắng điệu đà đong đưa

Yêu thương biết nói sao vừa

Mùa Xuân khoe sắc thêu thùa lòng ai!

BÀI THƠ TÌNH KHÔNG DÁM GỞI

MÙA XUÂN YÊU THƯƠNG

Em viết bài thơ tình gởi gió

Khi chiều buông tắt ánh bình minh

Nắng dỗi hờn chẳng thèm thắm đỏ

Gán cho em tội chẳng chung tình

Rồi một ngày nắng không trở lại

Mùa đông buồn nhuộm tím hoa sim

Rồi một ngày cành cây khắc khoải

Đông lang thang khắp nẻo đi tìm

Em viết bài thơ tình gởi nắng

Hoàng hôn buồn lẳng lặng ra đi

Biển khóc nhiều từ đó biển mặn

Xô ngả nghiêng sóng tội tình gì

Em chẳng dám viết thơ tình cho biển

Sợ thuyền đau bỏ bến xa khơi

Em chẳng dám viết thơ tình gởi sóng

Sợ triều dâng tan nát một đời

Bài thơ tình trong trái tim em

Để tình yêu muôn đời thắm mãi

Mùa Xuân sang ngày tháng êm đềm

VÀNG THU ĐỢI CHỜ

BÀI THƠ TÌNH KHÔNG DÁM GỞI

Nắng chiều lấp lánh trên sông

Mùa thu vàng cả cánh đồng đơm hoa

ГЃng mГўy phủ bГіng chiб»Ѓu tГ

Gần trong giây phút lại xa nhau rồi

Đong từng giọt nhớ chơi vơi

Cánh thiên di mỏi bên đời hợp tan

Bước em về giữa thu vàng

Hoàng hôn trải nắng nhuộm ngang chân trời!

Vắng anh ngày cũng buông lơi

Khúc trầm lạc giọng buông lời thở than

Đường tơ lỗi nhịp cung đàn

Vườn xưa thay lá nở ngàn cánh hoa

ДђГЄm thu vбє±ng vбє·c trДѓng ngГ

Sao khuya lấp lánh sương sa bụi mờ

Ru tình dưới ánh trăng mơ

Gối lòng nhau một đợi chờ nhớ thương!

KHÓI LAM CHIỀU!

VÀNG THU ĐỢI CHỜ

Đưa em về anh chết lặng ngẩn ngơ

Người em yêu không bao giờ trở lại

Mang bên mình bóng hình em mãi mãi

Yêu em nhiều người em gái giao liên!

Chiếc lược kỷ vật vẫn còn khắc tên

Anh làm rơi em bắt đền anh mãi

Tóc em dài hương hoa còn đọng lại

Người yêu ơi anh khắc khoải đợi chờ!

Hẹn ngày về em đợi bến sông mơ

Mình bên nhau kết tròn đôi duyên nợ

Màu hoa cưới mình thành chồng thành vợ

Ước nguyện đơn sơ tan vỡ từ giờ!

Khói lam chiều anh lẽ bóng chơ vơ

Ngày gặp anh em trao thơ liên lạc

Đồn biên phòng hôm nao anh đứng gác

Mãnh bom rơi tan nát cõi lòng anh!

Em ở lại với hoa nắng trời xanh

Mai lên đường mang theo người vợ trẻ

HAI MỐI TÌNH!

KHÓI LAM CHIỀU!

Anh có mơ một lâu đài trên cát?

Chiều bên em nghe biển hát rì rào

Sóng dỗi hờn tung bọt trắng lao xao

Hoàng hôn ngả hoà vào cùng giọt nắng!

Ai biết được từ nơi nào biển mặn?

Em yêu anh sâu nặng bởi vì đâu?

Không thành lời nên biển mãi thẳm sâu

Để sóng chờ đến bạc đầu từ đấy

Em đã mơ mỗi sớm mai thức dậy

Nghiêng tay mình hứng lấy chút tinh khôi

Sánh vai anh đi về phía cuối trời

Hương muối mặn bên đời se duyên nợ

Biển và em nồng nàn như hơi thở

Đôi khi hờn vô cớ chỉ vì yêu

Em đi giữa hai mối tình tuyệt diệu

Biển và anh bên em mãi sớm chiều

THU TRONG EM!

HAI MỐI TÌNH!

Em đi giữa mùa thu

Cali phố sương mù

Cái lạnh miền viễn xứ

Ru tình vào thiên thu!

Góp nhặt từng phiến lá

Có gì trong sương đêm

Những cánh hoa nghiêng ngả

Thu về trong mắt em

Áo lụa bay trong gió

Lả lướt những đường tơ

Ôm một bờ vai nhỏ

Gió theo mùa ngẩn ngơ!

Dấu gì trong hương cỏ

Để anh mãi đi tìm

Em gởi gì trong gió

Rung động một trái tim

Khúc dương cầm ngân vọng

Chiều xưa em qua đây

Ngả nghiêng lòng dậy sóng

Chạm vào thu nồng say!

Dốc tình nơi hò hẹn

Khóm cúc đẹp lạ thường

Kỷ niệm ngày em đến

Đợi chờ cả mùa thương!

CÂU THƠ THƠM HƯƠNG CỎ

THU TRONG EM!

Em đi giữa mùa hoa đỏ

Tóc gió trong chiều đong đưa

Lời yêu em còn bỏ ngõ

Tình ơi em đã về chưa

Câu thơ còn vương màu nắng

Một thoáng chiều về mênh mông

Bên thềm bay tà áo trắng

Thầm gọi tên em mùa đông

Câu thơ thơm nồng hương cỏ

Ngả nghiêng bay giữa lòng ai

Ngoài hiên ánh trăng sáng tỏ

Chong đêm nhung nhớ thêm dài

Câu thơ khắc vào miền nhớ

Dệt ngày đầy những yêu thương

Buông lòng thôi em duyên nợ

Trăm năm một kiếp vô thường!

MÙA HOA THÁNG BA

CÂU THƠ THƠM HƯƠNG CỎ

Tháng ba về anh có nhớ em không?

Hoa gạo nở nhuộm hồng từng con phố

Chiều không anh lang thang qua miền nhớ

Có mùa hoa rực rỡ cháy trong em!

Tháng ba về nơi ấy có bình yên ?

Đem yêu thương em dệt lên trời thẳm

Anh thấy không mận vào mùa nở trắng

Anh không về phố vắng buồn ngẩn ngơ!

Tháng ba về em dệt mộng vào thơ

Như tầm xuân đang đợi chờ ngày nắng

Chút vội vàng thời gian qua thầm lặng

Đợi anh về mình lại ngắm mùa hoa!

Tháng ba về em lại hát tình ca

Ai chờ ai giữa mùa hoa mận nở

Gió theo mây băng qua miền cách trở

Đợi anh về thương nhớ mãi tháng ba!

NGÔN NGỮ TÌNH YÊU!

MÙA HOA THÁNG BA

Anh hỏi em hoài yêu anh không

Vu vơ em nói chuyện lòng vòng

Ngập ngừng em bảo người xa lạ

Chẳng thèm yêu đâu chẳng lấy chồng

Em bảo đừng chờ em mùa đông

Nếu đã yêu ai cứ thật lòng

Xuân thì ngắn ngủi chờ chi mỏi

Cải đã vào mùa cứ trổ bông

Em dấu tình mình dưới dòng sông

Anh tìm kiếm chi giữa cánh đồng

Để mùa lúa chín vàng lên tóc

Từ độ quen người tình mênh mông

Em dấu tình em vào mùa đông

Để xem ai đó có thật lòng

Lời yêu mỏng mảnh như làn khói

Sợ gió đổi mùa phí hoài công

Anh mang tặng em một đóa hồng

Vẫn là câu hỏi yêu anh không

Sao không nhìn vào mắt em đấy

Chẳng thèm yêu đâu chẳng lấy chồng!

NỔI NHỚ MÙA ĐÔNG

NGÔN NGỮ TÌNH YÊU!

Và bây giờ mùa đông ở quanh em

Hàng thông xanh phủ thêm rèm tuyết trắng

Lấy chiếc áo len ngày nào anh tặng

Em mặc vào vẩn thiếu vắng một vòng tay!

Trời trở gió và lạnh buốt đêm nay

Chiều cuối năm một mình em ra phố

Chiếc áo len không ấm bằng hơi thở

Anh quàng vai khuya đưa bước em về!

Đêm đông dài sương đẫm buốt tái tê

Giữa bộn bề lối về tấp nập quá

Góc phố thân quen bỗng trở thành xa lạ

Quán vắng nhạt nhòa trên phố đông người qua!

Bài thánh ca buồn văng vẳng nơi xa

Nghe da diết từng lời ca ngân vọng

Hoài niệm về một chuyện tình thơ mộng

Dẫn lối em về trong đêm tối mùa đông!

Ngôi sao khuya lẽ bóng có chạnh lòng?

Sao cô đơn giữa mênh mông trời rộng

Sao nhớ ai mà đêm dài trông ngóng?

Nhớ thương người người có nhớ mình không?

Đêm về khuya nghe rõ tiếng tơ lòng

NGÀY CHUNG ĐÔI

NỔI NHỚ MÙA ĐÔNG

Ngày nào ta chung đôi

Trong màu áo tinh khôi

Mây bay về cuối phố

Suối tóc em lả lơi!

Dòng sông êm êm trôi

Lặng nhìn ta chung đôi

Khóm hoa vừa hé nụ

Cỏ xanh gợn chân trời

Tình nồng lên đôi môi

Thu về giăng muôn nơi

Sắc bằng lăng tím biếc

Thiên đường nào xa xôi!

Mùa hoa vàng rơi rơi

Cho tình yêu lên ngôi

Bên nhau mình chung bước

Đi về phía cuối trời!

Từ ấy mình chung đôi

Tuyệt vời tình yêu ơi

Em yêu anh biết mấy

Em hạnh phúc nhất đời.

MÙA ĐÔNG Ở LẠI

NGÀY CHUNG ĐÔI

Anh đi rồi mùa đông ở lại

Chiều buồn như những buổi chiều xưa

Trong mắt em xa xăm buồn có phải

Hay tại trời vừa đỗ cơn mưa

Dấu môi nào in trong miền nhớ

Phiến lá vàng bay giữa không trung

Mùa thương ấy còn trong nhịp thở

Người ra đi bến lạnh vô cùng

Kỷ niệm xưa còn vương chi mãi

Màu rêu phong phai áo em hồng

Anh xa em mùa đông ở lại

Cánh hoa nào trôi giữa dòng sông

Đăng bởi: Nguyễn Thảo

Từ khoá: Top 20 Bài thơ hay của nhà thơ Hồng Lĩnh

12 Bài Thơ Hay Viết Về Sự Chia Tay

Những cung bậc cảm xúc của sự chia tay rất khác nhau. Đó có thể là một nỗi buồn sau khi chia tay người yêu, là giọt nước mắt chia xa của các cô cậu học trò, là sự nhớ nhung của người vợ tiễn chông đi xa, hay là sự lo lắng của người mẹ khi tiễn con đi bộ đội. Chia tay luôn là một nỗi nhớ, một chút buồn và những giọt nước mắt. Chính vì vậy những ài thơ viết về sự chia tay luôn khiến người đọc cảm thấy một chút tiếc nhớ, một nỗi buồn sâu lắng. chúng mình xin giới thiệu những bài thơ hay viết về sự chia tay.

Bài thơ: MỘT THỜI TA ĐÃ YÊU NHAU. – Cảnh Hưng.

MỘT THỜI TA ĐÃ YÊU NHAU.

Thơ Cảnh Hưng.

Tình chúng mình chấm hết, phải không em?

Khi con tim đã biến thành đá sỏi

Đếm sao khuya, nhìn trời anh tự hỏi

Lửa khói nào đốt cháy mộng yêu xưa

Nhớ một chiều mây tím, nhạt nhòa mưa

Em e thẹn đưa bàn tay anh nắm

Cầm chút thôi, nghe tim mình rát bỏng

Máu chảy dập dồn mặt nóng, chân run

Một tiếng yêu, môi anh mãi ngập ngừng

Đành khuyết tật, mắt nhìn em tha thiết

Em vô tư hay giả đò không biết

Hỏi lạnh lùng, trời lạnh lắm phải không?

Đêm nay buồn, nhìn bóng tối mênh mông

Dư âm xưa tự đáy lòng trổi dậy

Bao hình ảnh của thời xa xăm ấy

Cứ quay về hiện hữu mãi không nguôi

Em theo chồng về phương ấy xa xôi

Vui hạnh phúc hay để rồi cay đắng

Khi đêm về giữa cô đơn tĩnh lặng

Nhớ một người xa vắng nước mắt rơi

Bài thơ: TÌNH LÀNG - Phạm Quang Thu

Bài thơ: MỘT THỜI TA ĐÃ YÊU NHAU. – Cảnh Hưng.

TÌNH LÀNG

Thơ Phạm Quang Thu

Khổ là Trời bắt gặp nhau

Để chia ly với nỗi đau thương lòng

Không đi chốn cũ, quen vòng

Loanh quanh về lại ước mong cùng ngồi!

Cùng ngồi, cùng rỗi, cùng vui

Sau chia tay lại bùi ngùi nhớ thương!

Ôi sao lắm ngách tình trường

Tóc hoa râm biết nhiễu nhương cuộc tình

Thoáng thấy em ở sân đình

Sб»Ј nhГ¬n thấy mбєЇt, im thinh vб»Ѓ nhГ

Về nhà sau lại vòng ra

Vòng ra không thấy em ta, lại buồn!

Chao ơi trời nhớ trời thương

Theo mưa ngâu ướt tình trường em, anh

Con anh giờ lớn quá xinh

Con em giờ đã biết tình tính tang

Hai con chẳng biết trái ngang

Rủ nhau chơi thú ăn quan ngày nào

Em đón con những nơi nao

Mà anh không dám câu chào dửng dưng

Bởi tình không có điểm dừng

Bởi thương nhớ mãi người dưng khác Làng!

Bài thơ: TÌNH LÀNG - Phạm Quang Thu

Bài thơ: THÔI ĐÀNH CHIA TAY - Cúc Họa Mi

Bài thơ: TÌNH LÀNG - Phạm Quang Thu

THÔI ĐÀNH CHIA TAY

Thơ Cúc Họa Mi

Em xin lỗi ngày thương nhớ cũ

Đã ngủ yên ủ rũ sau đồi

Tháng năm say đắm xa xôi

Hóa thành kỉ niệm nói lời biệt ly.

Những ân ái, sân si dẫu khóc

Cũng đã tan mệt nhọc bi thương

Sắc kia phai nét môi hường

Trách gì ong bướm quệt hương giã từ.

Giờ em viết tâm tư trao gửi

Xin lỗi anh hờn tủi chúng tôi mang

Duyên kia đứt gánh bẽ bàng

Nửa đời cất bước lang thang tội tình.

Coi như mối tơ xinh lỡ dở

Không tại em chẳng ở nơi anh

Chỉ là duyên kết mong manh

Mình dừng đi, ở… thôi đành ….chia tay.

Thơ : Cúc Họa Mi /B4/26/9/18

Bài thơ: HẠ THƯƠNG! – Hoàng Minh Tuấn

Bài thơ: THÔI ĐÀNH CHIA TAY - Cúc Họa Mi

HẠ THƯƠNG!

Thơ: Hoàng Minh Tuấn

Nhớ hạ nào hai đứa tạm chia tay,

Hoàng hôn chiều như còn say nắng hạ,

Cả con phố cứ hồng lên sắc đỏ,

Phượng nói gì mà lá cứ bay bay!

Đem gió về gọi lại những nồng say,

Trăng nghiêng nghiêng reo lòng anh nỗi nhớ,

Sen thơm ngát gửi mùi hương trong gió,

Bao yêu thương còn mãi đó người ơi!

Se lòng anh nỗi nhớ cứ chơi vơi,

Sương rơi rơi vương đầy trên mi mắt,

Trăng đêm ấy đem nỗi buồn hiu hắt,

Gọi tiếng lòng bao vương vấn, vấn vương …!

Nay anh về, em còn nhớ còn thương,

Tình chúng mình có làm nên say đắm,

Gió có vờn hôn môi em thầm lặng,

Để chúng mình …

nồng thắm mùa HẠ THƯƠNG!

Hà nội, 27/6/2024

Bài thơ: ĐƯA TIỄN – An Giang Bùi

Bài thơ: HẠ THƯƠNG! – Hoàng Minh Tuấn

ĐƯA TIỄN

Thơ An Giang Bùi

Ngày tiễn chồng Mẹ đương thì con gái

Bồng con theo mẹ bịn rịn chia tay

Chín năm qua mình mẹ cấy cày

Nuôi con lớn từng ngày từng tháng.

Đoàn quân về mẹ dắt con đi đón

Nhìn mọi người cười nói hân hoan

Trời về chiều nắng đã úa vàng

Mẹ nói con gắng chờ thêm chút nữa …

Hôm tiễn anh mẹ không bồng cháu nhỏ

Biết mẹ mong nhưng anh chưa làm mẹ hài lòng

Mắt đỏ hoe mẹ ôm chặt ngang hông

Đôi tay gầy như cành tre trước ngõ.

Lại tháng ngày mẹ cùng em vò võ

Mong anh về từng phút từng giây

Bao nhớ thương đè nặng vai gầy

Lưng của mẹ đã còng thêm đôi chút.

Những ngày hè rồi đông về rét buốt

Mẹ và em mong đợi thư anh

Bấm đốt tay mẹ bảo đã mười năm

Chưa một lần anh về ăn tết.

Đông năm nay xem chừng đậm rét

Giữa rừng sâu con có lạnh không?

Mẹ bàng hoàng buổi sáng đầu năm

Tờ giấy nhỏ báo anh không còn nữa.

Anh hy sinh cho mùa xuân hoa nở

Cho em thơ nô nức đến trường

Cho người thương về với người thương

Cho tiếng cười không còn ngắt quãng.

Mấy năm rồi mẹ trầm ngâm im lặng

Thương con dâu mẹ chẳng cầm lòng.

Cho đến khi tiễn em theo chồng

Mẹ tươi cười gọi em là con gái…

Bước chân đi em còn ngoái lại

Con sẽ về thăm me mẹ ơi.

Bài thơ: ĐƯA TIỄN – An Giang Bùi

Bài thơ: HÈ VỀ NHỚ BẠN – Phạm văn Xuân

Bài thơ: ĐƯA TIỄN – An Giang Bùi

HÈ VỀ NHỚ BẠN

Thơ: Phạm văn Xuân

Thoảng thốt khi nhìn cánh Phượng rơi

Nhớ hè năm ấy mãi không thôi

Chia tay bạn cũ lòng xao xuyến

Tạm biệt người thương dạ rối bời

Đã hẹn Thu sang về gặp lại. Mà sao Đông đến vẫn xa vời

Sân Trường Ai đứng chờ Ai nhỉ

Nhận được Thư này có nhớ Nơi….

Bài thơ: HẠ ƠI! – Lợi Nguyễn Thành

Bài thơ: HÈ VỀ NHỚ BẠN – Phạm văn Xuân

HẠ ƠI!

Thơ : Lợi Nguyễn Thành

Một bông hoa tím khẽ cười,

Một vườn hoa tím, nhớ người ngắm hoa !

Xuân đi để lại tháng ba ,

Hạ về mang đến lời ca ve sầu …

Chia tay phượng vĩ đỏ màu ,

Nhìn nhau đắm đuối, mái đầu mướt xanh ,

Bây giờ nắng hạ mong manh ,

Gặp nhau, mái tóc đã thành hoa râm !…

HN/5/2024/NTL

Bài thơ: HẠ ƠI! – Lợi Nguyễn Thành

Bài thơ: CHIỀU XUÂN – Tony Bui

Bài thơ: HẠ ƠI! – Lợi Nguyễn Thành

CHIỀU XUÂN

Thơ : Tony Bui

Chiều xuân về trên mặt sông tim tím

Đứng bên em bịn rịn lúc chia tay

Nụ hôn nồng còn phảng phất ngất ngây

Trái tim khờ mộng xây đời hạnh phúc

Men ngọt ngào bằng tình yêu chân thực

Đã tạc vào tiềm thức của lòng nhau

Thời gian trôi vạn vật đổi thay màu

Trái tim yêu bền lâu trường tồn mãi

Anh đi xa hẹn có ngày trở lại

Em đợi chờ chẳng ngại khổ thời gian

Rồi cùng nhau phiêu trong chốn địa đàng

Cuộc đời sẽ sang trang dòng thơ mới

Bao nỗi nhớ anh ngồi se từng sợi

Dệt áo tình gửi tới một miền xa

NЖЎi cГі em xuГўn Д‘бє№p nghД© quГЄ nhГ

Em hãy mở gói quà anh yêu tặng…

Warszawa

03/01/2024

Bài thơ: NGÀY RA TRƯỜNG – Hạ Quyên

Bài thơ: CHIỀU XUÂN – Tony Bui

NGÀY RA TRƯỜNG

Thơ: Hạ Quyên

Buổi chiều ấy chia tay nhiều ngõ rẽ

Nhật ký cuộc đời đến lúc phải sang trang

Còn nơi đây lỡ dỡ những ân tình

Đi chưa đọan tơ vương chưa đủ mối

Họ rốt rào tìm đường chung một lối

Họ bùi ngùi để nói phải chia tay

Họ lang thang đi tìm lại tháng ngày

Họ bối rối bước chân hoài lúng túng

Ký túc xá lạnh lùng không lưu luyến

Gian phòng buồn lẻ tẻ kẻ bơ vơ

Đời cho nhau chia rẽ chẳng bất ngờ

Sao tê tái đến mềm môi rượu lạt

Rồi cũng thế cũng phải về thực tế

Tuổi yêu đương hoa mộng giấc tàn canh

Khi lệnh truyền đến lúc dời chân

Ngõ phố mới có lâu đài bằng đá

Không ảo tưởng túp liều băng lá

Không tình yêu duy nhất buổi thị trường

Nhưng cho dù mỗi đứa một phương

Sao quên được chia tay chiều hôm ấy!

Thời hoa mộng cho nhau nhiều cay đắng

Như thêm tiêu cho ngọt vị hành

Nhớ thời :” mua khế bán chanh”

Mà nghe ngọt lịm một cành hoa lê!

Dẩu khi ký ức nhớ về

Chia tay dạo ấy trăng thề xẻ đôi

Đẹp sao giấc mộng bồi hồi

Đẹp sao cái tuổi thích ngồi ngắm trăng.

Bài thơ: CHỈ LÀ II - Ngô Quang Tuấn

Bài thơ: NGÀY RA TRƯỜNG – Hạ Quyên

CHỈ LÀ II

Thơ Ngô Quang Tuấn

Chỉ là vệt nắng cuối trời

Chia tay sao mãi rối bời lòng nhau

Chỉ là xanh nõn buồng cau

Mà khi cặp với lá trầu thành son

Chỉ là mộng ước cỏn con

Cả đời đi mãi không tròn giấc mơ

Chỉ là giây phút dại khờ

Giận nhau cong cả đôi bờ sông quê

Chỉ là năm tháng đam mê

Anh đi quên cả đường về với em

Buồn đau lẫn lộn đan xen

Giờ đây em biết sắc men cuộc tình

Ngô Quang Tuấn

Bài thơ: CÁNH CHIM BUỒN – NGHIÊM MẪN

Bài thơ: CHỈ LÀ II - Ngô Quang Tuấn

CÁNH CHIM BUỒN

Thơ: NGHIÊM MẪN

Ta chia tay, thôi em hãy đi đi

Để mặc tôi với nỗi đau tình ái

Giây phút cuối tôi thấy mình khờ dại

Em ngây thơ, trong trắng đến nao lòng

Tôi hằng mơ, và tôi vẫn hằng mong

Tôi với em trong vòng tay khao khát

Đôi trái tim cùng cất cao tiếng hát

Cho cây đời cứ mãi mãi xanh tươi

Nhưng tình ta không như thế em ơi

Và lẽ đời cũng không đơn giản thế

Giây phút cuối, hai trái tim lạc nhịp

Khiến đôi chúng ta, hai ngả đường về

Thôi đừng buồn, em có thấy ngoài kia

Trời vẫn xanh một màu xanh hy vọng

Cầu cho em gặp người tình trong mộng

Bài thơ: Bài thơ gửi lại - Chu Minh Khôi

Bài thơ: CÁNH CHIM BUỒN – NGHIÊM MẪN

Bài thơ gửi lại

Thơ Chu Minh Khôi

Ta đi tìm mùa hạ

Trong một chiều không ve

Đi tìm hoa phượng vĩ

Khi bằng lăng đỏ hoe.

Hoa ban chong mắt thức

Đỏ tứa lời chia tay

Tóc liễu mềm câu hát

Ru hoa súng ngủ say.

Chớ khắc thương vào cây

Đừng ném yêu lên cỏ

Nụ hôn xanh bỏ ngỏ

Tan giữa hồ nước đầy.

Em đừng vin vào mây

Đừng khóc mùa thu trước

Ngày mai ta xa trường

Tim mười phương gió lạc.

Nếu buồn xin cứ hát

Đừng níu lời chia tay

Giảng đường rưng rưng khóc.

Biết tìm đâu màu hoa

Tím chiều loang nỗi nhớ

Bằng lăng trong trang vở

Tím suốt thời sinh viên.

Ta lật tung chiều nhớ

Tháng năm không bình yên

Nhờ em tìm ngày cũ

Gửi về miền không tên.

CMK

Bài thơ: Bài thơ gửi lại - Chu Minh Khôi

Bất cứ sự chia tay nào cũng luôn khiến ta buồn, nhưng cuối cùng tì ta vẫn phải quen và chấp nhận nó. Để rồi sau này nó sẽ là một kỉ niệm khó quên trong cuộc đời.

Đăng bởi: Tuấn Hoàng

Từ khoá: 12 Bài thơ hay viết về sự chia tay

Cảm Hứng Lãng Mạn Trong Bài Thơ Tây Tiến ❤️️ 15+ Mẫu Hay

Cảm Hứng Lãng Mạn Trong Bài Thơ Tây Tiến ❤️️ 15+ Mẫu Hay ✅ Gợi Ý Trọn Bộ Mẫu Văn Phân Tích Đặc Sắc Giúp Các Em Ôn Tập Tốt.

SCR.VN giới thiệu đến bạn đọc mẫu dàn ý cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng trong bài thơ Tây Tiến chi tiết sau đây:

I. Mở bài:

– Giới thiệu về Quang Dũng và bài thơ Tây Tiến.

– Giới thiệu về cảm hứng lãng mạn như một nét cảm hứng chủ đạo của bài thơ.

II. Thân bài:

– Giải thích cảm hứng lãng mạn là gì và sự thể hiện cảm hứng lãng mạn trong tác phẩm văn chương

– Sự thể hiện cảm hứng lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng: Cần phân tích cảm hứng lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến trên hai phương diện: nội dung cảm hứng (nỗi nhớ về một thời chiến chinh gian khổ, nhiều mất mát hy sinh nhưng cũng thật hào hùng; hình tượng thiên nhiên; hình tượng người lính Tây Tiến)

– Nghệ thuật thể hiện (bút pháp tương phản trong việc thể hiện hiện thực khắc nghiệt của cuộc sống và chất thơ từ chính cuộc sống đó, tính chất bi tráng của hình tượng người lính, giọng điệu trữ tình và bi tráng của tác phẩm,…).

Vẻ đẹp của thiên nhiên và cuộc sống con người: địa hình gập ghềnh, hiểm trở với núi cao, vực thẳm, sông sâu; thiên nhiên hoang sơ, bí ẩn nhưng cũng toát lên vẻ đẹp hùng vĩ, thơ mộng, trữ tình với tất cả vẻ quyến rũ, làm say lòng người.

Vẻ đẹp của hình tượng người lính Tây Tiến: những khó khăn, thử thách không ngăn được bước chân người lính vốn là những chàng trai Hà Thành hào hoa, tinh tế; những nét bi thương “không mọc tóc,”, “mồ viễn xứ”,… là những âm trầm trong bản hùng ca về những con người “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”.

– Nhận xét, bàn luận về ý nghĩa, giá trị của sự thể hiện cảm hứng lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến:

Cảm hứng lãng mạn và giá trị của bài thơ Tây Tiến: Cảm hứng lãng mạn giúp tác giả khắc hoạ vẻ đẹp hào hùng, hào hoa, sự hi sinh bi tráng của người lính Tây Tiến cùng vẻ đẹp hùng vĩ, thơ mộng của thiên nhiên miền Tây, tạo nên một tác phẩm độc đáo trong thơ ca thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp.

Cảm hứng lãng mạn và sự thể hiện phong cách của tác giả: nét hồn nhiên, tinh tế, vẻ đẹp hào hoa, phóng khoáng, đậm chất lãng mạn của hồn thơ Quang Dũng.

III. Kết bài: Cảm nhận, ấn tượng riêng của cá nhân về vẻ đẹp của cảm hứng lãng mạn trong bài thơ (có thể so sánh với một số bài thơ ra đời trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp).

Gợi ý mẫu 🌼 Dàn Ý Tây Tiến Của Quang Dũng 🌼 chi tiết nhất

Thơ Quang Dũng thể hiện một cái “tôi” hào hoa, lịch lãm, đầy chất lãng mạn, khả năng cảm nhận tinh tế vẻ đẹp của thiên nhiên và con người, đồng thời cũng rất hồn nhiên, giản dị và chân thành. Bài thơ Tây Tiến tiêu biểu cho hồn thơ ấy. Những cảm hứng lãng mạn đã tạo cho thiên nhiên và cuộc sống màu sắc và âm thanh tuyệt vời, hào hùng. Tinh thần bi tráng, cảm hứng lãng mạn lan tỏa trên nền cảm xúc nhớ – Nhớ Tây Tiến.

Cảm hứng lãng mạn của bài thơ trên hết là nỗi nhớ bao trùm: nhà văn nhớ rừng núi hoang vu hiểm trở, nhớ cảnh đẹp nên thơ, nhất là cảnh hành quân của đoàn quân ở miền núi Tây Bắc, những hy sinh khó khăn, những giây phút đồng đội nằm xuống. Mọi người đều theo dòng ký ức hiện về với một trí tưởng tượng tự do và bay bổng.

Câu thơ đầu tiên đã khắc họa một cách tuyệt vời sự hùng vĩ, hiểm trở của thiên nhiên bằng nhịp điệu liên tục của những thanh trắc kết hợp với cùng một lúc hai từ láy tượng hình (khúc khuỷu, thăm thẳm).

Tuy nhiên, để tăng thêm sự chi tiết và sống động cho bức tranh thiên nhiên, cần thêm những chi tiết khác như sự róc rách, gập ghềnh của dốc núi. Đồng thời, để thể hiện nỗi vất vả, cực nhọc của người lính Tây Tiến trong hành quân, bút pháp lãng mạn có thể miêu tả thêm về lưng áo đẫm mồ hôi của họ.

Đối với hai câu thơ tiếp theo, để khắc họa sự dữ dội, hùng vĩ của núi rừng, cần phối hợp tuyệt vời của những thanh trắc, nhưng cũng cần chú ý đến sự đối lập giữa hai chiều của dốc núi và độ cao của chúng. Thêm vào đó, để tạo ra bức tranh sống động hơn, cần mô tả thêm về người lính như treo mình giữa vách đá, trên một sườn núi giữa chặng đường hành quân.

Đoạn văn tiếp theo miêu tả về cảm hứng lãng mạn của núi rừng và con người Tây Bắc trong đêm liên hoan văn nghệ. Để tăng thêm chiều sâu cho bức tranh, có thể miêu tả thêm về tiếng khèn, điệu múa và các hoạt động khác trong đêm liên hoan. Đồng thời, để thể hiện sự mộng mơ, tuyệt mĩ của núi rừng và con người Tây Bắc, có thể miêu tả thêm về trang phục dân tộc óng ánh sắc màu, hoa văn núi rừng và những điệu xòe duyên dáng.

Cuối cùng, để xây dựng chân dung người lính Tây Tiến, bút pháp lãng mạn có thể miêu tả thêm về các hoàn cảnh mà họ phải đối mặt trong chặng đường hành quân, như trèo đèo, lội suối. Đồng thời, có thể miêu tả thêm về các hoạt động khác mà họ tham gia, như đêm hội đuốc hoa hay Châu Mộc chiều sương.

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Tác giả trong bài viết này đã mô tả một cách rất đặc sắc và tinh tế về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta. Những hình ảnh về các người lính, những thước phim về cảnh chiến đấu, những đoạn thơ mang tính lãng mạn và cảm hứng cao đã được sử dụng để tạo ra một bức tranh hoàn chỉnh về một thời kỳ đầy biến động và khó khăn.

Bài thơ Tây Tiến có nỗi buồn, nhưng là nỗi buồn bi tráng. Tây Tiến để lại dấu ấn riêng trong thi ca chung nền văn học Việt Nam vào những năm kháng chiến với khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Đó là sự kết hợp hài hoà các phép đối lập của hình ảnh thơ.

Tây Tiến cũng là người mang mọi nguyện vọng cứu nước của Quang Dũng. Vì vậy, Tây Tiến hấp dẫn người đọc bằng một thế giới nghệ thuật cao đẹp, cao cả và hào hùng – phong cách thơ và cảm hứng lãng mạn.

Chia sẻ cùng bạn 🌹 Tóm Tắt Tây Tiến 🌹 ngắn gọn

Tây Tiến là một trong những bài thơ hay nhất viết về người chiến sĩ cầm súng, bảo vệ Tổ quốc, tiêu biểu cho thơ ca Việt Nam thời kì kháng chiến chống Pháp. Với bút pháp lãng mạn, với cốt cách tài hoa và phong độ hào hùng của một nhà thơ chiến sĩ, Quang Dũng đã chạm khắc vào thời gian, vào thơ ca, và lòng người hình ảnh chiến sĩ vô danh của Thăng Long – Hà Nội, của dân tộc Việt Nam anh hùng.

Là một thi phẩm xuất sắc đạt gần đến độ toàn bích, bài thơ Tây Tiến ở đoạn nào cũng có những câu đặc sắc, những hình ảnh thơ độc đáo. Nhưng sức hấp dẫn của bài thơ chính là vẻ đẹp của chủ nghĩa lãng mạn khi khắc họa hình ảnh người lính Tây Tiến – người lính cách mạng xuất thân từ thành thị tham gia vào cuộc kháng chiến gian khổ mà hào hùng của dân tộc.

Cảm hứng lãng mạn thể hiện đậm nét trước hết ở cái tôi của Quang Dũng. Nó trào ra từ đầu bài thơ đầy ắp và mãnh liệt một nỗi nhớ – nhớ chơi vơi, một nỗi nhớ rất lạ, hình như nhẹ tênh mà nặng trĩu vô cùng, để rồi sau đó tuôn chảy ào ạt như một dòng suối trong suốt bài thơ.

Nỗi nhớ trải dài theo dòng sông Mã trùng điệp theo hình non thế núi. Nhớ đến hụt hẫng, trống vắng trong lòng người. Tây Tiến là một đoàn quân, nhưng tiếng gọi “ơi” lại trìu mến như tiếng gọi với một người thân. Ba vần “ơi” như da diết vang vọng vào vách núi. Đó là nỗi nhớ của tác giả với Tây Bắc và đoàn quân Tây Tiến. Nỗi nhớ da diết, lan tỏa thấm đượm trong từng câu thơ, hình ảnh thơ.

Cái tôi Quang Dũng có mặt khắp nơi, lắng đọng từng chỗ, từ cảnh chiến trường hiểm trở, hoang sơ đến cảnh sông nước thanh bình thơ mộng đến đêm hội đuốc hoa đầy màu sắc xứ lạ phương xa, từ nỗi nhớ bản làng “Mai Châu mùa em thơm nếp xôi” đến “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” thật hào hoa, lãng mạn.

Cảm hứng lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến còn thể hiện đậm nét trong bút pháp lãng mạn. Những thủ pháp cường điệu, đối lập được sử dụng rộng rãi, sáng tạo đã tô đậm cái phi thường, tạo nên ấn tượng mạnh mẽ về cái hào hùng, hùng vĩ và cái tuyệt mĩ của con người và thiên nhiên.

Thiên nhiên hoành tráng, hùng vĩ nhưng người lính không hề bị chìm đi mà vẫn nổi lên đầy thách thức. Nó khẳng định ý chí và quyết tâm của người chiến sĩ chiếm lĩnh mọi tầm cao để đi tới. Thiên nhiên núi đèo xuất hiện như để thử thách lòng người, người lính trèo lên đỉnh núi như đi trong mây quả cảm và lãng mạn vô cùng.

Cảnh đoàn quân đi trong mưa: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” thật dữ dội mà nên thơ. Mưa mịt mù khiến những ngôi nhà sàn Pha Luông ở lưng chừng núi thấp thoáng trong mưa như bồng bềnh trên biển khơi. Câu thơ toàn thanh bằng gợi không gian mênh mông, ngập chìm trong mưa qua cái nhìn từ trên cao trải xuống.

Trong màn mưa rừng, tầm nhìn của người lính Tây Tiến vẫn hướng về những bản mường, những mái nhà dân hiền lành, yêu thương, nơi các anh đã và đang đem máu xương và lòng dũng cảm để bảo vệ.

Nó luôn là mối đe dọa sẵn sàng nuốt chửng con người. Đặc biệt họ toàn là những người lính trẻ thủ đô mới lần đầu rời thành phố đến rừng đại ngàn. Vì thế ấn tượng về Tây Bắc với những địa danh xa ngái, càng xa lạ, dữ dội, ác liệt, không kém cuộc đọ sức với quân thù. Nhưng cảnh ấy cũng càng kích thích chiến sĩ không ngại ngần xông pha với tinh thần hào hứng hăng say.

Đối lập với sự khắc nghiệt là vẻ đẹp tuyệt mỹ của thiên nhiên Tây Bắc. Vẻ đẹp thơ mộng của thiên nhiên Tây Bắc như được kết bằng hoa rừng: “Mường Lát hoa về trong đêm hơi”; “Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”. Đặc biệt đoạn thơ:

Tất cả gợi nhớ cảnh Châu Mộc trong một buổi chiều sương phủ trên dòng nước mênh mông, hoang dại thật huyền ảo. Cảnh vật như nhòe đi, như mềm mại và có hồn hơn. Chữ “ấy” ở câu trên và chữ “thấy” ở câu dưới bắt thành một vần lưng giàu âm điệu. Hoa lau nở trắng sáng, lá lau lay động xào xạc trong gió vốn là những thi liệu cổ điển quen thuộc nhưng khi đi vào thơ của Quang Dũng như mang hồn lưu luyến của cảnh chia li.

Sau bao ngày đêm hành quân gian khổ, băng rừng vượt núi, trèo đèo lội suối, những người lính tạm dừng chân bên bản làng quây quần bên những nồi xôi bốc khói. Mùi thơm hương nếp mới và ấm tình quân dân đã xua tan bao nhọc nhằn gian khổ:

Những đêm liên hoan văn nghệ ở doanh trại bừng lên sôi nổi, vui tươi trong ánh lửa đuốc lung linh, trong âm thanh của tiếng khèn réo rắt, trong tâm hồn say sưa đắm đuối của người lính trẻ.

Đặc biệt bức chân dung người lính Tây Tiến được vẽ những nét vẽ phi thường, khác lạ:

Cả đoàn binh không mọc tóc ví sốt rét rừng khắc nghiệt, hoặc vì chủ trương cạo trọc tóc để tiện cho việc đánh giáp lá cà với địch. Quang Dũng không né tránh hiện thực của cuộc kháng chiến gian khổ này. Thơ ca kháng chiến chống Pháp cũng thường nói về căn bệnh sốt rét rừng: “Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh. Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi” trong Đồng chí của Chính Hữu.

Bài thơ nhớ lại như một kỉ niệm đẹp của thời kháng chiến, bởi đó là tiếng thơ tràn đầy cảm hứng lãng mạn của một thời đại anh hùng rực lửa, không thể nào quên. Cảm hứng lãng mạn đã làm nên vẻ đẹp riêng và giá trị bền vững của bài thơ Tây Tiến. Đó là vẻ đẹp của một thời hoa lửa hào hùng một đi không trở lại.

Gợi ý cho bạn 🌳 Sơ Đồ Tư Duy Tây Tiến 🌳 chi tiết

Quang Dũng là một trong những nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Xuất thân từ một người trí thức trẻ sống trong thời chiến, Quang Dũng cũng là một người chiến sĩ cách mạng.

Tây Tiến là một bài thơ đặc sắc của Quang Dũng viết về nỗi nhớ của ông với đoàn quân Tây Tiến ông đã gắn bó một thời gian dài cùng hình ảnh người lính trải qua bao khó khăn trên con đường hành quân gian khổ vẫn yêu đời, lãng mạn và quả cảm. Cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng tạo nên đặc sắc và thành công cho bài thơ.

Bao trùm bài thơ Tây Tiến trước tiên là cảm hứng lãng mạn đã đi vào trái tim người đọc. Cảm hứng lãng mạn này đến từ cái tôi trữ tình của nhà thơ Quang Dũng. Nếu tìm hiểu về nhà thơ Quang Dũng, chúng ta sẽ hiểu thêm về tâm hồn và con người ông ảnh hưởng đến thơ ca như thế nào.

Quang Dũng vốn rất đa tài, ông không chỉ làm thơ mà còn vẽ tranh, soạn nhạc. Ông cũng như những người lính Tây Tiến cùng xuất thân từ những người trí thức trẻ, họ là học sinh, sinh viên Hà Nội gác bút nghiên lên đường chiến đấu. Bởi thế họ vốn có tâm hồn trẻ trung, hào hoa và lãng mạn.

Ngay từ những câu đầu của bài thơ, cảm hứng lãng mạn đã bao trùm bởi nỗi nhớ da diết về đoàn binh Tây Tiến cùng hình ảnh nước non hùng vĩ, nên thơ của trên con đường hành quân.

Nỗi nhớ của nhà thơ hiện lên trong bài thơ dạt dào, chơi vơi. Nhà thơ gọi “Tây Tiến ơi” như tiếng gọi thân thương tới những người đồng chí, đồng đội. Đó cũng là tiếng gọi về những miền ký ức xa xôi, thẳm sâu trong trái tim người lính Quang Dũng. Hai từ “chơi vơi” khiến cho tiếng gọi như kéo dài hơn, thổn thức hơn.

Miên man trong nỗi nhớ, với tâm hồn trẻ trung, lãng mạn, nhà thơ phải thốt lên “ôi Tây Tiến” với những kỷ niệm về “cơm lên khói” cùng mùa em với hương “thơm nếp xôi”. Dù cuộc hành quân có khó khăn gian khổ đển đâu, thì nhà thơ cũng như những người lính Tây Tiến vẫn cảm nhận được vẻ đẹp rất đỗi bình dị, thân thương trên con đường anh bước.

Cảm hứng lãng mạn xuyên suốt còn thể hiện ở sự trẻ trung, tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, lãng mạn của người lính xuất thân từ mái trường Hà Nội. Chính sự trẻ trung, yêu đời của người lính đã mang đến những liên tưởng, ví von hết sức độc đáo như hình ảnh “ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống” hay cách nói “súng ngửi trời” rất đáng yêu.

Sự lãng mạn, trẻ trung còn thể hiện ở sự vui vẻ, cùng hòa mình vào không gian đêm liên hoan văn nghệ ấm tình quân dân, những ngọn lửa cháy bập bùng trên cây đuốc kia chẳng khác nào những bông hoa lửa đang đua nhau phát sáng. Phải là một người có tâm hồn lãng mạn mới có những cách ví von và liên tưởng thú vị đến thế.

Trong cái ánh sáng bừng lên cùng không khí ấm áp đêm lửa trại, hình ảnh những cô gái miền sơn cước hiện lên thật lộng lẫy với “xiêm áo” nhiều màu sắc sặc sỡ. Vẻ đẹp ấy hiện lên trước sự ngỡ ngàng của những chàng trai Hà Thành với tâm hồn tinh tế. Bức tranh đêm lửa trại thật ấm áp, vui vẻ với đủ màu sắc, ánh sáng và âm thanh. Với tâm hồn tinh tế, những khúc nhạc rộn ràng giúp người lính “xây hồn thơ”.

Không chỉ có thế, các anh còn mơ về Hà Nội với những “dáng kiều thơm”. Hình ảnh giấc mơ của người lính hiện lên thật lãng mạn, đậm chất của những người thanh niên học sinh, sinh viên trẻ bước đi theo tiếng gọi của tổ quốc thiêng liêng.

Tây Tiến là một bài thơ đặc sắc thể hiện chân dung người lính Tây Tiến lãng mạn, hào hoa mà vẫn hiên ngang, quả cảm quyết hi sinh thân mình cho tổ quốc tự do. Cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng bao trùm bài thơ đã làm nên thành công của tác phẩm, khẳng định giá trị trong nền thơ ca cách mạng Việt Nam và để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong trái tim người đọc về một thời khói lửa, can qua.

Giới thiệu cùng bạn 🍀 Nghị Luận Tây Tiến 🍀 hay nhất

Cảm hứng lãng mạn trong bài thơ tây tiến văn ngắn sau đây sẽ giúp các em có thêm nhiều tư liệu ôn tập hiệu quả.

Ở trong thơ Quang Dũng cũng đã dựng lên một bức tượng đài bất tử như vậy về người lính cách mạng trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược nước ta. Đó là bức tượng đài đã làm cho những người chiến sĩ yêu nước từng ngã xuống trong những tháng năm gian khổ ấy bất tử cùng thời gian

“Tây Tiến đoàn quân không mọc tóc – Quân xanh màu lá dữ oai hùm – Mắt trừng gửi mộng qua biên giới – Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm – Rải rác biên cương mồ viễn xứ – Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh – áo bào thay chiếu anh về đất – Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

“Tây Tiến” của Quang Dũng là dòng hồi ức vô cùng thương nhớ về những đồng đội của nhà thơ, những người đã từng sống, từng chiến đấu nhưng cũng có người đã hy sinh, những người đã trở về với đất mẹ yêu thương, nhưng dẫu sao đó cũng là những người mãi mãi nằm lại nơi biên cương hay miền viễn xứ.

Chính vì thế Quang Dũng không chỉ dựng lại cả một hình ảnh của đoàn binh Tây Tiến trên những chặng đường hành quân gian khổ hy sinh mà “đời vẫn cứ tươi” như ở 14 dòng thơ đầu tiên. Và Quang Dũng cũng không chỉ khắc tạc hình ảnh của những người lính với một đời sống tình cảm hết sức phong phú, những tình cảm lớn lao là tình quân dân.

Quang Dũng đã đặc biệt quan tâm tới ý tưởng dựng tượng đài người lính Tây Tiến trong tác phẩm của mình. Nhà thơ đã sử dụng hệ thống ngôn ngữ giàu hình ảnh, hàng loạt những thủ pháp như tương phản, nhân hoá, tăng cấp ý nghĩa để tạo ấn tượng mạnh để khắc tạc một cách sâu sắc vào tâm trí người đọc hình ảnh những người con anh hùng của đất nước, của dân tộc.

Đó là bức tượng đài sừng sững giữa núi cao sông sâu, giữa một không gian hùng vĩ như chúng ta đã thấy trong các câu thơ:

Tây Tiến đoàn quân… khúc độc hành

Bức tượng đài người lính Tây Tiến trước hết được khắc hoạ lên từ những đường nét nhằm tô đậm cuộc sống gian khổ của họ. Nếu như ở những đoạn thơ trước đó người lính mới chỉ hiện ra trong đoàn quân mỏi trong câu:

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Hay trong khung cảnh hết sức lãng mạn trong đêm liên hoan, đêm lửa trại thắm tình cá nước thì ở đây là hình ảnh đoàn binh không mọc tóc da xanh như lá rừng. Cảm hứng chân thực của Quang Dũng đã không né tránh việc mô tả cuộc sống gian khổ mà người lính phải chịu đựng. Những cơn sốt rét rừng làm tóc họ không thể mọc được (chứ không phải họ cố tình cạo trọc để đánh giáp lá cà cho dễ như nhiều người từng nói).

Cũng vì sốt rét rừng mà da họ xanh như lá cây (chứ không phải họ xanh màu lá ngụy trang), vẻ ngoài dường như rất tiều tụy. Nhưng thế giới tinh thần của người lính lại cho thấy họ chính là những người chiến binh anh hùng, họ còn chứa đựng cả một sức mạnh áp đảo quân thù, họ dũng mãnh như hổ báo, hùm beo.

Cái giỏi của Quang Dũng là mô tả người lính với những nét khắc khổ tiều tụy nhưng vẫn gợi ra âm hưởng rất hào hùng của cuộc sống. Bởi vì câu thơ “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc” với những thanh trắc rơi vào trọng âm đầu của câu thơ như “tiến”, “mọc tóc”. Nhờ những thanh trắc ấy mà âm hưởng của câu thơ vút lên. Chẳng những thế, họ còn là cả một đoàn binh.

Hai chữ “đoàn binh” âm Hán Việt đã gợi ra một khí thế hết sức nghiêm trang, hùng dũng. Và đặc biệt hai chữ “Tây Tiến” mở đầu câu thơ không chỉ còn là tên gọi của đoàn binh nữa, nó gợi ra hình ảnh một đoàn binh dù đầu không mọc tóc vẫn đang quả cảm tiến bước về phía Tây.

Hình tượng người lính Tây Tiến bỗng nhiên trở nên rất đẹp khi Quang Dũng bổ sung vào bức tượng đài này chất hào hoa, lãng mạn trong tâm hồn họ:

Trước hết đó là một vẻ đẹp tấm lòng luôn hướng về Tổ quốc, hướng về Thủ đô. Người lính dẫu ở nơi biên cương hay viễn xứ xa xôi mà lòng lúc nào cũng hướng về Hà Nội. Ta bỗng nhớ đến câu thơ của Huỳnh Văn Nghệ:

Người lính Tây Tiến dẫu “mắt trừng gửi mộng qua biên giới” mà niềm thương nỗi nhớ vẫn hướng về một “dáng kiều thơm”. Đã một thời, với cái nhìn ấu trĩ, người ta phê phán thói tiểu tư sản, thực ra nhờ vẻ đẹp ấy của tâm hồn mà người lính có sức mạnh vượt qua mọi gian khổ, người lính trở thành một biểu tượng cho vẻ đẹp của con người Việt Nam.

Quang Dũng đã tạo nên một tương phản hết sức đặc sắc – những con người chiến đấu kiên cường với ý chí sắt thép cũng chính là con người có một đời sống tâm hồn phong phú. Người lính Tây Tiến không chỉ biết cầm súng cầm gươm theo tiếng gọi của non sông mà còn rất hào hoa, giữa bao nhiêu gian khổ, thiếu thốn trái tim họ vẫn rung động trong một nỗi nhớ về một dáng kiều thơm, nhớ về vẻ đẹp của Hà Nội – Thăng Long xưa.

Bức tượng đài người lính Tây Tiến đã được khắc tạc bằng những nguồn ánh sáng tương phản lẫn nhau, vừa hiện thực vừa lãng mạn. Từng đường nét đều như nổi bật và tạo được những ấn tượng mạnh mẽ. Đây cũng là đặc trưng của thơ Quang Dũng.

Nếu như ở bốn câu thơ trên, người lính Tây Tiến hiện ra trong hình ảnh một đoàn binh với những bước chân Tây tiến vang dội khí thế hào hùng và một thế giới tâm hồn hết sức lãng mạn thì ở đây bức tượng đài người lính Tây Tiến được khắc tạc bằng những đường nét nổi bật về sự hy sinh của họ.

Nếu chỉ đọc từng câu thơ, chỉ phân tích từng hình ảnh riêng rẽ độc lập, người ta dễ cảm nhận một cách bi luỵ về cái chết của người lính mà thơ ca kháng chiến thuở ấy rất ít khi nói đến.

Bởi thơ ca kháng chiến phần lớn chỉ quan tâm đến cái hùng mà không quan tâm đến cái bi. Nhưng nếu đặt các hình ảnh, các câu thơ vào trong chỉnh thể của nó, ta sẽ hiểu Quang Dũng đã mô tả một cách chân thực sự hy sinh của người lính bằng cảm hứng lãng mạn, hình tượng vì thế chẳng những không rơi vào bi lụy mà còn có sức bay bổng.

Tuy nhiên với câu thơ thứ hai, ta lại thấy hình ảnh những nấm mồ rải rác nơi biên cương đã trở về với sự ấm cúng của niềm biết ơn của nhân dân, của đất nước. Bởi đó chính là nấm mồ của những người con anh dũng:

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Đồng thời cũng chính câu thơ thứ hai đã làm cho những nấm mồ rải rác kia được nâng lên những tầng cao của đài tưởng niệm, của Tổ quốc đối với người lính đã vì tiếng gọi của chiến trường mà hiến dâng tuổi xanh của mình. Trong thơ Quang Dũng luôn là một sự nâng đỡ nhau của nhiều hình ảnh như vậy.

Từ sự kết hợp một cách hài hòa giữa cái nhìn hiện thực với cảm hứng lãng mạn, Quang Dũng đã dựng lên bức chân dung , một bức tượng đài người lính cách mạng vừa chân thực vừa có sức khái quát, tiêu biểu cho vẻ đẹp sức mạnh dân tộc ta trong thời đại mới, thời đại của dân tộc đứng lên làm cuộc kháng chiến vệ quốc thần kỳ chống thực dân Pháp.

Đừng bỏ qua 🔥 Bình Giảng Tây Tiến 🔥 ấn tượng

Chiều muộn năm 1948 ở Phù Lưu Chanh – một ngôi làng nhỏ bên bờ sông êm đềm thơ mộng, Quang Dũng nhớ lại những kỷ niệm còn tươi nguyên hơn bao giờ hết.

Hình ảnh những ngày còn ở Tây Thiết hiện lên trong đầu anh. Giờ đây, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta đã bước sang năm thứ hai, đã liên tục giành thắng lợi vẻ vang, đập tan cuộc tiến công căn cứ địa Việt Bắc. Chính những sự kiện đó đã tạo nên cho tác giả cảm hứng sáng tác bài thơ “Tây Tiến”.

Tình cảm của tác giả được bộc lộ rõ nét qua 2 câu thơ đầu tiên:

Từ “chơi vơi” ở đây được dùng thật đắc địa. Nó đã lột tả được nỗi nhớ trong tâm tưởng nhà thơ. Được sống trong cảm hứng lãng mạn, nỗi nhớ ấy mới như giăng mắc một màn sương, rất khó định hình, rất khó gọi tên. Cũng như môi trường tình cảm này, cuộc sống gian khổ chiến đấu với chiến trường, người lính như chìm đắm trong một thế giới phi thường, có gì bí ẩn nhưng cũng thật hào hùng, tha thiết và gần gũi.

Phong cách viết lãng mạn của nhà thơ Quang Dũng đã lấy cảm hứng từ những trải nghiệm đầy khó khăn của những người lính Tây Tiến, một cuộc vận động của quân đội Việt Nam nhằm đánh chiếm và kiểm soát các khu vực miền Bắc Lào trong suốt thập niên 60.

Hình ảnh người lính thật kì dị, khác thường: da xanh màu lá, đầu trụi tóc do thiếu thốn bệnh tật vì những cơn sốt rét rừng. Những hình ảnh thực đó vào bài thơ, với giọng và cách diễn tả lãng mạn của Quang Dũng thành ra như mang nghĩa tượng trưng, rất có khí phách.

Hoặc cái chết cũng vậy, những cái chết “hàng loạt” hay những cái chết đau thương – chết mà không biết chết – cũng đều thật hào hùng:

“Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.” Là câu thơ đánh dấu cho một sự bất hủ của người lính Tây Tiến, đánh thức tinh thần chiến đấu của những người lính đã hy sinh cho chủ nghĩa quốc gia. Tác giả muốn truyền tải thông điệp rằng, mặc cho những khó khăn, những thử thách, người lính Tây Tiến vẫn luôn bền chí, quyết tâm bảo vệ đất nước và dân tộc.

Màu xanh lá cây, màu da xanh của những người lính Tây Tiến được coi như một biểu tượng của sức mạnh và sự kiên cường, đó là lý do tại sao tác giả đã sử dụng những từ ngữ đầy mạnh mẽ để miêu tả họ.

Trong bối cảnh chiến tranh, cái chết không còn xa lạ với bất kì người lính nào, tuy nhiên, sự chấp nhận cái chết lại trở thành một điều khó khăn đối với họ. Nhà thơ đã sử dụng những hình ảnh đẹp, lãng mạn để làm đẹp cho chết và tạo ra một vẻ đẹp mới cho những người lính đã hy sinh. Điều đó đã giúp tạo ra một bức tranh đẹp về những người lính Việt Nam, những người đã hy sinh vì đất nước.

Từng chi tiết trong bài viết này đều được tác giả xử lý một cách tinh tế và sắc bén, giúp tạo ra một tác phẩm đầy sức sống và sức mạnh. Tác giả đã sử dụng những từ ngữ và câu văn đơn giản nhưng vẫn đầy ý nghĩa để miêu tả những hình ảnh và cảm nhận của mình về cuộc kháng chiến đầy cam go và gian khổ.

Những câu thơ trong bài viết này đã được viết bằng phương pháp lãng mạn, giúp tạo ra một tác phẩm đầy cảm xúc và tình cảm. Tác giả đã sử dụng những hình ảnh đặc sắc để miêu tả những cảnh chiến đấu và những người lính anh dũng, tạo ra một bức tranh hoàn chỉnh về một thời kỳ đầy biến động và khó khăn.

Bài viết này còn tập trung vào việc miêu tả phong thái sống của người lính Tây Tiến. Tác giả đã sử dụng những hình ảnh đối lập để miêu tả những cảnh chiến đấu, nhưng cũng đã đưa ra một tình cảm lãng mạn và cảm hứng cao về cuộc kháng chiến đầy cam go và gian khổ.

Tóm lại, bài viết này đã tạo ra một bức tranh đầy đủ về một thời kỳ đầy biến động và khó khăn, với những hình ảnh đẹp và đầy cảm xúc. Tác giả đã sử dụng những từ ngữ và câu văn đơn giản nhưng vẫn đầy ý nghĩa để miêu tả những cảnh chiến đấu và những người lính anh dũng, tạo ra một tác phẩm đầy sức sống và sức mạnh.

Đọc nhiều hơn với 🔥 Phân Tích Tây Tiến 🔥 chi tiết

Tiếp theo là mẫu văn phân tích cảm hứng lãng mạn trong bài thơ tây tiến ấn tượng nhất.

Quang Dũng là nhà thơ quân đội và tài hoa về nhiều lĩnh vực, nhưng nổi bật hơn cả là khả năng thơ ca. Thơ ông luôn thể hiện một cái tôi hào hoa thanh lịch, giàu chất lãng mạn, có khả năng diễn tả và cảm nhận tinh tế vẻ đẹp của thiên nhiên và tình người, đồng thời lại rất mực hồn nhiên, chân thật.

Bài “Tây Tiến” tiêu biểu cho hồn thơ ấy của Quang Dũng. Bài thơ được rút trong tập thơ Mây đầu ô, được ông viết vào năm 1948 ở Phù Lưu Chanh, sau khi ông đã chuyển sang đơn vị khác và nhớ về đoàn quân Tây Tiến ngày nào. Bài thơ thành công về nhiều phương diện, nhưng đặc sắc tổng thể của nó là cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng:

Bức chân dung kiêu hùng của người lính Tây Tiến được viết nên bởi cảm hứng lãng mạn qua cái nền hùng vĩ và thơ mộng của núi rừng hoang vu, bạt ngàn ở phía Tây của Tổ quốc. Người lính vượt qua đèo núi cao, suối sâu với tư thế đẹp, hùng dũng với nỗi nhớ “chơi vơi”,”heo hút cồn mây súng ngửi trời”, với “Mường Lát hoa về trong đêm hơi”, “mưa xa khơi”.

Bút pháp lãng mạn còn thể hiện qua âm thanh ghê rợn của “thác gầm thét”, “cọp trêu người” nhằm tô đậm vẻ hoang dại, bí hiểm của rừng thiêng nước độc, rồi đột ngột mở ra một nỗi nhớ ấm áp.

Thực ảo đan xen trong đêm liên hoan “bừng lên hội đuốc hoa” với cái nhìn ngơ ngác “kìa em xiêm áo tự bao giờ”. Từ cảnh liên hoan chuyển sang cảnh sông nước đầy chất thơ bằng bút pháp chấm phá tinh tế, cảnh như được phủ lên màn sương huyền thoại, da diết hồn của ngàn lau… giống như một bức cổ họa.

Hùng vĩ gắn với thơ mộng là cái nhìn riêng của chất lãng mạn Quang Dũng. Qua cảnh để nói về hoài niệm, tạo nên một tình yêu bâng khuâng của tác giả đối với vùng đất một thời gắn bó sâu sắc.

Trên cái nền thiên nhiên hùng vĩ và diễm lệ, người lính xuất hiện với cái tầm vóc bi tráng khác thường “không mọc tóc”, “xanh màu lá dữ oai hùm”, “mắt trừng gửi mộng qua biên giới”.

Bốn câu thơ tiếp theo nói về cái chết cũng khác thường “rải rác biên cương mồ viễn xứ/ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh/ Áo bào thay chiếu anh về đất…”. Hai khổ thơ tạo hình dữ dội nói lên cái tột cùng cơ cực, lẫn cái lẫm liệt kiêu hùng. Đến cái chết cũng được tác giả bao bọc trong không khí hoành tráng, hiệp sĩ.

Từ Hán Việt được sử dụng tạo âm hưởng bi hùng. Chính nhờ cảm hứng lãng mạn đã tạo nên ở Quang Dũng cái nhìn có tính anh hùng cổ điển trước cái chết của người lính. Tác giả nhìn thẳng vào sự thật.

Cảm hứng lãng mạn và sắc thái bi tráng tạo nên tính sử thi đặc biệt của bài thơ. Bức chân dung người lính hào hoa, dũng cảm trên cái nền hùng vĩ, mĩ lệ được tác giả hướng hồn thơ ngưng đọng cả một thế hệ anh hùng – những người lính “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”.

Tây Tiến là bài thơ hay viết về người lính gốc Hà Nội thời kháng chiến chống thực dân Pháp. Bài thơ góp tiếng nói độc đáo cũng như kháng chiến viết về người lính của Hồng Nguyên, Chính Hữu, Nguyễn Đình Thi làm thành mảng riêng đặc sắc trong nền thơ chung.

Mời bạn xem nhiều hơn 🌟 Phân Tích Hình Tượng Người Lính Tây Tiến 🌟 ngắn

Nhắc đến nhà thơ Quang Dũng không ai không thể không nhớ đến Tây Tiến. Bởi lẽ nó đã gắn bó một thời sâu sắc với nhà thơ, một kiệt tác văn học. Quang Dũng là nhà thơ tiêu biểu của chùm thơ chiến sĩ. Với lời thơ hào hùng, lãng mạn những sáng tác của ông đều để lại âm vang trong lòng người đọc cho đến tận ngày nay. Và “Tây Tiến” là một trong những tác phẩm như thế.

Khoảng cuối mùa xuân năm 1947, Quang Dũng gia nhập đoàn quân Tây Tiến. Đó là một đơn vị thành lập vào đầu năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Việt – Lào, đánh tiêu hao địch ở Thượng lào để hỗ trợ cho cuộc kháng chiến ở những vùng khác trên đất Lào.

Địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến khá rộng, bao gồm vùng rừng núi Tây Bắc Việt Nam và Thượng Lào: từ Châu Mai, Châu Mộc sang tận Sầm Nứa rồi vòng về qua miền tây Thanh Hoá. những nơi này lúc đó còn rất hoang vu và hiểm trở, núi cao, sông sâu, rừng dày, nhiều thú dữ.

Những người lính Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội, thuộc nhiều tầng lớp khác nhau, trong đó có cả những học sinh, sinh viên (Quang Dũng thuộc số này). Sinh hoạt của những người lính Tây Tiến hết sức gian khổ, ốm đau không có thuốc men, tử vong vì sốt rét nhiều hơn là vì đánh trận.

Tuy vậy, họ vẫn sống rất lạc quan và chiến đấu dũng cảm. Vượt lên trên mọi thử thách khắc nghiệt của chiến tranh và hoàn cảnh sống cực kỳ gian khổ, họ vẫn giữ được cái cốt cách hào hoa, thanh lịch, rất yêu đời và cũng rất lãng mạn.

Bài thơ “Tây Tiến” có hai đặc điểm nổi bật: cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng.

Cảm hứng lãng mạn thể hiện ở “cái tôi” đầy tình cảm, cảm xúc của nhà thơ. Nó phát huy cao độ trí tưởng tượng, sử dụng rộng rãi những yếu tố cường điệu và phóng đại, những thủ pháp đối lập để tô đậm cái phi thường, tạo nên ấn tượng mạnh mẽ về cái hùng vĩ và cái tuyệt mĩ.

Thiên nhiên Tây Bắc qua ngòi bút lãng mạn của Quang Dũng, được cảm nhận với vẻ đẹp vừa đa dạng vừa độc đáo, vừa hùng vĩ vừa thơ mộng, hoang sơ mà ấm áp. Hình ảnh những cô gái, những con người Tây Bắc càng tô đậm thêm chất huyền bí, thơ mộng của núi rừng. Chất lãng mạn được thể hiện chủ yếu ở cảm hứng hướng tới cái cao cả, sẵn sàng xả thân, hy sinh tất cả cho lí tưởng chung của cộng đồng, của toàn dân tộc.

“Tây Tiến” không hề che giấu cái bi. Nhưng bi mà không bi lụy. Cái bi được thể hiện bằng một giọng điệu, âm hưởng, màu sắc tráng lệ, hào hùng. Chất lãng mạn hoà hợp với chất bi tráng, tạo nên vẻ đẹp độc đáo của bài thơ. Cảm xúc chủ đạo xuyên suốt bài thơ là một nỗi nhớ da diết, bao trùm lên cả không gian và thời gian:

Nỗi nhớ đơn vị cũ trào dâng, không kìm nén nổi, nhà thơ đã thốt lên thành tiếng gọi. Hai chữ “chơi vơi” như vẽ ra trạng thái cụ thể của nỗi nhớ, hình tượng hoá nỗi nhớ, khơi nguồn cho cảnh núi cao, sông sâu, vực thẳm, rừng dày… liên tiếp xuất hiện ở những câu thơ sau:

Khổ thơ này là một bằng chứng “thi trung hữu họa” (trong thơ có họa). Chỉ bằng bốn câu thơ, Quang Dũng đã vẽ ra một bức tranh hoành tráng diễn tả rất đạt sự hiểm trở và dữ dội, hoang vu và heo hút của núi rừng Tây Bắc, địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến.

Hai câu thơ đầu, những từ đầy giá trị tạo hình “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “cồn mây”, “súng ngửi trời” đã diễn tả thật đắc địa sự hiểm trở, trùng điệp và độ cao ngất trời cuả núi đèo Tây Bắc.

Hai chữ “ngửi trời” được dùng rất hồn nhiên và cũng rất táo bạo, vừa ngộ nghĩnh, vừa có chất tinh nghịch của người lính. Núi cao tưởng chừng chạm mây, mây nổi thành cồn “heo hút”. Người lính trèo lên những ngọn núi cao dường như đang đi trên mây, mũi súng chạm tới đỉnh trời. Câu thứ ba như bẻ đôi, diễn tả dốc núi vút lên, đổ xuống gần như thẳng đứng, nhìn lên cao chót vót, nhìn xuống sâu thăm thẳm.

Cái vẻ hoang dại dữ dội, chứa đầy bí mật ghê gớm của núi rừng Tây Bắc được nhà thơ tiếp tục khai thác. Nó không chỉ được mở ra theo chiều không gian mà còn được khám phá ở cả chiều thời gian, luôn luôn là mối đe dọa khủng khiếp đối với con người:

Vậy là cảnh núi rừng Tây Bắc hoang sơ và hiểm trở, qua ngòi bút Quang Dũng, hiện lên với đủ cả núi cao, vực sâu, dốc thẳm, mưa rừng, sương núi, thác gầm, cọp dữ… những tên đất lạ Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch,.

Những hình ảnh đầy giá trị tạo hình, những câu thơ nhiều vần trắc đọc lên nghe vất vả và nhọc nhằn được xoa dịu bằng những câu thơ có nhiều vần bằng ở cuối mỗi khổ thơ, đã phối hợp với nhau thật ăn ý, làm hiện hình lên thế giới khác thường vừa đa dạng, vưà độc đáo của núi rừng Tây Bắc. Đoạn thơ kết thúc đột ngột bằng hai câu thơ:

Cảnh tượng thật đầm ấm. Sau bao nhiêu gian khổ băng rừng, vượt suối, lội đèo, những người lính tạm dừng chân, được nghỉ ngơi ở một bản làng nào đó, quây quần bên những nồi cơm đang bốc khói. Khói cơm nghi ngút và hương thơm lúa nếp ngày mùa xua tan vẻ mệt mỏi trên gương mặt những người lính, khiến họ tươi tỉnh hẳn lên. Hai câu thơ này tạo nên một cảm giác êm dịu, ấm áo, chuẩn bị tâm thế cho người đọc bước sang đoạn thơ thứ hai.

Đoạn thơ thứ hai mở ra một thế giới khác của Tây Bắc. Cảnh núi rừng hoang vu, hiểm trở, dữ dội lùi dần rồi khuất hẳn để bất ngờ hiện ra vẻ mỹ lệ, thơ mộng, duyên dáng của miền đất này. Những nét vẽ táo bạo, khoẻ, gân guốc ở đoạn thơ đầu, đến đoạn thơ này được thay bằng những nét mềm mại, uyển chuyển, tinh tế.

Và ngòi bút tài hoa của Quang Dũng cũng được bộc lộ rõ nhất trong đoạn thơ này. Hồn thơ lãng mạn của Quang Dũng bị hấp dẫn trước những vẻ đẹp mang màu sắc bí ẩn của con người và cảnh vật nơi xứ lạ, phương xa.

Cảnh ấy, người ấy được thể hiện lên trong một thời gian làm nổi rõ nhất vẻ lung linh, huyền ảo của nó: cảnh một đêm liên hoan lửa đuốc bập bùng và cảnh một buổi chiều sương phủ trên sông nước mênh mang. Cảnh một đêm liên hoan văn nghệ của những người lính Tây Tiến có đồng bào địa phương đến góp vui được miêu tả bằng những chi tiết rất thực mà cũng rất mộng, rất ảo.

Có thể bạn sẽ quan tâm đến 🌼 Cảm Nhận Về Hình Tượng Người Lính Tây Tiến 🌼 hay nhất

Quang Dũng là nhà thơ tài hoa với cái tôi lãng mạn, trữ tình, bay bổng. Thơ ông luôn đậm chất trữ tình, đậm tình người, gieo vào lòng người nhiều dư vị riêng. Bài thơ “Tây Tiến” rút trong tập “Mây đầu ô” là bản anh hùng ca bi tráng và lãng mạn của quân và dân ta trong cuộc chiến chống quân xâm lược.

Cảm hứng lãng mạn thể hiện ở “cái tôi” đầy tình cảm, cảm xúc của nhà thơ. Nó phát huy cao độ trí tưởng tượng, những thủ pháp đối lập để tô đậm cái phi thường, tạo nên ấn tượng mạnh mẽ về cái hùng vĩ và cái tuyệt mĩ. Đó là cái tài hoa của Quang Dũng.

Có thể nói đây là dòng cảm hứng xuyên suốt bài thơ, đọng lại trong lòng người nghe những thanh vang về nét đẹp con người, thiên nhiên Tây Bắc. Thiên nhiên nơi đây hiện lên thật nên thơ, trữ tình:

Là tiếng nói, là tiếng lòng, là nỗi nhớ “chơi vơi” của tác giả khi trong lòng cứ canh cánh tình yêu đối với mảnh đất này. Một chữ “ơi” nặng tựa nghìn non, một chữ “ơi” khiến cho câu thơ chùng xuống. Hình ảnh vừa hùng vĩ, vừa nên thơ của núi rừng Tây Bắc lần lượt hiện về qua từng câu chữ. Dường như thiên nhiên đất trời đã hòa quyện trong nỗi nhớ da diết của tác giả. Một nỗi nhớ chẳng thể gọi thành tên

Từ cảm hứng lãng mạn chủ đạo đó Quang Dũng đã vẽ nên một bức tranh hùng tráng của mảnh đất này:

Chỉ bằng vài nét bút nhưng Quang Dũng đã đủ sức vẽ lên một bức tranh hùng trang, đầy hiểm trở, khúc khuỷu của núi rừng Tây Bắc. Tác giả đã đặt hai từ láy “khúc khuỷu” và “thăm thẳm” ở cạnh nhau như một dụng ý nghệ thuật nhằm tôn lên vẻ đẹp hùng tráng không nơi nào có được của Tây Bắc. Đặc biệt hình ảnh “súng ngửi trời” rất có sức nặng trong đoạn thơ. Nó khiến người đọc liên tưởng đến bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu với hình ảnh “Đầu súng trăng treo”.

Thực ra hình ảnh “súng ngửi trời” vừa mang ý nghĩa lãng mạng vừa gợi lên chiều cao, sự hùng vĩ của thiên nhiên. Một sự kết hợp rất hoàn hảo. Trong không khí chiến tranh đang diễn ra ác liệt như vậy nhưng dường như tinh thần lãng mạn đối với những người lính vẫn luôn tràn đầy.

Hình ảnh trùng điệp, tuyệt đẹp của dòng thác chảy mạnh nơi sườn núi khiến người đọc như lạc vào một thế giới khác. Câu thơ như bị bẻ đôi thành hai mảnh. Câu thơ cuối đoạn lắng lại trong lòng người đọc một chút bình yên, lãng mạn, dịu êm nhất. Sự mệt mỏi của người lính tiêu tan đi khi nhìn thấy màn mưa trắng xóa ở nơi xa.

Sự hùng hồn, bi tráng trong thơ Quang Dũng còn được thể hiện ở nhiều tầng lớp khác nữa:

Hai từ láy chỉ thời gian “chiều chiều” và “đêm đêm’ đã gợi mở ra một không gian vừa có chiều dài vừa có chiều sâu với thanh âm dữ tợn nơi núi rừng.

Và bỗng nhiên ở hai câu thơ tiếp, giọng thơ bỗng nhiên đột ngột chuyển đổi với cuộc sống bình dị, ấm êm nơi xứ người:

Thật trữ tình và nên thơ, một bức tranh về cuộc sống sinh hoạt của người dân vùng cao tuyệt đẹp.

Đến đoạn thơ thứ hai, dường như khung cảnh hùng trang đã dần nhường chỗ cho không gian tráng lệ, tuyệt đẹp nơi đây:

Không gian nơi đây bỗng nhiên sáng hẳn lên với từ “bừng” như lan tỏa sự dịu mát và ngọt lành. Cuộc sống bộn bề nhưng cái tâm, cái tình của người dân nơi đây dành cho những người lính thật chân thật, mộc mạc.

Ngòi bút tài hoa của Quang Dũng đã phác họa thành công bức tranh hùng tráng, lãng mạn, trữ tình của mảnh đất Tây Tiến. Chặng đường chiến đấu của người lính còn rất gian nan, nhưng trong trái tim họ vẫn luôn giữ được sự lạc quan, tin tưởng và yêu đời:

Chỉ bốn câu thơ thôi nhưng đã lột tả được rất nhiều điều về tinh thần, lòng dũng cảm, lòng tin yêu và hơn hết là tinh thần quyết tâm cống hiến cho đất nước. Dù gian khổ nhưng bên trong những chàng trai hà thành này vẫn luôn tràn đầy mộng mơ, trữ tình. Chiến tranh luôn gắn liền với chết chóc nhưng trong thơ của Quang Dũng không hề bi lụy, không hề có nước mắt. Đó chính là tinh thần đáng quý của anh bộ đội cụ hồ.

Thật vậy, chạy dọc theo bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng người đọc nhận ra cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng dường như là điểm sáng cho cả bài thơ. Một bài thơ đẹp, một bài thơ hay đủ sức nặng neo giữ vào lòng người.

Đọc nhiều hơn ☀️ Phân Tích Khổ 1 Tây Tiến ☀️ ngắn

Quang Dũng được xem là nhà thơ nổi tiếng của dân tộc Việt Nam, ông chủ yếu viết về đề tài người lính, bởi bản thân ông xuất thân từ một người chiến sĩ, chính vì vậy đây là cảm hứng chủ đạo để ông sáng tác lên bài thơ Tây Tiến để khắc họa lại hình ảnh của những người lính Tây Tiến trong bài thơ Tây Tiến của mình.

Quang Dũng đã dùng tài năng của mình để sáng tác lên những vần thơ hay, để lại nhiều cảm xúc cho người đọc, bởi giai điệu nhẹ nhàng, kết hợp với những yếu tố hiện thực và lãng mạn, xen lẫn để tạo nên những hình ảnh sinh động, và ý nghĩa của bài thơ được thể hiện một cách tối đa, và đạt được ưu thế cao nhất.

Trong bài thơ ngoài những cảm hứng hiện thực về một cuộc chiến tranh tàn khốc, của binh lính Tây Tiến, tác giả còn thể hiện những phút giây hào hùng, oanh liệt của một thời lịch sử, qua từ ngữ nhẹ nhàng, đầy chất trữ tình. Bài thơ có sự kết hợp giữa hình tượng thơ và hoàn cảnh chiến đấu vô cùng căng go, nó cũng thể hiện được một tinh thần chiến đấu vô cùng ác liệt của dân tộc.

Trong bài thơ tác giả đã thể hiện một tinh thần của người lính Tây Tiến qua nhịp điệu, hình ảnh, tinh thần, và sự cố gắng của tác giả, khi từng câu chữ được trau chuốt tới mức độ hoàn mỹ nhất. Tác giả đã thể hiện được tinh thần anh dũng qua cuộc chiến đấu, ngoài ra giá trị của nó còn được thể hiện qua tinh thần ngoài mặt trận và đời sống tinh thần của người chiến sĩ.

Ngoài những phút giây gian khổ bên chiến trường, cùng sống và quật cường trước bệnh tật của cơn rét rừng, tác giả còn thể hiện một tình cảm đặc biệt của các người lính trước tình yêu quê hương, nhớ nhung những người thân ở gia đình:

Chính những hiện thực của cuộc chiến tranh để tác giả, có thêm chút động lực để phấn đấu trước hoàn cảnh sống, và sáng tác lên một bài thơ có sự kết hợp giữa chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lãng mạn. Trong hoàn cảnh chiến đấu như vậy, những người lính cách mạng luôn luôn phấn đấu để tạo nên cho mình những phút giây thoải mái nhất, họ vui mừng và đoàn kết với nhau, qua những điệu kèn, múa, của vùng Tây Bắc:

Ở đây tác giả đang vẽ ra bức tranh thiên nhiên của Tây tiến, với vẻ đẹp của núi rừng, có các địa danh được đề cập ở đây, đó là Sài Khao, Mai Châu… tất cả vẻ đẹp đó đều được hiện lên một cách rõ nét và oai vệ nhất, nó thể hiện một tinh thần sáng tạo, khi tác giả luôn mang trong mình một nỗi nhớ xa xôi về vùng đất Tây Tiến, nơi mà những người chiến sĩ đã từng gắn bó, và chiến đấu bên nhau, đó là những phút giây mà tác giả không bao giờ có thể quên được.

Cảm xúc mạnh mẽ đang chứa tran trong tâm hồn của những người chiến sĩ, nó lan rộng, và thể hiện được một tinh thần chiến đấu quật cường, ngoài bức tranh thiên nhiên, nó cũng mang đậm giá trị hiện thực, khi đang phản ánh một cuộc chiến tranh vô cùng gian khổ.

Những người lính luôn phải phấn đấu, cố gắng để đạt được những điều tốt nhất cho dân tộc của mình, địa danh này đã gắn với biết bao chiến công của những người chiến sĩ, họ đã phải hy sinh xương máu của mình cho độc lập tự do của dân tộc.

Khi đất nước được hòa bình, tác giả vẫn không bao giờ có thể quên được những phút giây chiến đấu căng go và ác liệt đó, nó thể hiện một tinh thần mạnh mẽ, đã ăn sâu vào trong tiềm thức của những người chiến sĩ, nó đang tác động một cách phi thường, và mang nhiều cảm xúc đến cho bạn đọc.

Ngoài ra những kỉ niệm đẹp về mối tình quân dân, gắn bó với người lính, qua từng chặng đường, kỷ niệm trong đêm liên hoan văn nghệ, với biết bao nhiêu vẻ đẹp thơ mộng, nó vẫn đang in sâu trong tâm trí của những người lính:

Hình ảnh đó đã thể hiện một màu sắc trữ tình và đầy thơ mộng của những người lính cách mạng, các cô gái đến với lễ hội, đang e ấp từng làn điệu nhẹ nhàng, đây là hình ảnh đặc trưng cho vùng đất Tây Bắc, con người luôn giữ lấy truyền thống của dân tộc.

Những người lính cách mạng, mặc dù đang phải chiến đấu gian nan, nhưng họ cũng không quên đi những giai điệu làm ấm lên tình người đó, cảm xúc đó đang bao trùm lên tâm hồn yêu cái đẹp của những người lính.

Tiếp theo tác giả cũng sử dụng những hình ảnh đẹp của thiên nhiên, trong đó nó có sự kết hợp tài tình với bóng dáng của con người, cảnh đưa tiễn trên sông, nó làm cho cảnh vật ở đây buồn bã hơn, tác giả như đang thổi hồn mình vào từng dòng tâm trạng của cảnh vật, nó làm cho vật và người đồng có suy nghĩ và cảm xúc như nhau. Với vẻ đẹp đó, chúng ta có thể nhìn thấy nó đầy thơ mộng, hoang sơ và có chút kỳ vĩ…

Bài thơ đã mang lại cho người đọc nhiều cảm xúc, bởi trong chính tâm hồn của tác giả đang mang đậm cảm xúc về vùng đất Tây Tiến.

Giới thiệu cùng bạn 🍀 Cảm Nhận Khổ 1 Tây Tiến 🍀 chi tiết

Mẫu văn phân tích cảm hứng lãng mạn trong bài thơ tây tiến sau đây sẽ giúp các em có thêm nhiều tài liệu ôn tập hiệu quả.

Quang Dũng là một trong những nhà thơ xuất sắc trong kháng chiến chống thực dân Pháp và cả trong thơ hiện đại. Quang dũng còn luôn nổi tiếng với hồn thơ lãng mạn, bay bổng tài hoa đậm chất bi tráng và Tây Tiến là một trong những bài thơ tiêu biểu như thế.

Trước tiên, cảm hứng lãng mạn Tây Tiến được nuôi dưỡng bằng “nỗi nhớ” tha thiết, mãnh liệt nhưng cũng thật chơi vơi như sự diễn tả của Quang Dũng:

Nỗi nhớ được sống dậy trong cảm hứng lãng mạn của tác giả, nỗi nhớ ấy rất khó để định hình, gọi tên. Cũng từ nỗi nhớ ấy mà cả một cuộc sống gian khổ chiến đấu với chiến trừng, người lính giống như đang đắm chìm trong một thế giới phi thường có gì bí ẩn nhưng cũng thật hào hùng, tha thiết và gần gũi xiết bao.

Chiến trường trong bài thơ gian khổ, khắc nghiệt nhưng đồng thời cũng là thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, hoang sơ và ấm áp vô cùng. Trên cái nền của thiên nhiên ấy lại nổi bật lên đoàn quân Tây Tiến với dáng vẻ khí phách anh hùng và hào hoa. Hình ảnh về người lính thật sự rất kỳ dị và khác thường “da xanh màu lá”, “đầu trụi tóc” do thiếu thốn, bệnh tật. Những hình ảnh rất thực đó vừa mang ý nghĩa tượng trưng lại rất có khí phách:

Hoặc “cái chết” cũng vậy, những cái chết hàng loạt hay những cái chết đau thương cũng đều thật hào hùng:

Có thể thấy rằng, nét độc đáo trong thơ của Quang dũng miêu tả hiện thực đến dữ dội và lãng mạn đến mộng mơ. Điều này thể hiện rất rõ khi miêu tả về thiên nhiên Tây Bắc. Những Câu thơ hầu hết là vần bằng được nằm xen kẽ cùng với những xâu chắc khỏe tạo nên sự đối lập trong âm hưởng:

“Mường Lát hoa về trong đêm hơi”

Nói về cái hiểm trở, tác giả đã dùng những hình ảnh thật độc đáo:

Tác giả dùng”súng ngửi trời” thay cho “súng chạm trời”. Đây chính là thủ pháp cường điệu hóa – là đặc trưng của bút pháp lãng mạn, ngoài ra, còn thể hiện được chất hóm hỉnh nghịch ngợm của người lính. Hơn thế nữa, khi miêu tả về độ cao tác giả lại dùng từ để chỉ độ sâu “heo hút cồn mây súng ngửi trời” và có những câu thơ như bẻ gãy làm đôi: “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”.

Bút pháp lãng mạn của bài thơ không chỉ được thể hiện ở việc miêu tả thiên nhiên mà còn được thể hiện rõ nhất trong việc miêu tả về phong thái sống của người chiến sĩ Tây Tiến. Đọc hai câu thơ:

Qua đây thấy rõ được sự gian lan khốc liệt. Quang Dũng không hề che dấu đi sự khốc liệt gian khổ trong chiến trận, chỉ có điều ông nhìn họ dưới một cái nhìn không ốm yếu mà lại hết sức phi thường. Vì thế dáng vẻ người lính mang phong thái rất riêng “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. Không những thế, tác giả còn khắc họa cả thế giới tâm hồn bên trong con người họ:

Những người lính Tây tiến gân guốc, rắn rỏi lại là những chàng trai rất đỗi hào hoa phong nhã đầy thơ mộng. “Mộng” và “mơ” của người lính được gửi về hai phương trời: biên cương – nơi còn đầy bóng giặc và Hà Nội – quê hương yêu dấu nơi có những bóng dáng thân yêu.

Đã hơn một lần, tác giả nói về cái chết:

Người ta tránh nói về cái chết nhưng ngược lại Quang Dũng lại không như thế, ông cho rằng chiến thắng nào rồi cũng phải trả giá bằng máu và nước mắt. Nét đặc sắc của Tây Tiến đó là nói tới chiến tranh mà không có một dòng thơ nào nói về bom đạn cùng tiếng súng, mọi thứ đều xuất phát từ sự lạc quan, tinh thần anh dũng.

Tây Tiến là một trong những bài thơ thành công của Quang Dũng, bài thơ cơ nhạc,có họa, bên cạnh cái bi là cái hùng, bên cạnh đau thương mất mát đó là sự hy sinh cao cả. Thời gian trôi qua, bài thơ vẫn sống mãi trong lòng các độc giả và trở thành một hoài niệm khó phai của một thời lịch sử hào hùng trong những buổi đầu kháng chiến chống Pháp.

Xem nhiều hơn 💕 Cảm Nhận 14 Câu Đầu Bài Thơ Tây Tiến 💕 hay nhất

Quang Dũng là một trong những nhà thơ nổi bật của nền thơ Việt Nam đầu thời kì kháng chiến chống Pháp. Thơ ông giàu chất lãng mạn, là sự kết hợp hài hòa giữa thơ ca, âm nhạc và hội họa. Quang Dũng thường viết về quê hương với tình yêu mến tha thiết.

Tây tiến là tác phẩm nổi tiếng nhất của Quang Dũng, được in trong tập Đôi mắt người Sơn Tây. Bài thơ được viết trong nỗi nhớ da diết của Quang Dũng về đồng đội, về những kỉ niệm của đoàn quân Tây Tiến gắn liền với khung cảnh thiên nhiên miền Tây Bắc hùng vĩ, hoang sơ nhưng cũng rất trữ tình, thơ mộng.

Cảm hứng lãng mạn trong văn học được hiểu là xu thế vươn lên, vượt lên trên thực tại khách quan bằng cảm xúc chủ quan của người nghệ sĩ, thể hiện những khát vọng mạnh mẽ hướng về những vẻ đẹp khác lạ trong thế giới của mơ ước, tưởng tượng, ở tương lai hay quá khứ.

Cảm hứng lãng mạn vì thế thường khai thác những đề tài như thiên nhiên tình yêu, tôn giáo, hồi tưởng kỉ niệm,….; đi tìm cái đẹp trong những cái khác lạ, phi thường, độc đáo, vượt lên những cái tầm thường, quen thuộc của đời sống hằng ngày.

Cảm hứng lãng mạn đề cao nguyên tắc chủ quan, phát huy cao độ sức mạnh của tưởng tượng, liên tưởng. Cảm hứng lãng mạn cũng thường tìm đến cách diễn đạt khoa trương phóng đại, thủ pháp tương phản, đối lập, ngôn ngữ giàu tính biểu cảm và gây ấn tượng mạnh mẽ.

Trong bài thơ Tây tiến, nhà thơ Quang Dũng đã rất chú trọng đến những đặc trưng của cảm hứng lãng mạn khi biểu đạt cảm xúc của mình. Có thể thấy, cảm hứng lãng mạn của bài thơ Tây Tiến thể hiện ở hai phương diện. Thứ nhất là ở nội dung cảm hứng.

Đó là nỗi nhớ một thời chiến tranh gian khổ, hy sinh; hình tượng thiên nhiên; hình tượng người lính tây tiến. Thứ hai là ở nghệ thuật thể hiện. Đó là bút pháp tương phản đối lập trong việc thể hiện hiện thực khắc nghiệt của cuộc sống chiến đấu và chấn thơ từ chính cuộc sống đó; nét bi thương và hào hùng của hình tượng người lính; giọng điệu bi tráng của tác phẩm ,…

Bút pháp lãng mạn thể hiện trước tiên ở sự tương phản vẻ đẹp của thiên nhiên vừa thơ mộng trữ tình, vừa dữ dội, kì vĩ của núi rừng qua nỗi nhớ của người lính Tây Tiến. Quang Dũng đã chú ý lựa chọn những hình ảnh tiêu biểu nhất ẩn chứa linh hồn của miền đất này. Bút pháp tô đậm trong diễn đạt càng làm cho thiên nhiên thêm phần kì bí, huyền ảo:

Cách miêu tả những khó khăn, trắc trở do thiên nhiên vừa hết sức chân thực vừa bay bổng vô cùng. Ở đó, ta vẫn nhận thấy những trở ngại lớn, lại vừa thấy sức mạnh của con người vượt lên trên hoàn cảnh, chiến thắng thiên nhiên:

Những bước chân hụt hẫng trên dốc cao, ngàn thước bước lên cao, rồi ngàn thước dậm xuống thấp trùng trùng điệp điệp. Thiên nhiên với những khó khăn dường như luôn đợi sẵn đón bước con người.

Câu thơ: Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống như gãy làm đôi đã gây cho người đọc ấn tượng mạnh về mức độ hiểm trở của núi rừng trên đường hành quân của người lính. Cho đến chiều đêm, lúc người lính có thể nghỉ ngơi, những hiểm nguy vẫn không ngừng bám đuổi:

Tiếng thác rừng xa như vẫn còn réo gọi, thách thức. Thú dữ rình rập khắp mọi ngả tối. Ở đâu đó trong bóng đêm, sự nguy hiểm luôn sẵn sàng. Tưởng chừng như tất cả những điều đáng sợ ấy sẽ làm người lính run sợ, khiếp nhược. Nhưng ngược lại, họ không hề quan tâm, họ hướng tâm hồn về với bản làng ấm áp trong sương khói mơ hồ:

Thiên nhiên Tây tiến còn tiếp tục hiện lên với hình ảnh dòng sông và chiếc thuyền độc mộc:

Dường như khắp bài thơ ta chưa từng thấy ánh nắng hay ánh sáng. Bao trùm lên đó là làn sương mờ ảo, lạnh lùng. Những bờ lau hiu hắt, thê lương, ảm đạm. Trên nền cảnh ấy, con người xuất hiện nhưng hết sức đơn độc và nhỏ bé. Giữa đại ngàn bao la, con người như đóa hoa trôi vô định và lặng im. Đến khổ cuối bài thơ, tác giả nâng cảm giác ấy lên đến cùng cực:

Thiên nhiên đáng sợ nhưng cũng toát lên vẻ hùng vĩ của núi cao, rừng sâu. Bên cạnh đó còn là những hình ảnh của nơi phương xa xứ lạ khiến cho thiên nhiên vừa đẹp vừa gợi chút hoang mang. Vẻ thơ mộng trữ tình của cảnh vật hiện lên với tất cả mỹ lệ, quyến rũ, làm xao xuyến lòng người.

Bút pháp lãng mạn phát huy ưu thế trong việc xây dựng sự tương phản trong vẻ đẹp của hình tượng người lính tây tiến. Cái chết chính là điểm nhấn mạnh mẽ trong bài thơ này. Quang Dũng đã rất táo bạo khi diễn tả chân thực hình ảnh ấy. Ông không hề né tránh hay cố tô vẽ nó theo những cách khác:

Trên khung cảnh dữ dội của núi rừng và cuộc chiến đấu, hình ảnh người lính hiện lên thật rõ ràng quan những câu thơ vừa lãng mạn vừa chân thực:

Những khó khăn thử thách không ngăn cản được bước chân người lính trên con đường hành quân cheo leo, hiểm trở. Những nét bi thương “không mọc tóc”, ” mồ viễn xứ”.…. là nốt trầm trong bản hùng ca về những con người “chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. “Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng” mạnh mẽ ra đi theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc.

Họ mang trong mình lý tưởng cao đẹp và tình yêu cuộc sống thiết tha. Càng yêu cuộc đời, yêu đất nước họ càng không ngại gian khổ, hy sinh. Kẻ thù hung bạo, thiên nhiên khốc liệt cũng không thể nào ngăn cản họ nhớ về đôi mắt người xưa. Từ “trừng” thể hiện lòng căm thù tột độ và sự cảnh báo của người lính đối với kẻ thù về một sự đáp trả khủng khiếp mà họ sẽ tiến hành.

Bài thơ là sự khẳng định vẻ đẹp tâm hồn của người lính Tây Tiến đối với thời đại và đối với lịch sử. Đó là vẻ đẹp tinh thần của người vệ quốc quân thời kì đầu kháng chiến: một đi không trở lại, ra đi không hẹn ngày về. Hình ảnh người lính Tây Tiến sẽ còn mãi với thời gian, với lịch sử dân tộc, là chứng nhân đẹp đẽ của thời đại chống thực dân Pháp

Cảm hứng lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng tạo một dấu ấn đậm nét trong nền thơ Việt Nam thời kỳ chống thực dân Pháp. Cách khắc họa vẻ đẹp hào hùng, hào hoa, sự hi sinh, bi tráng của người lính Tây Tiến và vẻ đẹp hùng vĩ thơ mộng của thiên nhiên miền Tây qua nỗi nhớ của tác giả đã tạo nên vẻ đẹp riêng hết sức độc đáo của tác phẩm này.

Bài thơ cũng cho thấy nét hồn nhiên, tinh tế, sự hào hoa, phóng khoáng, đậm chất lãng mạn của hồn thơ Quang Dũng. Với cảm hứng lãng mạn và ngòi bút tài hoa, Quang Dũng đã khắc họa thành công hình tượng người lính Tây Tiến trên cái nền cảnh thiên nhiên núi rừng miền tây hùng vĩ, dữ dội và mĩ lệ. Hình tượng người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp lãng mạn, đậm chất bi tráng sẽ còn có sức hấp dẫn lâu dài đối với người đọc.

Tham khảo trọn bộ 🌟 Phân Tích 14 Câu Đầu Bài Tây Tiến 🌟 đầy đủ ý

Chia sẻ đến bạn mẫu phân tích bút pháp và cảm hứng lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến đầy đủ ý sau đây.

Quang Dũng sáng tác không nhiều, nhưng thơ ông để lại ấn tượng sâu sắc với những rung cảm sâu lắng trong tâm hồn người đọc. Thơ Quang Dũng hiện lên một “cái tôi” hào hoa, thanh lịch giàu chất lãng mạn, với khả năng cảm nhận một cách tinh tế vẻ đẹp của thiên nhiên và tình người, đồng thời lại rất mực hồn nhiên, bình dị, chân thật. Bài thơ Tây Tiến tiêu biểu cho hồn thơ ấy.

Không lẩn tránh đề cập đến cái bi nhưng cảm hứng lãng mạn đã đem đến cho cái bi màu sắc và âm hưởng tráng lệ, hào hùng. Tinh thần bi tráng, cảm hứng lãng mạn đã được triển khai trên nền cảm xúc kí ức – Nhớ Tây Tiến.

Tây Tiến là tên một binh đoàn có nhiệm vụ bảo vệ biên giới Việt – Lào, tiêu hao sinh lực địch. Phần đông lính Tây Tiến là những chàng trai Hà thành. Họ mang vào chiến trường không chỉ có tình yêu Tổ quốc, khát vọng độc lập mà còn có những nét hào hoa thanh lịch của người Tràng An. Cuộc sống gian khổ, thiếu thốn không ngăn được lính Tây Tiến vui vẻ, sôi nổi, yêu đời và mộng mơ.

Năm 1947, Quang Dũng gia nhập binh đoàn Tây Tiến, ông từng là đại đội trưởng một đại đội thuộc binh đoàn này. Cuối năm 1948, Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác. Nỗi nhớ Tây Tiến đau đáu, da diết đã khiến nhà thơ viết nên một bài thơ tuyệt tác.

Tây Tiến gợi lên một cuộc hành quân về phía Tây Tổ quốc, một cuộc hành quân đầy gian lao vất vả giữa vùng rừng núi đầy hiểm trở, hùng vĩ đầy vẻ hoang dại và huyền bí.

Vốn sẵn tố chất hào hoa của người trai đất Hà thành , chất hào hoa lại được gặp thiên nhiên và con người miền Tây với vẻ đẹp huyền hoặc, Quang Dũng lại từng sống và chứng kiến những tháng ngày hào hùng giữa binh đoàn Tây Tiến, hồn thơ ấy đã hòa quyện lại tất cả để tạo nên những thơ tràn đầy cảm hứng lãng mạn.

Cảm hứng lãng mạn của bài thơ trước hết là nỗi nhớ ngập tràn: tác giả nhớ rừng núi hoang vu, hiểm trở, dữ dội, nhớ những cảnh đẹp huyền ảo nên thơ, đặc biệt là nhớ bước quân hành của đoàn quân Tây Tiến, nhớ gương mặt, ánh mắt, nhớ cả những hi sinh gian khổ, những giây phút đồng đội nằm xuống nơi biên cương. Tất cả cứ theo dòng hồi ức mà hiện lên cùng với trí tưởng tượng phóng khoáng, bay bổng.

Để giúp cho trí tưởng tượng bay cao, bay xa và tình cảm, cảm xúc được diễn tả một cách đầy đủ, trọn vẹn nhất, nhà thơ đã vận dụng thủ pháp nghệ thuật tô đậm cái phi thường, gây ấn tượng mạnh về cái hùng vĩ, dữ dội cũng như cái tuyệt mĩ, thơ mộng.

Một trong những thủ pháp nghệ thuật được sử dụng đắc địa nhất là thủ pháp đối lập. Đối lập giữa cái hùng vĩ, dữ dội với cái tuyệt mĩ, thơ mộng, đối lập giữa gian khổ, vất vả với anh hùng, bất khuất, đối lập giữa cái bi và cái hùng…

Trong Tây Tiến, thiên nhiên sừng sững trở thành một hình tượng lớn. Hồn thơ lãng mạn của Quang Dũng đã tô đậm, tuyệt đối hóa cái sừng sững, hùng vĩ của thiên nhiên để qua đó thấy được ý chí dấn thân của người lính Tây Tiến.

Bốn câu thơ trên được coi là tuyệt bút trong việc khắc họa cái hùng vĩ, hiểm trở của thiên nhiên. “Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm”. Nhịp điệu tiếp nối liên tục của những thanh trắc kết hợp với cùng một lúc hai từ láy tượng hình (khúc khuỷu, thăm thẳm) dường như đã đẩy chiều cao của dốc núi lên vời vợi với hình thế cheo leo, gập ghềnh.

Cách ngắt nhịp câu thơ (Dốc lên khúc khuỷu / dốc thăm thẳm) như muốn diễn tả nỗi vất vả, cực nhọc cùng với lưng áo đẫm mồ hôi của người lính Tây Tiến.

Chưa đủ, ngòi bút Quang Dũng vẫn tiếp tục đẩy chiều cao của dốc núi lên lên tuyệt đối: Heo hút cồn mây súng ngửi trời. Núi cao tưởng chừng như chạm mây, mây chất thành đống, thành cồn, “heo hút cồn mây”, người lính như đứng trên mây, giữa bốn bề mây đến nỗi “súng ngửi trời”. Chữ “ngửi” được dùng rất bạo.

“Súng ngửi trời” là cách đo chiều cao của người lính – vừa chính xác, vừa rất “tếu”. Hiệu quả của bút pháp lãng mạn không chỉ dựng lên một thiên nhiên hiểm trở mà còn dựng lên kích thước, tư thế của người lính, một tư thế, kích thước sánh ngang tầm thiên nhiên.

Hai câu trước có sự phối hợp tuyệt vời của những thanh trắc. Dòng thơ tiếp theo như gãy đôi để vẽ ra hai chiều của dốc núi: một vút lên, một đổ xuống gần như thẳng đứng: “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”.

Cảnh được dựng bằng thủ pháp đối lập để khắc họa cái dữ dội, hùng vĩ của núi rừng. Những dốc núi cao tới chóng mặt, bên dưới là vực sâu thăm thẳm. Người lính như treo mình giữa vách đá, trên một sườn núi giữa chặng đường hành quân.

Cảm xúc lãng mạn được xây dựng trên nền cảm xúc kí ức. Đoạn thơ được viết ra như một dòng kí ức đứt, nối, mờ tỏ liên tục. Cho nên đan cài với những câu thơ tả cảnh dữ dội, hùng vĩ là những câu thơ mênh mang, chơi vơi.

Hai câu cuối đoạn là một sự đầm ấm bất ngờ đến ngây ngất bởi tiếng gọi thiết tha vang lên từ đáy lòng (Nhớ ôi Tây Tiến), bởi hình ảnh gợi sự thanh thản, đầm ấm đến nao lòng (cơm lên khói, thơm nếp xôi). Hai câu thơ còn có giá trị chuyển cảnh, chuyển đoạn.

Nếu ở đoạn trên, bút pháp lãng mạn đã tô đậm vẻ hoang dại, hùng vĩ của thiên nhiên thì ở đoạn tiếp theo, cảm hứng lãng mạn lại gây ấn tượng mạnh về cái thơ mộng, tuyệt mĩ của núi rừng và con người Tây Bắc.

Chia sẻ thêm cùng bạn 🍀 Phân Tích Đoạn 2 Tây Tiến 🍀 ngắn hay

Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài, ông có thể làm thơ, viết văn, vẽ tranh, cả soạn nhạc. với thơ, ông là nhà thơ mang hồn thơ phóng khoáng, hồn hầu, thơ ông luôn có hình ảnh “Cái tôi” hào hoa, thanh lịch,giàu chất lãng mạn nhưng rất mực hồn nhiên và chân thực.

Ra đời từ những năm đầu kháng chiến chống Pháp, cùng đề tài về người lính với Nhớ của Nguyên Hồng, Đồng Chí của Chính Hữu, Tây Tiến của Quang Dũng lại cuốn hút một cách khác thường.Tác phẩm mang đậm hào khí lãng mạn của một thời, gắn với một giai đoạn lịch sử đấu tranh anh dũng của dân tộc. Với bút pháp lãng mạn, Quang Dũng đã khắc hoạ thành công hình tượng người lính Tây Tiến trên cái nền thiên nhiên hùng vĩ , tráng lệ :

Cả bài thơ là nỗi nhớ tha thiết của tác giả về đoàn quân Tây Tiến, người đọc cảm nhận được cảnh thiên nhiên hùng vĩ mĩ lệ của núi rừng TB và hình ảnh người lính gan dạ dũng cảm mà tâm hồn trong sáng hào chúng tôi nhiên, bút pháp lãng mạn của Quang Dũng được thể hiện sâu sắc nhất qua khổ thơ đầu:

Mở đầu bài thơ là nỗi nhớ của Quang Dũng về thiên nhiên và núi rừng TB hùng vĩ nhưng thơ mộng lãng mạn, cùng con đường hành quân gian khổ. Bắt đầu cho nỗi nhớ là tiếng gọi tha thiết “ Tây Tiến ơi !”, âm hưởng của vần ơi tạo nên cảm xúc lớn.

Nhà thơ nhớ sông Mã hiền hòa cùng núi rừng vì đó là nơi những người chiến sĩ từng gắn bó, là địa bàn đóng quân, là nơi sống, nơi chiến đấu, nơi có nhiều kỉ niệm một thời Tây Tiến. Nỗi nhớ lại thêm khắc sâu qua điệp từ “nhớ”, tác giả nhớ về Tây Tiến với nỗi nhớ “chơi vơi” đó là những nhớ thương đầy ắp, mênh mông, cảm chứ không nhìn được, nó như muốn tràn ra khỏi không gian để xoáy vào lòng người. nỗi nhớ ấy trong ca dao ta cũng từng bắt gặp:

“Ra về nhớ bạn chơi vơi”

Nỗi nhớ không định hình trong” nhớ chơi vơi” còn gợi sự chông chênh, mở ra cảm xúc về đèo cao, vực sâu, dốc thẳng, là cả một chuỗi vô vàn những khó khăn nguy hiểm đang chờ đợi phía trước:

Con người luôn trở nên nhỏ bé trước thiên nhiên hùng vĩ cùng những cái tên rất lạ Sài Khao, Mường Lát … qua màn sương muối dày đặc, người lính hiện ra với dáng vẻ mệt mỏi, đó là những khó khăn mà họ những học sinh sinh viên Hà Nội phải đối mặt, khắc nghiệt của thiên nhiên và tính chất công việc đã gần như vắt kiệt sức họ nhưng cái “mỏi” của đoàn quân cũng dần dần biến mất trước cảnh ML thơ mộng, lãng mạn, ảo diệu với “ hoa về trong đêm hơi”.

Với bút pháp lãng mạn kết hợp yếu tố tả thực, nhà thơ Quang Dũng đã ghi lại chặng đường hành quân gian khổ của người lính Tây Tiến :

Các cặp hình ảnh tương phản “ lên cao xuống” kết hợp phép lặp cú pháp và điệp ngữ ngàn thước càng làm cho cảnh thiên nhiên hiểm trở. Những khó khăn gian khổ là thế nhưng lại nhẹ đi, êm ả hơn với câu toàn gần bằng tiếp sau: “ nhà ai pha luông mưa xa khơi”. Xuân Diệu trước đây cũng từng viết hai câu thơ toàn vần bằng mà ông rất tâm đắc:

Giữa những câu vần trắc xen lẫn câu vần bằng , âm hưởng đoạn thơ trở nên trùng điệp hơn . Cùng với cách dùng từ bay bổng của Quang Dũng bài thơ trở nên lãng mạn và hào hùng. Khung cảnh thiên nhiên hiện lên ở Tây Tiến thật hoang sơ, kì vĩ.

Trên cái nền thiên nhiên dữ dội hình ảnh đoàn quân Tây Tiến thật nhỏ bé nhưng chính sự đối lập tương phản đó càng làm tăng khí phách hào hùng kẻ thù cũng như những gian khổ không gì khuất phục nổi . Trên đường hành quân có những người lính đã nằm lại mảnh đất xa lạ để không bao giờ tỉnh dậy .Nhưng tác giả đã không ngần ngại khi nói về cái chết:

Dường như Quang Dũng không muốn người đọc chìm sâu trong cảm xúc xót thương , nên ngay sau đó là hình ảnh hào hùng của thiên nhiên :

Bút pháp lãng mạn của Quang Dũng trong Tây Tiến được biểu hiện cụ thể trong lối viết không hướng về cái bi,có gợi thương, gợi sự đồng cảm nhưng không xoáy sâu vào cảm xúc bi thương . Xuyên suốt khổ thơ đầu nhà thơ luôn hướng tới những hình ảnh kỳ vĩ “đèo cao”, “vực sâu” “ dốc thăm thẳm” hay “súng ngửi trời”,…cùng những hình ảnh thơ mộng “hoa”,”sương”.

Hình ảnh chân thật gần gũi đầy tình người “cơm lên khói”,” nếp xôi” ,ngoài ra ông còn kết hợp với thể thơ thất ngôn trường thiên giàu nhạc điệu hào hùng,mạnh mẽ .Quang Dũng sử dụng nhuần nhuyễn các biện pháp tu từ: từ láy, nhân hóa, điệp từ,điệp cấu trúc ngữ pháp và nhiều hình ảnh giàu sức gợi. Tất cả tạo nên một tổng thể hài hòa , chặt chẽ, tạo nên một Tây Tiến đầy cảm xúc.

Bản chất thơ Quang Dũng đã tràn đầy cảm hứng lãng mạn, nhưng đặc biệt khi tả về thiên nhiên và người lính, nhà thơ lại vận dụng bút pháp lãng mạn tinh tế hơn bao giờ hết.

Giới thiệu cùng bạn 🍀 Cảm Nhận Bài Thơ Tây Tiến 🍀 đặc sắc

Có một thời, nhắc đến khái niệm “lãng mạn” người ta thường đồng nhất nó với những gì xa rời thực tế, cá nhân, tiêu cực, mềm yếu… và người ta phản đối, phê phán, thậm chí tẩy chay nó. Nhưng nếu xét đến tận cùng, phần lãng mạn ấy không thể thiếu trong đời sống tinh thần, trong tâm hồn con người và cái gọi là “lãng mạn” ấy cũng thật nhiều vẻ, nhiều hình.

Nó có thể làm con người ta nhỏ lại yếu hèn đi nhưng cũng có thể đem đến cho con người có sức mạnh phi thường để làm nên những điều phi thường. Ta bắt gặp sức mạnh lãng mạn ấy qua Tây tiến của Quang Dũng – một tác phẩm mang đậm chất sử thi, đậm chất lãng mạn anh hùng, lãng mạn cách mạng.

Có thể nói, cuộc sống tinh thần của mỗi con người hay cả một cộng đồng dân tộc sẽ nghèo nàn, cằn cỗi và nhàm chán biết bao nếu thiếu đi những ước mơ bay bổng, thiếu đi những ước mơ bay bổng , thiếu đi tưởng tượng phong phú, diệu kỳ…

Lãng mạn hiểu theo nghĩa đúng đắn, chắp cánh cho những ước mơ, thúc giục con người hướng tới cái đẹp, cái cao cả và sự hoàn thiện mà hiện thực cuộc sống còn chưa đạt tới. Chất lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến chính là cảm hứng bay bổng của nhà thơ hướng tới vẻ đẹp hào hùng và hào hoa của thiên nhiên và con người Tây Bắc,

Vẻ đẹp được cảm nhận từ một hiện thực gian khổ và đầy khốc liệt, khó khăn. Chính vì thế, chất lãng mạn của bài thơ càng đáng chân trọng, nâng niu. “Nói” đúng hơn, chính nhờ chất lãng mạn ấy mà người lính Tây Tiến có thể vượt qua được mọi vất vả gian lao, mọi khó khăn thử thách.

Chất lãng mạn trong Tây Tiến xuất hiện dường như để lại “thăng bằng” cho cảnh vật và tâm hồn của con người. Vì thế bên cạnh một thiên nhiên hiểm trở, dữ dằn, những núi đá cheo leo, những cảnh rừng thiêng nước độc… ta lại thấy một thiên nhiên thơ mộng đến say người, một Tây Bắc đẹp như tranh thuỷ mạc. Nỗi nhớ Tây Tiến trong lòng nhà thơ cứ “chơi vơi” giữa hai gam màu ấy. Còn gì dữ dội và hiểm trở hơn những cảnh:

Còn gì hoang dại và âm u, rùng rợn hơn tiếng thác gào và tiếng cọp gầm:

Nhưng liền đó lại là những cảnh rất đỗi nên hoạ, nên thơ. Đó là chiều sương Mộc Châu, là “hồn lau” thấp thoáng “nẻo bến bờ”, là dáng người mảnh mai mềm mại trên chiếc thuyền độc mộc:

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

Rõ ràng thiên nhiên Tây Bắc ở đây được cảm nhận với một vẻ độc đáo: vừa hùng vĩ, dữ dội, vừa tươi tắn, thơ mộng. Mà không chỉ thiên nhiên, chất lãng mạn bay bổng còn thể hiện rõ khi tác giả khắc họa chân dung người lính Tây Tiến hiện lên trên cái nền hùng vĩ và mỹ lệ ấy của núi rừng Tây Bắc. vẫn là đối chọi để “cân bằng” giữa một bên là hiện thực khắc nghiệt, là cuộc sống đầy gian nan và lắm hy sinh mất mát, với một bên là cuộc sống tươi đẹp và đầy chất thơ.

Này đây là những vất vả, gian lao của cuộc đời người lính Tây Tiến: “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi”, “Anh bạn dãi dầu không bước nữa – Gục sũng mũ bỏ quên đời!”. Hình ảnh đoàn quân “không mọc tóc” với nước da “xanh màu lá” là kết quả của những trận sốt rét triền miên.

Những nấm mồ “rải rác” khắp “biên cương” và cảnh người lính ngã xuống không manh chiếu liệm v.v… đủ nói lên tất cả gian khổ cùng cực của cuộc chiến đấu mà người lính phải gánh chịu. Nhưng nếu chỉ có thế, sức mạnh của hiện thực sẽ đè nát ý chí và tâm hồn người chiến sĩ.

Chính cảm hứng lãng mạn đã truyền niềm tin đi những người lính Tây Tiến khiến các anh sẵn sàng hiến dâng tuổi thanh xuân của minh cho Tổ quốc “chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. Trong cái gian khổ khắc nghiệt trên, bỗng thoảng hương của nếp xôi của những cô gái xứ Mai Châu.

Ngay trong một bài thơ ta đã thấy rõ tính chất này: “Áo bào thay chiếu anh về đất”. Một sự ra đi nhẹ nhàng, thanh thản, ung dung. Giọng thơ muốn hạ xuống cung bậc thấp phù hợp với nỗi tiếc thương. Nhưng hạ thấp là để mà cuối cùng vút lên bản nhạc dữ dội và hùng tráng: “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.

Những mất mát đau thương của con người như dồn nén, tích tụ ương tiếng gầm vang rung chuyển cả núi rừng của dòng sông Mã. Ai bảo lãng mạn như thế là tiêu cực, là mềm yếu.

Thực chất, chính chất lãng mạn của bài thơ đã nâng được người đọc lên, vực dậy những người lính mệt mỏi đang dãi dầu không bước nữa, xoá tan đi bao nhọc nhằn đau khổ, lãng quên đi bao nỗi hiểm nguy và lấy lại cân bằng tâm hồn người lính, giúp họ vững bước đi lên… Chất lãng mạn ấy là sức và vẻ đẹp của người lính Tây Tiến.

Đọc Tây tiến của Quang Dũng ta bắt gặp cảm xúc lãng mạn anh hùng thăng hoa cái nền hiện thực, bắt gặp sức mạnh tinh thần mà những vần thơ lãng mạn ấy đem lại cho người lính binh đoàn Tây Tiến. Nó là nét đẹp vĩnh hằng trong tâm hồn người lính và trong thơ ca kháng chiến.

Tiếp theo đón đọc 💕 Cảm Nhận Đoạn Thơ Tây Tiến Đoàn Binh Không Mọc Tóc 💕 hay

Cuối cùng là mẫu văn cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng trong bài thơ Tây Tiến chi tiết nhất.

Quang Dũng là nhà một trong số những nhà thơ có nhiều sáng tác xuất sắc trong kháng chiến chống thực dân Pháp với hồn thơ đặc biệt lãng mạn, phóng khoáng và hào hoa. Ông đã để lại rất nhiều tác phẩm tiêu biểu, nổi bật trong đó có bài thơ Tây Tiến.

Một trong số những yếu tố làm nên nét nổi bật trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng chính là cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng . Nhờ hai nguồn cảm hứng như vậy mà Quang Dũng thành công trong việc xây dựng hình ảnh người lính lãng mạn mạn mà vẫn đậm chất bi tráng.

Đoàn quân Tây Tiến thành lập năm 1947 với nhiệm vụ là phối hợp với bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Việt-Lào bao gồm phần lớn là thanh niên Hà Nội. Làm đại đội trưởng ở đó đến cuối năm 1948 thì Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác.

Nhà thơ nhớ về đơn vị cũ nên viết bài thơ này ở Phù Lưu chanh. Có lẽ chính vì vậy mà nỗi nhớ về đoàn quân Tây Tiến, về những tháng ngày làm việc cùng với biết bao anh em khiến cho nhà thơ nuôi dưỡng cho mình trạng thái cảm xúc mãnh liệt trong những vần thơ và hình ảnh thơ trong bài.

Cảm hứng là sợi chỉ đỏ xuyên suốt một tác phẩm thể hiện đồng thời suy nghĩ, tình cảm mãnh liệt của người viết từ đó nó trở thành một vũ khí vô hình tác động không nhẹ đến người đọc. Cảm hứng lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến được thể hiện trong việc hướng tới những cái đẹp, những cái lạ, những cái khác thường trong cuộc sống hàng ngày hay tô đậm cái phi thường và ấn tượng mạnh mẽ về những cái phi thường.

Cảm hứng lãng mạn trước hết được thể hiện qua những câu thơ miêu tả về thiên nhiên vùng núi Tây Bắc. Cảnh vật thiên nhiên trong nỗi nhớ của Quang Dũng là hiện thực cuộc sống đó là sự khắc nghiệt hoang sơ, dữ dội. Nhưng qua cách viết của tác giả thì trước thực tế như vậy, người lính vẫn luôn cảm nhận được sự thơ mộng của cảnh vật trong trạng thái lạc quan, yêu đời.

Từ nỗi nhớ mở đầu về dòng sông Mã, nhà thơ nhớ về chặng đường hành quân. Trước tiên đó là hình ảnh màn sương dày đặc lạnh buốt che lấp mỗi bước đi của đoàn quân khiến cho họ trở nên mệt mỏi “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi”. Hay đó là hình ảnh dốc núi quanh co, hiểm trở:

Bên cạnh việc sự thực khắc nghiệt của cuộc sống được tô đậm thì nhà thơ Quang Dũng cũng tái hiện lại những chi tiết hình ảnh mượt mà nhẹ nhàng và đầy màu sắc của trí tưởng tượng bay bổng. Đó là hình ảnh “Mường Lát hoa về trong đêm hơi”. Đi qua địa danh Mường Lát vào ban đêm họ như thấy mùi hương hoa theo về, đi trong màn sương dày đặc lạnh buốt mà tưởng như trong một đêm hơi bồng bềnh, huyền ảo.

Có lẽ chính sự tưởng tượng và cảm hứng lãng mạn đã tạo nên một chi tiết vô cùng thi vị và nên thơ dành cho người lính Tây Tiến. Không chỉ vậy nét thơ mộng của cảnh vật tiếp tục được tái hiện ở câu thơ “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” câu thơ chỉ toàn thanh bằng khiến cho chúng ta cảm nhận được một cảm giác bình yên nhẹ nhàng và thoải mái.

Chúng ta có thể hình dung ra một khung cảnh thơ mộng khi người lính sau một chặng đường vất vả vượt dốc cao có thể dừng chân bên trên dốc núi phóng tầm mắt nhìn ra xa để để ngắm nhìn một không gian mịt mù sương núi. Không dừng lại ở đó, vẫn dưới cái nhìn của một tâm hồn nhạy cảm, thiên nhiên Tây Bắc tiếp tục được tái hiện trong những vần thơ miêu tả cảnh sông nước:

Đây là cảnh thiên nhiên vào một buổi chiều ở Châu Mộc có sương giăng mắc bảng lảng, mơ hồ với dòng sông thi vị nên thơ và bến bờ hoang dại với cả những hồn lau. Trên nền thiên thiên này nổi bật lên hình ảnh con người, dáng đứng trên độc mộc. Đó là dáng đứng đẹp, khỏe khoắn, hùng dũng và hiên ngang của con người Tây Bắc.

Những câu thơ trên cũng cho thấy sự đối lập giữa cái dữ dội của thiên nhiên (dòng nước lũ) với sự mềm mại tươi mát của hoa đong đưa. Những cánh hoa như có cảm xúc biết làm duyên làm dáng bên dòng nước… Chỉ bằng vài nét gợi tả Quang Dũng đã khắc họa được một bức tranh phong cảnh với vẻ đẹp huyền ảo, xa xăm và thơ mộng cho thiên nhiên Tây Bắc.

Không chỉ thiên nhiên, cảm hứng lãng mạn còn được thể hiện ở hình ảnh người lính Tây Tiến – những thanh niên của tuổi trẻ Hà thành đầy phong lưu, nhiệt huyết. Điều này thể hiện ở cách nhìn của người lính đối với thiên nhiên.

Có thể thấy, cảm hứng lãng mạn và bi tráng luôn đi liền với nhau trong suốt tác phẩm. Nhờ có hai nguồn cảm hứng như vậy mà Quang Dũng đã có thể tạc nên bức tượng đài bất tử về người lính trên nền thiên nhiên với nhiều màu sắc đẹp đẽ. Cả nội dung và nghệ thuật của bài thơ một lần nữa lại được in đậm.

Tóm lại, cảm hứng lãng mạn và bi tráng là hai cảm ứng độc đáo trong bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng. Chính nhờ hai nguồn cảm hứng như vậy mà Quang Dũng đã tạo nên một kiệt tác khiến cho người đọc có thể hình dung được về bức tượng đài mang tên người lính trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp yêu đời lạc quan nhưng cũng đầy kiên cường trước những khó khăn thử thách của thực tế.

SCR.VN gợi ý 💧 Phân Tích Tây Tiến Đoàn Binh Không Mọc Tóc 💧 chi tiết

Văn Mẫu Lớp 12: Phân Tích Bài Thơ Đàn Ghi Ta Của Lor

I. Mở bài:

– Giới thiệu khái quát về tác giả Thanh Thảo (những nét chính về cuộc đời, phong cách thơ Thanh Thảo…)

– Giới thiệu khái quát về bài thơ Đàn ghi ta của Lor – ca (hoàn cảnh ra đời, những nét chính về nội dung và nghệ thuật….)

II. Thân bài:

1. Ý nghĩa nhan đề và lời đề từ

a. Nhan đề

Đàn ghi ta là biểu tượng cho tình yêu của Lor – ca đối với đất nước Tây Ban Nha, cho con đường nghệ thuật của tác giả, cho khát vọng cao cả mà Lor – ca nguyện phấn đấu suốt đời

b. Lời đề từ:

– Hãy chôn tôi với cây đàn – phần hồn của đất nước Tây Ban Nha → tình yêu Tổ quốc nồng nàn.

– Hãy chôn tôi với cây đàn – biểu trưng cho sự nghiệp của Lor-ca → ước nguyện suốt đời theo đuổi sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật, mong muốn xóa bỏ ảnh hưởng của bản thân để dọn đường cho thế hệ sau vươn tới.

2. Hình ảnh Lor – ca, người nghệ sĩ tự do với khát vọng cách tân nghệ thuật:

– “Tiếng đàn bọt nước”: hình ảnh tượng trưng, từ thính giác chuyển sang thị giác, tạo sự lạ hóa. Qua đó, gợi sự sáng tạo mong manh, ngắn ngủi, tan vỡ đột ngột nhưng sinh sôi bất tận

– “Áo choàng đỏ gắt”: hình ảnh thực, tượng trưng thể hiện đấu trường quyết liệt, nơi người nghệ sĩ đang đương đầu với những thế lực tàn bạo, hà khắc

– Trên con đường đấu tranh cho tụ do và cái mới, người nghệ sĩ luôn phải hành trình cô đơn, đơn độc: lang thang, miền đơn độc, yên ngựa mỏi mòn, vầng trăng chếnh choáng…

– “li la li la li la”: nghệ thuật láy ấm, gợi hợp âm của tiếng đàn

⇒ Vẻ đẹp của Lor-ca, một người nghệ sĩ luôn khao khát cách tân nghệ thuật.

3. Cái chết đầy bi phẫn của Lor-ca

– Hình ảnh đối lập: hát nghêu ngao – áo choàng bê bết đỏ, tượng trung cho sự đối lập giữa khát vọng tự do của người nghệ sĩ với những thế lực phát xít tàn bạo

– Nghệ thuật hoán dụ:

+ Tiếng đàn: cuộc đời của Lor-ca

+ Áo choàng bê bết đỏ: cái chết của Lor-ca

– “tiếng ghi ta ròng ròng máu chảy”: nghệ thuật nhân hóa

– Ẩn dụ tiếng đàn thành màu sắc, hình khối khi miêu tả âm tanh tiếng đàn

→ Hệ thống hình ảnh vừa mang tính tả thực vừa mang ý nghĩa biểu tượng, ẩn dụ, qua đó, tác giả thể hiện cái chết đầy bi thảm của Lor-ca

4. Niềm thương xót Lor-ca và suy tư về cuộc giải thoát, giã từ của Lor-ca

a. Niềm thương xót Lor-ca

– “Tiếng đàn”: ẩn dụ cho nghệ thuật của Lor-ca, tình yêu con người, tình yêu tự do mà ông suốt đời theo đuổi

– “Không ai chôn chất tiếng đàn”: sức sống mãnh liệt cảu tiếng đàn

– So sánh “tiếng đàn như cỏ mọc hoang”:

+ Xót thương cho cái chết của một thiên tài, cho con đường cách tân nghệ thuật còn giang dở

+ Cái đẹp không thể bị hủy diệt

– Hình ảnh so sánh, tượng trưng:

+ Giọt nước mắt: cảm thông, uất hận

+ Vầng trăng: tượng trưng cho cái đẹp, cho nghệ thuật của Lor-ca

→ Cấu trúc gián đoạn, bày tỏ sự xót thương, trân trọng, niềm tin của tác giả vào sự bất tử của Lor-ca

b. Suy tư về cuộc đời và sự giải thoát của Lor-ca

– Nghệ thuật đối lập chỉ sự ngắn ngủi, số phận bé nhỏ của con người trước cuộc sống vô tận: đường chỉ tay đã đứt – dòng sông rộng vô cùng

– Hành động:

+ Ném lá bùa vào vào xoáy nước

+ Ném trái tim vào cõi lặng im

→ Sự giã từ và giải thoát, một sự lựa chọn

– Li a li a li a: tiếng ghi ta bất tử dùng người nghệ sĩ đã chết, có thể là vòng hoa tử đinh hương viếng linh hồn Lor-ca.

III. Kết bài:

– Khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ

+ Nội dung: Qua bài thơ, tác giả thể hiện nỗi đau và sự xúc động sâu sắc trước cái chết bi thảm của nghệ sĩ Lor-ca – một nghệ sĩ khao khát tự do, dân chủ, luôn mong muốn sự cách tân nghệ thuật và nghệ thuật đi tới không ngừng

+ Nghệ thuật: thể thơ tự do, sửu dụng hình ảnh tượng trưng siêu thực, giàu ý nghĩa biểu tượng,…

– Cảm nhận về bài thơ: Đây là bài thơ giàu chất suy tư, mãnh liệt, phóng túng trong xúc cảm, thể hiện sự xót thương trước cái chết bi thảm của Lor – ca thiên tài, là thông điệp, khát khao cách tân nghệ thuật của Thanh Thảo

Thanh Thảo nhà thơ của những suy tư, trăn trở về các vấn đề xã hội, thơ ông giàu chất suy tư, triết lí. Đàn ghi-ta của Lor-ca là một trong những bài thơ như vậy. Đây có thể coi là tác phẩm để đời trong sự nghiệp thơ ca của Thanh Thảo.

Tác phẩm được sáng tác năm 1979, nó là kết tinh từ niềm thương xót vô hạn cũng như sự cảm phục, trân trọng và ngưỡng mộ của Thanh Thảo dành cho Lor-ca. Bài thơ nhanh chóng gây được tiếng vang lớn trong văn học Việt Nam nhờ nội dung đầy tính nhân văn và hình thức nghệ thuật thơ hết sức sáng tạo, mới mẻ.

Thanh Thảo đã đặt cho tác phẩm của mình một nhan đề giản dị nhưng giàu ý nghĩa. Đàn ghi-ta không chỉ là nhạc cụ truyền thống của Tây Ban Nha mà còn được coi là biểu tượng cho nền nghệ thuật ở đất nước này. Còn Lor-ca là nhà thơ, nhạc sĩ, họa sĩ, nhà viết kịch nổi tiếng người Tây Ban Nha, là người đã khởi xướng và thúc đẩy mạnh mẽ những cách tân trong các lĩnh vực nghệ thuật. Với nhan đề này, Thanh Thảo ngầm khẳng định Đàn ghi ta của Lor-ca là biểu tượng cho những cách tân nghệ thuật của người nghệ sĩ thiên tài Lor-ca. Nhan đề đã hé mở hình tượng nghệ thuật trung tâm của bài thơ.

Thanh Thảo đã sử dụng một câu thơ đồng thời cũng là tâm nguyện của Lor-ca trước khi chết để làm lời đề từ cho bài thơ của mình. Lời để từ đã thể hiện tình yêu nghệ thuật say đắm của Lor-ca. Đồng thời cũng khẳng định tình yêu tha thiết của Lor-ca với quê hương đất nước. Không chỉ có vậy, lời để từ còn thể hiện quan điểm đầy tính nhân văn trong sáng tạo nghệ thuật. Lor-ca hiểu rằng những cách tân nghệ thuật của mình đến một lúc nào đó là sẽ chướng ngại ngăn cản những người đến sau sáng tạo. Bởi vậy, ông đã căn dặn thế hệ sau phải biết chôn vùi nghệ thuật của ông để đi tới và bước tiếp.

Mở đầu tác phẩm Lor-ca xuất hiện cùng với tiếng đàn bọt nước:

Tiếng đàn không chỉ đơn thuần là âm thanh của tiếng ghi ta mà nó còn gợi ra sự nghiệp nghệ thuật đồ sộ, giàu giá trị của Lor-ca, đồng thời đây cũng chính là tiếng lòng của người nghệ sĩ, gửi gắm lại cho hậu thế. Hình ảnh bọt nước cũng là hình ảnh hết sức đặc sắc, gợi cái đẹp lung linh, gợi sự tan biến vào mênh mông, sự tồn tại mong manh, ngắn ngủi… Một câu thơ nhưng có đến hai hình ảnh biểu tượng, nó vừa gợi ra vẻ đẹp trong cảm hứng sáng tạo nghệ thuật, vừa cho thấy số phận mong manh ngắn ngủi, đầy bi kịch của người nghệ sĩ thiên tài Lor-ca.

Câu thơ thứ hai, nhắc trực tiếp đến quê hương của người nghệ sĩ Lor-ca. Gắn liền với địa danh Tây Ban Nha- với hình ảnh Lor-ca là hình ảnh “áo choàng đỏ gắt” mang nhiều nét nghĩa: trước hết về nghĩa thực, gợi ra phông nền văn hóa của đất nước Tây Ban Nha với những trận đấu bò tót nổi tiếng, đẫm máu; nhưng đồng thời cũng gợi nhắc chúng ta đến tính chất dữ dội của một đấu trường đặc biệt- đấu trường chính trị và đấu trường nghệ thuật. Nếu như câu thơ đầu gợi ra vẻ đẹp bi kịch cũng như sinh mệnh ngắn ngủi của người nghệ sĩ, thì câu thơ sâu đã khắc họa sứ mệnh cao cả của người nghệ sĩ. Âm thanh tiếng đàn li la li la vang vọng trong không gian để đưa người đọc đến với hành trình vươn tới lí tưởng của người nghệ sĩ:

Hành trình vươn đến lí tưởng là hành trình hết sức gian nan, chất chứa cả sự cô đơn, không có điểm dừng. Đây cũng chính là hành trình của Lor-ca trên con đường sáng tạo nghệ thuật. Hành trình ấy tuy có nhiều khó khăn, nhưng đó là hành trình đẹp đẽ. Vầng trăng vốn là biểu tượng nghệ thuật, điều đó cho thấy cái mà Lor-ca hướng đến không phải cuộc sống xa hoa hưởng lạc, mà là tình yêu, niềm đam mê mãnh liệt cho nghệ thuật. Trên hành trình vươn tới lí tưởng trong một thế giới bạo tàn, hình ảnh Lor-ca hiện lên vừa đáng ngưỡng mộ vừa khiến người đọc không khỏi xót thương.

Không đi sâu vào từng tiểu tiết cuộc đời Lor-ca, Thanh Thảo nhấn đậm ngòi bút vào cái chết bi tráng của chàng. Bốn câu thơ đầu là sự đối lập giữa sống và chết:

Sự sống ở đây chính là Tây Ban Nha với điệu hát nghêu ngao, không gian phóng khoáng, tự do, Lor-ca hiện lên hết sức đẹp đẽ trong khung ảnh đó. Nhưng phía bên kia lại là hiện thực kinh hoàng, là cái chết đẫm máu của người nghệ sĩ tài hoa. “bỗng kinh hoàng” cho thấy sự thảng thốt, hốt hoảng, không thể tin rằng Lor-ca đã bị cái xấu, cái ác bức hại. Cùng với đó là cảm xúc xót thương, căm phẫn đến tận cùng. Lor-ca hiện lên hết sức đáng thương trong bạo lực tàn ác của chế độ độc tài. Trước cái chết ấy, Lor-ca như người mộng du: “Lor-ca bị điệu về bãi bắn/ chàng đi như người mộng du”. Câu 5 là kiểu câu bị động với những thanh trắc là hai dấu nặng đặt cạnh nhau gợi ấn tượng nặng nề, trĩu nặng về cái chết. Nhưng câu 6 lại là kiểu câu chủ động với những thanh bằng liên tiếp đã cho thấy hình ảnh Lor-ca nhanh chóng lấy lại thăng bằng và thái độ chủ động để đi từ hành trình kết thúc sự sống vật chất đến hành trình khởi đầu sự sống tinh thần bất tử.

Lor-ca đã hi sinh nhưng những kẻ thất bại lại chính là bè lũ phát xít. Bởi chúng chỉ có thể hủy diệt được thân xác của Lor-ca nhưng không thể hủy diệt được sức sống của anh. Điệp khúc tiếng ghi ta lần lượt xuất hiện, mỗi âm điệu vang lên lại mang nhưng ý nghĩa khác nhau: Tiếng ghi ta nâu- bầu trời cô gái ấy: Tiếng ghi ta tấu lên khúc ca về tình yêu của Lor-ca dành cho quê hương, nghệ thuật, con người, lí tưởng…; Tiếng ghi ta lá xanh biết mấy/ Tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan: Tiếng ghi ta tấu lên khúc ca về vẻ đẹp cũng như nỗi đau của Lor-ca; Tiếng ghi ta ròng ròng- máu chảy: Tiếng ghi-ta được đẩy đến độ cao trào của sự bi phẫn. “tiếng ghi ta” là điệp khúc, đều đặn vang lên 4 lần trong nhịp thơ dồn dập, gửi gắm những tình cảm, tâm sự, nỗi niềm chất chứa của Lor-ca còn mãi vang vọng với hậu thế, như khẳng định sức sống bất diệt của Lor-ca.

Mười ba câu thơ cuối cùng là những suy tư của tác giả về cuộc đời, sự nghiệp và sự ra đi của Lor-ca. Tiếng đàn là biểu tượng của nghệ thuật, là biểu tượng cho lí tưởng đấu tranh vì những điều tốt đẹp của Lor-ca bởi vậy không ai nỡ “chôn cất tiếng đàn”. Bởi vậy, Thanh Thảo đã so sánh tiếng đàn như cỏ mọc hoang, tức nó có sức sống mạnh mẽ, sức lan tỏa mãnh liệt, bất diệt, không gì có thể ngăn cản nổi. Dù Lor-ca hi sinh tiếng đàn của ông còn mãi với hậu thế. Cũng chính bởi vậy vầng trăng – cái đẹp, dù bị chôn vùi nơi đáy giếng vẫn tỏa rạng nơi tối tăm, lạnh lẽo, ánh sáng lí tưởng nghệ thuật không bao giờ bị vùi lấp.

Thanh Thảo đã từng viết rằng:

Đoạn thơ viết lên, không chỉ đơn thuần là công việc tỉ mẩn xâu chuỗi hạt cườm mà hơn hết nó còn là công cuộc lao động trí óc, tìm tòi và cách tân thơ ca. Cả cuộc đời Thanh Thảo là những bước trải nghiệm, thử, tìm, khám phá để cho ra đời những hình thức, nội dung nghệ thuật mới mẻ. Có thể coi tác phẩm Đàn ghi ta của Lor-ca là mốc đánh dấu cách tân thành công đầu tiên của ông.

Có thể thấy rằng Đàn ghi ta của Lor-ca là một bài thơ giàu nhạc tính nhất. Để tạo nên những âm thanh, tính nhạc trong tác phẩm của mình Thanh Thảo đã vận dụng, phối hợp rất nhiều yếu tố khác nhau: trùng điệp, thể thơ, nhịp điệu,… Chính cái nhịp điệu này là yếu tố đã góp phần tạo nên cái hay, cái mới mẻ, hấp dẫn cho toàn bộ bài thơ.

Trước hết, khi lựa chọn thể thơ, Thanh Thảo đã lựa chọn thể thơ tự do với những câu thơ dài ngắn khác nhau giúp ông thỏa sức thể hiện những cung bậc tình cảm, cảm xúc của bản thân. Có thể để cho trí tưởng tượng của mình vươn cao, vươn xa hơn.

Bài thơ mở đầu bằng tiếng đàn đầy ngân nga, tha thiết:

và đồng thời để chuỗi âm thanh đó ngân mãi, vang mãi kết lại bài thơ, âm thanh li-la li-la li-la, cũng là âm thanh khép lại bài thơ. Dù câu chữ đã khép lại, nhưng âm điệu, ý nghĩa của nó vẫn còn vang vọng mãi trong lòng bạn đọc.

Không chỉ vậy, tính nhạc của bài thơ còn được thể hiện trong hình thức trùng điệp của cấu trúc câu:

Tiếng ghi ta lặp đi lặp lại xoáy vào tâm can người đọc, trở thành nỗi ám ảnh khôn nguôi. Tiếng ghi ta nâu, là nâu của đất hay chính là màu sắc của chúng; tiếng ghi ta lá xanh là biểu tượng của xuân thì tươi sắc, hãy là những âm thanh rộn vang của cuộc song; rồi lại đến tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan. Câu thơ ấy có thể hiểu tiếng ghi-ta mong manh như chính số phận của người nghệ sĩ. Dù nó mang trong mình cái vẹn nguyên, tròn đầy nhưng lại bị các thế lực chà đạp, hủy diệt, vùi dập. Tiếng ghi ta cũng chính là biểu tượng cho số phận người nghệ sĩ bất hạnh phải sống dưới chế độ độc tài tàn ác. Những câu thơ dài ngắn khác nhau, khi dãn cách, khi dồn dập, đặc biệt là câu thơ cuối cùng chỉ còn lại hai chữ “máu chảy” cho thấy số phận bị kịch và bất hạnh đến tột cùng của người nghệ sĩ.

Đồng thời Thanh thảo cũng rất khéo léo khi sử dụng âm thanh đầy tính tượng thanh “li-la li-la li-la” đề từ đó gợi nên âm hưởng réo rắt vang vọng trong toàn bộ bài thơ. Nếu như âm thanh đó mở đầu bài thơ kể về cuộc đời đầy tài hoa và bạc mệnh của người nghệ sĩ Lor-ca thì kết thúc bài thơ âm vang đó vẫn vang vọng, để người ta không thôi khắc khoải về người nghệ sĩ đó, để từ đó rút ra những bài học chân chính về nghệ thuật, về cuộc đời. Có thể thấy chất nhạc trong tác phẩm này được sử dụng hết sức thành công vừa diễn tả, ngợi ca được người nghệ sĩ với cây đàn – người bạn của mình, đồng thời còn tạo ra những dư âm vang vọng lòng người.

Không chỉ là một bài thơ giàu tính nhạc, mà tác phẩm còn giàu chất tạo hình, với những hình ảnh giàu tính biểu tượng, đặc biệt là hình ảnh tiếng đàn. Tiếng ghi ta được Thanh Thảo ghi lại dưới nhiều hình ảnh, dạng thức khác nhau: là Tiếng ghi ta nâu- bầu trời cô gái ấy khi nó tấu lên khúc ca về tình yêu của Lor-ca dành cho quê hương, nghệ thuật, con người, lí tưởng…; Tiếng ghi ta lá xanh biết mấy tràn đầy niềm tin và hi vọng cách tân nghệ thuật; nhưng tiếng ghi ta cũng đầy đau đớn, phẫn uất: Tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan/ Tiếng ghi ta ròng ròng- máu chảy. Đến đây tiếng ghi ta đã bị đẩy đến cao trào của sự bi phẫn đau thương. Cả cuộc đời người nghệ sĩ Lor-ca hi sinh cho thứ nghệ thuật chân chính, trác tuyệt. Và đến cuối đời ông cùng thứ nghệ thuật cáo cả đẹp đẽ của mình đã bị chế độ độc tài tiêu diệt không chút xót thương. Tiếng đàn là biểu tượng, là cuộc đời nghệ thuật đầy bi tráng của Lor-ca.

Advertisement

Bên cạnh đó cũng có một số hình ảnh biểu tượng đáng chú ý khác như: “giọt nước mắt vầng trăng/ long lanh trong đáy giếng”. Hình ảnh vừa thực lại vừa có chút gì đó huyền ảo. Khi Lor-ca bị xử bắn, phe phát xít đã quăng ông xuống giếng. Nhưng đồng thời cũng gợi cho chúng ta liên tưởng dường như thứ nghệ thuật ông để lại (ánh trăng) sẽ mãi mãi không mất đi mà long lanh tỏa rạng.

Thanh Thảo thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nhưng đã tạo được giọng điệu riêng ngay từ khi trình làng thi phẩm đầu tiên “Dấu chân qua trảng cỏ” rồi đến “Những người đi tới biển” sau đó là “Khối vuông ru-bích”. Ông luôn tìm tòi khám phá sáng tạo tìm cách biểu đạt mới qua hình thức câu thơ tự do đem đến một mĩ cảm hiện đại cho thơ bằng thi ảnh và ngôn từ mới mẻ. Đàn ghi ta của Lor-ca là bài thơ tiêu biểu cho kiểu tư duy sáng tạo ấy.

Thanh Thảo mở đầu bài thơ bằng chính di nguyện của Lor-ca “Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn”. Đây là một di nguyện vừa thiêng liêng vừa cao thượng. Anh không muốn suốt đời là cái bóng ngăn cản sự phát triển của những tài năng trẻ của đất nước mình. Đây chính là cái tâm của người nghệ sĩ lớn suốt đời hi sinh cho nghệ thuật và đấu tranh chống phát xít bạo tàn. Về một ý nghĩa khác Đàn ghi ta đã gắn với giây phút cuối cùng của cuộc đời Lor-ca. Cái chết của người nghệ sĩ ấy và những phẩm chất tài năng của anh đã bắt gặp hồn thơ Thanh Thảo làm nên thi phẩm tuyệt bút này.

Bài thơ có lối diễn đạt không viết hoa đầu dòng tạo nên một sự liền mạch như một dòng chảy của cảm xúc không có điểm dừng. Sự tài hoa của Thanh Thảo còn làm ta liên tưởng bài thơ như một bản đàn ngân vang với âm thanh “li-la” mênh mang dìu dặt vút cao chắp cánh đưa người nghệ sĩ bay vút lên trên tất cả bạo tàn và chết chóc.

Những câu thơ mở đầu giàu sức gợi mang đến một trường liên tưởng về một đất nước đẹp tươi với tiếng ghi ta làm mê say lòng người những vũ nữ Di-gan với làn da rám nắng và vũ khúc Flamenco cháy bỏng những trận đấu bò rực lửa và danh dự của người kiếm sĩ và không thể thiếu những miền thảo nguyên bao la xanh bóng nắng. Giữa nắng và gió giữa bao la thiên địa Lor-ca hiện lên ngời sáng trong thơ. Sự chuyển đổi cảm giác từ thính giác sang thị giác tạo nên “tiếng đàn bọt nước” đầy biến ảo khi tròn to khi phập phồng thổn thức khi vỡ ra tức tưởi như một “thiên bạc mệnh” có tính dự báo về những chông gai trắc trở mà số phận người nghệ sĩ sẽ phải đón nhận ở phía trước. Và màu “áo choàng đỏ gắt” tiếp theo sau tiếng đàn bọt nước ấy chính là những trận đấu bò sinh tử. Nhưng đấu trường bò tót ngay trong sự chuyển gam của Thanh Thảo đã trở thành một đấu trường chính trị khổng lồ ngột ngạt căng thẳng đẫm máu của Tây Ban Nha thời đó. Màu áo của kiếm sĩ “đỏ gắt” lên hay nền chính trị độc tài thân phát xít đang thiêu đốt tự do dân chủ và kiềm hãm sự phát triển của một nền nghệ thuật đang già cỗi. Đây là một trận chiến lớn giữa một bên là khát vọng dân chủ của nhân dân nói chung của Lor-ca nói riêng với nền chính trị độc tài. Xét trong lĩnh vực nghệ thuật đó là cuộc xung đột giữa khát vọng cách tân của nhà thơ với nền nghệ thuật già nua. Xét ở phương diện nào thì Lor-ca cũng là một chiến sĩ đơn độc đáng thương.

…………..

Cập nhật thông tin chi tiết về 12 Bài Thơ Hay Của Nhà Thơ Phạm Tiến Duật trên website Tdhj.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!